Vì sao các cuộc không kích hiếm khi đủ để lật đổ chế độ ? (RFI)

Ngày 28/02/2026, khi mở chiến dịch không kích ồ ạt chưa từng có « Epic Furry » chống Iran và giết chết nhiều lãnh đạo cao cấp hàng đầu của nước này, Hoa Kỳ và Israel đặt ra mục tiêu rất rõ ràng : Lật đổ chế độ thần quyền có từ năm 1979.

Tuy nhiên, từ sau Thế chiến thứ II đến cuộc chiến Irak năm 2003 và gần đây nhất là chiến tranh Ukraina, lịch sử đã chứng minh rằng các cuộc không chiến không nhất thiết hiệu quả trong việc làm suy yếu một chế độ và bẻ gãy sự hậu thuẫn mà người dân dành cho chế độ đó.

Hầu hết giới chuyên gia có chung một nhận xét: Hoa Kỳ và Israel tiến hành chiến dịch không kích quy mô lớn, ngoài mục tiêu phá hủy các cơ sở hạt nhân và quân sự của Iran, còn nhằm dẫn đến việc thay đổi chế độ. Nhưng đằng sau chiến lược quân sự này là một học thuyết từ lâu đã bị bác bỏ nhưng giờ đây đang được các nhóm tân bảo thủ ở Washington hồi sinh : Huyền thoại về việc « thay đổi chế độ » bằng « ưu thế trên không », đã được vị tướng người Ý Giulio Douhet (1869 – 1930) phát triển trong những năm 1920.

Huyền thoại sáng lập : Douhet và « cuộc chiến trên không »

Tuần báo Pháp L’Express nhắc lại, vào năm 1921, trong tác phẩm nổi tiếng « Thế thống trị trên không » (Il dominio dell’aria), nhà lý luận người Ý này đã viết : « Giành được ưu thế trên không có nghĩa là chiến thắng, bị đánh bại trên không là thất bại ». Theo ông, không một loại vũ khí nào – cả phòng không lẫn chiến đấu cơ – có thể ngăn chặn một cuộc chiến trên không quy mô lớn.

Những cuộc không kích này cho phép giành chiến thắng bằng cách ném bom vào hậu phương và các trung tâm kinh tế (công nghiệp, kho hàng, đường sắt) và quân sự (kho đạn, sở chỉ huy), tóm lại là những cơ sở trọng yếu của đối phương, cũng như là bằng cách ném bom thường dân để bẻ gãy tinh thần của họ.

Các quốc gia đối địch sẽ buộc phải khuất phục, hay trong trường hợp của Iran, khi dự báo một sự nổi dậy của người dân để ngăn chặn các cuộc oanh kích và đi đến một sự thay đổi chế độ. Theo giải thích từ nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle, chuyên gia về đổi mới và quốc phòng (Audencia) trên trang The Conversation, nhìn chung, tầm nhìn này của Douhet được dựa trên một giả thuyết đơn giản : « Nỗi sợ hãi hủy diệt ý chí tập thể ». Nhưng thực tế thì sao ?

Học thuyết hiện đại về cưỡng chế trên không

Nghiên cứu của nhà chính trị học người Mỹ, Robert A. Pape, về các chiến dịch không kích trong thế kỷ XX (Bombing to Win. Air Power and Coercion in War, 1996) cho thấy tiến triển mới của huyền thoại « thắng cuộc bằng không chiến », được thể hiện qua ba chiến lược khác nhau. Ý tưởng ở đây là xác định xem trong thời gian đầu, mục tiêu thực sự đằng sau việc sử dụng vũ khí không quân là gì, để có thể đánh giá các hiệu quả.

Trong lô-gic này, Pape đề xuất ba chọn lựa : Thứ nhất là « trừng phạt », bằng cách tấn công thường dân nhằm giáng những nỗi đau khổ và gây ra các áp lực chính trị nội bộ. Đây là phiên bản đương đại của mô hình Douhet. Thứ hai là « mạo hiểm » (leo thang dần dần). Đe dọa tăng dần các cuộc không kích nhằm tạo ra một sự bất định và nỗi lo sợ hủy diệt hoàn toàn. Và sau cùng là « tước mất », nghĩa là phá hủy các năng lực quân sự, hậu cần và chiến lược, ngăn chặn đối phương đạt được các mục tiêu của mình.

Phần lớn các nghiên cứu của Pape về những chiến dịch oanh tạc đã chỉ ra rằng những hoạt động quân sự trên không dựa vào ý tưởng trừng phạt dân sự gần như luôn thất bại và những chiến dịch nào nhằm mục tiêu ngăn chặn các hành động quân sự của đối phương đều cho thấy hiệu quả. Nói cách khác, sự cưỡng chế có hiệu quả khi nhằm làm thay đổi một tính toán chiến lược, chứ không phải khi nhằm bẻ gãy tinh thần. Sự khác biệt này là cơ bản, bởi vì nếu mục tiêu bị nhầm, hiệu quả như mong đợi sẽ không có.

Điều này được thấy rõ trong nhiều cuộc chiến suốt thế kỷ XX từ chiến dịch « Rolling Thunder » của Mỹ ở Việt Nam (1965 – 1968), các đợt thả bom của Mỹ trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991, chiến dịch của NATