Dân chủ hóa thời Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa : Bài học nào cho hôm nay? (Hoàng Dạ Lan)

Đợt bão lũ vừa qua tại các tỉnh Trung Bộ đã phơi bày nhiều điểm yếu mang tính hệ thống của bộ máy chính trị: từ dấu hiệu lợi ích nhóm trong quá trình phê duyệt các dự án thủy điện, đến những bất cập của việc sắp xếp lại đơn vị hành chính, qua đó bộc lộ năng lực hạn chế của chính quyền trong công tác cảnh báo và cứu hộ thiên tai. 

Đồng thời, việc một đảng nắm quyền tuyệt đối làm suy yếu các cơ chế kiểm soát quyền lực, đẩy nhà nước ngày càng trượt sâu vào mô hình công an trị. Trong khi đó, giới lãnh đạo chóp bu, cụ thể là phe quân đội và phe công an, tiếp tục chìm trong cuộc chiến tranh chấp quyền lực.

Không có báo chí độc lập, người dân không thể tiếp cận thông tin khách quan về thảm họa, cũng như không thể biết chính xác mức độ thiệt hại về nhân mạng và tài sản. 

Không có bầu cử tự do và cạnh tranh, vận mệnh chính trị của lãnh đạo không gắn liền với sự hài lòng và chất lượng cuộc sống của người dân. Điều này làm suy giảm động lực phụng sự và khiến trách nhiệm giải trình trước xã hội trở nên mờ nhạt.

Thêm vào đó, không gian xã hội dân sự bị hạn chế dẫn đến sự thiếu vắng các tổ chức chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp có khả năng hỗ trợ chính quyền trong công tác phòng ngừa, ứng phó và cứu trợ sau thiên tai.

Như trường hợp của Hoa Kỳ sau thảm họa bão Katrina năm 2005 cho thấy vai trò của cơ chế trách nhiệm trong một nền dân chủ. Cơ quan Quản lý Tình trạng Khẩn cấp Liên bang (FEMA) đã hứng chịu chỉ trích gay gắt vì phản ứng chậm chạp và yếu kém, dẫn đến việc Giám đốc FEMA khi đó, Michael Brown, phải từ chức. Uy tín và mức độ ủng hộ đối với Tổng thống George W. Bush cũng sụt giảm đáng kể sau thảm họa. [1]

Quốc hội Hoa Kỳ cũng nhanh chóng thành lập một ủy ban lưỡng viện để điều tra trách nhiệm của chính quyền cấp địa phương, cấp tiểu bang và liên bang trong công tác chuẩn bị và ứng phó với bão Katrina. [2]Dù không hoàn hảo, mô hình dân chủ của Hoa Kỳ vẫn tạo ra không gian cho phản biện xã hội và gắn sinh mệnh chính trị của lãnh đạo với sự hài lòng của người dân.

Ngược lại, mô hình độc đảng tại Việt Nam tước đi quyền lựa chọn lãnh đạo của người dân, khiến trách nhiệm chính trị trở nên mờ nhạt và tập quán tự nguyện từ chức vì quản lý yếu kém gần như không tồn tại.

Tuy chưa thể xác định thời điểm hay những sự kiện cụ thể nào sẽ thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa thực sự diễn ra, nhưng việc nghiên cứu và chuẩn bị các mô hình chính thể là điều thiết yếu, giúp chúng ta chủ động định hướng tương lai của đất nước. Người viết hy vọng các độc giả và nhà nghiên cứu sẽ tham gia thảo luận đa chiều nhằm tìm ra phương án thể chế phù hợp nhất cho Việt Nam trong tương lai.

Bài viết này là phần kết cho chuỗi bài viết về kinh nghiệm dân chủ hóa của Đệ nhị Cộng hòa ở miền Nam (1967-1975). Phần tiếp theo là ý kiến của cá nhân người viết trả lời cho câu hỏi Việt Nam nên chọn mô hình đại nghị hay tổng thống.

So sánh cộng hòa đại nghị (parliamentary democracy) và cộng hòa tổng thống (presidential democracy). Ở chế độ đại nghị, cử tri bầu ra cơ quan lập pháp (legislative), và cơ quan này tiếp tục chọn ra cơ quan hành pháp (executive). Ở mô hình tổng thống, công dân trực tiếp bầu ra cả cơ quan lập pháp lẫn hành pháp. Nguồn ảnh: quizlet.com.

Thách thức trong xây dựng hệ thống chính đảng

Nguyễn Tôn Hoàn, lãnh đạo Đại Việt Quốc Dân Đảng; từng giữ chức Phó Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa năm 1964. Nguồn ảnh: virtual-saigon.net.

Nhìn lại lịch sử và rút kinh nghiệm từ những nỗ lực dân chủ hóa trước đây sẽ giúp chúng ta tránh lặp lại những sai lầm trong quá trình đấu tranh cho dân chủ hiện nay, vốn đang và sẽ phải đối diện với nhiều thách thức. Và nền Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa là một trường hợp cần được xem xét một cách kỹ càng, nghiêm túc.

Như đã đề cập ở kỳ trước, từ ngày 1/11/1963 đến tháng 5/1964, miền Nam có 33 đảng hoạt động hợp pháp. Sau khi Quy chế Chánh đảng và Đối lập chính trị được ban hành vào tháng 6/1969, có 24 chính đảng được hợp thức hóa và ba chính đảng được cấp phái lai (tức giấy phép tạm thời). Dù hệ thống đảng phái thời Đệ nhị Cộng hòa còn non yếu và phân tán, ít ra họ vẫn “có bột để gột nên hồ”, có nền tảng đa đảng ban đầu để phát triển nền chính trị đa nguyên.

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy (ở giữa), người sáng lập Đảng Tân Đại Việt và là lãnh đạo Phong trào Quốc gia Cấp tiến. Nguồn: virtual-saigon.net.
Vũ Hồng Khanh (trái), một lãnh đạo của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Năm 1946, ông tham gia Chính phủ Liên hiệp do Hồ Chí Minh đứng đầu, nhưng sau đó phải rời bỏ miền Bắc khi Việt Minh tiến hành đàn áp các đảng phái quốc gia. Giai đoạn 1954–1975, ông lãnh đạo một hệ phái của VNQDĐ tại miền Nam. Nguồn: virtual-saigon.net.

Ngược lại, ngày nay, do sự kìm kẹp của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị phi cộng sản của người Việt phần lớn chỉ hoạt động ở nước ngoài, khó lòng bám rễ vào tạo ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Vì vậy, khi nước ta dân chủ hóa, một trong những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn chuyển đổi là xây dựng hệ thống chính đảng mạnh, có chương trình hành động rõ ràng và khả năng đại diện cho tiếng nói và nguyện vọng của quần chúng.

Nhưng vì sao nhất định phải cần đến đa nguyên, đa đảng? Câu trả lời tưởng không thể hiển nhiên hơn: vì xã hội vốn đa dạng, với vô số cộng đồng phân biệt nhau bằng sắc tộc, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, quan điểm chính trị, v.v. Chưa kể, ngay trong cùng một gia đình, mỗi cá nhân có thể khác nhau về tư tưởng, chí hướng, lập trường… Lẽ tất nhiên, không thể o ép mọi cái khác biệt ấy vào trong một khuôn khổ ý thức hệ duy nhất.

Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc với 54 tộc người được công nhận chính thức. Người Kinh chiếm khoảng 85-86% dân số, trong khi các tộc người thiểu số, như Tày, Thái, Mường, Khmer, H’Mông, Dao, v.v. chủ yếu sinh sống ở các vùng núi và khu vực biên giới. Ngay cộng đồng người Kinh cũng không phải một khối đồng nhất, mà tồn tại sự đa dạng về văn hóa và quan niệm sống. 

Trong bối cảnh dân chủ, những khác biệt này được phản ánh thông qua sự hình thành của nhiều đảng phái đại diện cho các lợi ích và hệ tư tưởng khác nhau. Thực tế lịch sử Việt Nam thế kỷ 20 cho thấy các đảng phái phi cộng sản từng tồn tại trên khắp cả nước, hoạt động ở cả Bắc, Trung và Nam. Vì thế, việc coi đa đảng là hiện tượng “ngoại lai”, “phản động” hay sao chép máy móc mô hình phương Tây là cách nhìn phiến diện, bởi nó đã bỏ qua truyền thống chính trị đa dạng vốn có của Việt Nam.

Vậy giữa chế độ tổng thống và đại nghị, cái nào tạo nhiều thuận lợi hơn cho sự phát triển của chính đảng?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể tham khảo mô hình chính thể của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa. Trong mô hình này, tổng thống và quốc hội được bầu tách biệt với nhiệm kỳ cố định, khiến chúng không phụ thuộc vào nhau để tồn tại.

Đệ nhị Cộng hòa, vốn không có hệ thống chính đảng mạnh, đã gặp nhiều khó khăn khi áp dụng tam quyền phân lập. Điều này thể hiện qua quan sát của tác giả Trần Việt Long trong Tập san Quốc phòng, xuất bản vào tháng 3/1972 như sau:

“Chế độ phân quyền cứng nhắc ngày nay đã trở nên lỗi thời. Hiến pháp VNCH sau khi quy định sự phân quyền và phân nhiệm lại còn đòi hỏi ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung. Sự phối hợp và điều hòa giữa hai cơ quan hành pháp và lập pháp phải dựa vào nền tảng chính đảng. Thiếu chính đảng làm mối liên lạc cơ cấu giữa hai bên, hành pháp và lập pháp trở thành hai cơ quan biệt lập. Giữa dân biểu và nghị sĩ với nhân viên chính phủ không có tình đồng chí, không có một chương trình chính trị chung cần thực hiện, và bênh vực chính phủ, dân biểu hay nghị sĩ có thể bị nghi ngờ là ngả theo chính phủ vì bị mua chuộc. […]

Mặt khác, vì không có một nhóm dân biểu, nghị sĩ đủ đông cộng tác chặt chẽ với mình để giúp mình trong việc biểu quyết các dự luật, tổng thống phải dùng quyền phúc nghị mới đưa ra được những đạo luật mà tổng thống thấy cần thiết cho chính sách của mình.” [3]

Rõ ràng, chế độ tổng thống vận hành kém hiệu quả khi đi kèm với một quốc hội phân mảnh và hệ thống chính đảng chưa phát triển đầy đủ. Mặc dù phân quyền giữa hành pháp và lập pháp cho phép hai nhánh kiểm soát lẫn nhau, sự phân lập này lại hạn chế việc hình thành liên minh và phát triển đảng phái. 

Thêm vào đó, ngay cả trong các nền dân chủ trưởng thành, tính chất cá nhân của chiến dịch tranh cử tổng thống có thể lấn át cuộc cạnh tranh giữa các đảng và làm mờ đi thông điệp chính sách của họ.

Để xây dựng một hệ thống đảng phái bền vững, mô hình cộng hòa đại nghị là một lựa chọn đáng cân nhắc. Trong mô hình này, chỉ khi một đảng giành được quá bán số ghế trong quốc hội mới có thể đứng ra thành lập chính phủ đa số (majority government), lãnh đạo đảng này cũng thường trở thành thủ tướng. Nếu không có đảng nào đạt đa số quá bán, đảng có nhiều ghế nhất có thể thành lập chính phủ thiểu số (minority government) hoặc buộc phải đàm phán với các đảng khác để lập chính phủ liên minh (coalition government). 

Tính chất của chính phủ vì vậy phụ thuộc trực tiếp vào tương quan sức mạnh giữa các chính đảng trong quốc hội. Điều này thúc đẩy các đảng muốn cầm quyền thì phải trưởng thành nhanh, có tổ chức và chương trình hành động rõ ràng, hấp dẫn để thu hút sự ủng hộ của cử tri.

Trong hệ thống đại nghị, chính phủ tồn tại dựa vào sự ủng hộ liên tục của nghị viện. Nếu các dự luật hoặc chương trình hành động của chính phủ bị bác bỏ, nguy cơ chính phủ mất tín nhiệm sẽ tăng cao, và nghị viện có thể phải giải tán để tổ chức bầu cử sớm. Cơ chế này cũng khiến các nghị sĩ cân nhắc kỹ lưỡng trước khi phản đối những đề xuất của chính phủ. Nhìn chung, động lực thỏa hiệp giữa hành pháp và lập pháp trong chế độ đại nghị thường mạnh hơn so với chế độ tổng thống.

Tâm lý ủng hộ “nhà lãnh đạo mạnh” của người Việt

Một thách thức khác khi Việt Nam dân chủ hóa nằm ở nhận thức chính trị của người dân. Theo khảo sát World Values Survey giai đoạn 2017-2022, có đến 84,7% người Việt Nam được hỏi cho rằng hệ thống chính trị đứng đầu bởi “một nhà lãnh đạo mạnh mẽ, không cần bận tâm đến quốc hội và bầu cử” là điều tích cực. [4]

Đây là tỷ lệ cao thứ hai trong số 66 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát, cho thấy người Việt có xu hướng ủng hộ chế độ chính trị độc đoán với lãnh đạo tập trung quyền lực.

Năm quốc gia có tỷ lệ cao nhất được tô màu đỏ cam, trong khi năm quốc gia có tỷ lệ thấp nhất được tô màu xanh dương. Con số trên biểu đồ là tổng của hai nhóm trả lời “rất tốt” (very good) và “khá tốt” (fairly good) cho câu hỏi khảo sát. Nguồn: World Values Survey Wave 7 (2017-2022).

Con số này đặt ra một vấn đề đáng lo ngại: nếu Việt Nam áp dụng mô hình tổng thống chế, cơ chế bầu trực tiếp tổng thống có thể gia tăng khả năng xuất hiện một lãnh đạo dân túy, người sẽ lợi dụng lá phiếu của cử tri để củng cố quyền lực và làm xói mòn nền dân chủ.

Trong khi đó, ở chế độ đại nghị, quyền lực của thủ tướng phụ thuộc vào ý chí của nghị viện và số ghế mà đảng của ông/bà ta chiếm giữ trong quốc hội. Nếu đảng cầm quyền chiếm đa số tuyệt đối, quyền lực của thủ tướng có thể rất lớn, như ở Vương quốc Anh. Nếu hệ thống bầu cử theo tỷ lệ được áp dụng, như ở Đức, Hà Lan, New Zealand, chính phủ liên minh thường xuất hiện, buộc thủ tướng phải chia sẻ quyền lực và thỏa hiệp với các nhóm khác trong nghị viện.

Juan Linz và những ưu thế của mô hình đại nghị

Theo Juan Linz, học giả hàng đầu về chế độ chính trị và dân chủ hóa, mô hình đại nghị có nhiều ưu thế so với mô hình tổng thống, đặc biệt là ở các nước đang chuyển đổi dân chủ. [5][6][7]

Thứ nhất, trong hệ thống đại nghị, chính phủ (gồm thủ tướng và nội các) phụ thuộc vào sự tín nhiệm của quốc hội. Nếu bất mãn với thành tích cầm quyền, quốc hội có thể thay thế thủ tướng thông qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm, giúp giải quyết khủng hoảng chính trị mà không làm gián đoạn hay sụp đổ toàn bộ hệ thống. 

Ngược lại, trong mô hình tổng thống, tổng thống thường có nhiệm kỳ cố định từ 4 đến 6 năm; việc phế truất một tổng thống tồi giữa nhiệm kỳ rất khó khăn, do các cuộc luận tội thường kém hiệu quả. Ngay cả khi thành công, việc này cũng dễ đẩy đất nước vào tình trạng bất ổn.

Thứ hai, hệ thống đại nghị trao quyền điều hành đất nước cho thủ tướng, thường là lãnh đạo đảng chiếm đa số trong quốc hội, tạo ra sự hợp quyền giữa hành pháp và lập pháp (fusion of powers), qua đó bảo đảm sự thống nhất trong việc hoạch định và thực thi các chính sách. [8]

Ngược lại, trong mô hình tổng thống, tổng thống và quốc hội được bầu chọn riêng rẽ và có thể thuộc các đảng đối lập. Ngay cả khi tổng thống và phe đa số trong quốc hội cùng thuộc một đảng, họ vẫn có thể theo đuổi những ưu tiên chính sách khác nhau. Khi bất đồng giữa hành pháp và lập pháp nảy sinh, cả hai, vốn đều do cử tri trực tiếp bầu ra, đều có thể cho rằng mình mới là đại diện chân chính cho ý chí của cử tri và do đó từ chối thỏa hiệp với nhau. [9]

Trong trường hợp mâu thuẫn không thể dung hòa, Juan Linz nhấn mạnh rằng quân đội có thể can thiệp vào tiến trình chính trị, như tình huống từng xảy ra tại một số quốc gia ở Mỹ Latinh và châu Phi. Chẳng hạn, tại Peru, Brazil và Chile, xung đột giữa tổng thống và quốc hội đã tạo điều kiện cho các tướng lĩnh quân đội lật đổ các tổng thống Fernando Belaunde, João Goulart và Salvador Allende, qua đó thiết lập các chính quyền độc tài quân phiệt. [10]

Thứ ba, trong mô hình đại nghị, dù thường có một đảng chiếm ưu thế trong quốc hội, thủ tướng vẫn phải thường phải thương lượng và xây dựng liên minh với nhiều nhóm khác nhau để điều hành chính phủ và thông qua luật. Khi mô hình đại nghị đi kèm hệ thống bầu cử theo tỷ lệ (như ở Đức), việc hình thành chính phủ liên minh gần như là điều tất yếu. Trong bối cảnh đó, lãnh đạo các đảng trong liên minh có thể nắm giữ các vị trí bộ trưởng quan trọng, nhờ đó quyền lực nhà nước được phân bổ rộng rãi giữa các nhóm.

Ngược lại, trong mô hình tổng thống, cuộc bầu cử tổng thống mang tính chất “được ăn cả, ngã về không” (winner-take-all): người thắng nắm toàn quyền điều hành đất nước trong một nhiệm kỳ cố định, có quyền bổ nhiệm các chức vụ cấp cao trong nhánh hành pháp và phủ quyết các đạo luật của quốc hội. Nội các thường bao gồm các thành viên trong đảng của tổng thống hoặc các nhà kỹ trị phi đảng phái, và rất hiếm khi có sự tham gia của các chính trị gia thuộc các đảng khác. 

Phe thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống hoàn toàn không có vai trò trong việc thành lập nội các, không thể tác động đến quá trình điều hành đất nước, và buộc phải chờ đến kỳ bầu cử tiếp theo để có thể xoay chuyển tình thế.

Tổng thống chế và những rủi ro trong xã hội bị phân hóa

Ở những xã hội bị chia rẽ về vùng miền, sắc tộc, tôn giáo, tính chất “được ăn cả, ngã về không” của cuộc bầu cử tổng thống có khả năng làm trầm trọng thêm tình trạng phân cực chính trị. 

Ví dụ điển hình cho một xã hội bị phân hóa sâu sắc bởi mâu thuẫn sắc tộc và tôn giáo là Iraq. Cơ cấu dân số của nước này gồm khoảng 55% người Hồi giáo Shia, 20% Hồi giáo Sunni, 15% người Kurd và nhiều nhóm thiểu số khác. [11] Trong giai đoạn cầm quyền, Saddam Hussein (người Sunni) đã tập trung quyền lực vào nhóm Sunni, trong khi đối xử bất công và đàn áp các nhóm khác.

Sau khi Saddam Hussein bị lật đổ vào năm 2003, một trong những câu hỏi đặt ra trong giai đoạn tái thiết Iraq là quốc gia này nên lựa chọn mô hình tổng thống hay đại nghị. Nếu Iraq áp dụng bầu cử tổng thống toàn quốc, khả năng cao là một ứng viên người Shia sẽ đắc cử do nhận được sự ủng hộ của đa số dân chúng. Vị tổng thống này có thể bổ nhiệm các quan chức cấp cao trong bộ máy hành pháp cũng là người Shia, khiến các cộng đồng Sunni và Kurd cảm thấy bị gạt ra ngoài, không được đại diện, từ đó gia tăng bất mãn và nguy cơ bùng phát bạo lực sắc tộc, tôn giáo.

Nhận biết được tính chất “được ăn cả, ngã về không” của một cuộc bầu cử tổng thống, các chuyên gia Hoa Kỳ tham gia tư vấn thiết kế thể chế cho Iraq đã không khuyến nghị nước này áp dụng mô hình tổng thống của Hoa Kỳ.

Trên thực tế, kể từ năm 2005, Iraq đã từng bước xây dựng nền cộng hòa đại nghị kết hợp phương thức bầu cử theo tỷ lệ, giúp Quốc hội phản ánh được sự đa dạng sắc tộc trong xã hội. Thủ tướng phải hợp tác với nhiều đảng phái khác nhau trong Quốc hội để hình thành liên minh và thông qua các đạo luật. Không giống như vị thế của tổng thống trong chế độ tổng thống với nhiệm kỳ cố định, việc duy trì sự ủng hộ của quốc hội và liên minh cầm quyền là yếu tố sống còn đối với thủ tướng. 

Mặc dù Iraq vẫn còn một chặng đường dài để xây dựng và củng cố các thể chế dân chủ, mô hình hiện tại được kỳ vọng sẽ đảm bảo tính đại diện và giảm thiểu xung đột giữa các nhóm sắc tộc và tôn giáo.

Ở Việt Nam, tâm lý vùng miền còn ăn sâu và có thể ảnh hưởng đến cách thức bổ nhiệm nhân sự. Giả sử đất nước có một tổng thống xuất thân từ Hưng Yên, câu hỏi đặt ra là: liệu vị lãnh đạo này sẽ lựa chọn các quan chức cấp cao trong bộ máy hành pháp dựa hoàn toàn trên năng lực hay ưu tiên những người cùng quê?

Sau khi xem xét dữ liệu từ các quốc gia hậu cộng sản, kinh nghiệm của các nước có nền quản trị tiên tiến, cùng tiến trình dân chủ hóa của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa và xu hướng chính trị của người Việt hiện nay, người viết ủng hộ mô hình đại nghị cho một Việt Nam dân chủ trong tương lai.

Quan điểm này tương đồng với lập trường của Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, cho rằng việc chọn con đường tổng thống chế có thể khiến Việt Nam chuyển từ nền độc tài đảng trị sang độc tài cá nhân. Bạn đọc có thể tham khảo các bài viết của họ tại đây: 

Tuy vậy, không có mô hình chính thể nào là hoàn hảo và chế độ đại nghị cũng có những điểm yếu. Nếu quốc hội bị phân mảnh bởi quá nhiều đảng nhỏ, việc thành lập một chính phủ ổn định sẽ trở nên khó khăn. Trường hợp của Israel là một ví dụ điển hình: từ năm 2019 đến 2022, nước này phải tổ chức tới 5 cuộc bầu cử do không thể hình thành một chính phủ đa số vững chắc. [12] Do đó, nếu Việt Nam cân nhắc áp dụng mô hình đại nghị, việc thiết kế hệ thống bầu cử phù hợp là điều tối quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của chính phủ.

Bài tiếp theo sẽ trình bày chi tiết một phương án bầu cử cho mô hình đại nghị này.

Hoàng Dạ Lan

Nguồn : Luật Khoa Tạp Chí

Việt Thắng

Việt Thắng

Báo Cáo Tù Nhân Chính Trị Việt Nam Năm 2025

Cho đến thời điểm này, Tập hợp Dân chủ Đa nguyên ghi nhận có 442…

5 giờ

Bài Học Cho Đất Nước Từ Venezuela Và Myanmar

Trong chương trình này, chúng tôi giải thích tại sao sự độc đoán của Hugo…

5 giờ

“Ngụy cơ bản” và “ngụy tinh hoa” (Nguyễn Hoàng Văn)

Dẫu sai với ý đồ “Chọn gene để đào tạo tinh hoa” để gây nên…

5 giờ

Danh sách 69 Tù nhân chính trị mãn hạn và được trả tự do trong năm 2025 và đầu năm 2026 (tính đến ngày 10/1/2026)

Ông Pastor Y Yich bị bắt giữ ngày 13/5/2013 với cáo buộc "Phá hoại chính…

13 giờ

Danh sách 442 Tù nhân chính trị đang bị giam giữ (tính đến 10/1/2026)

Danh sách 442 Tù nhân chính trị đang bị giam giữ (tính đến 10/1/2026)

13 giờ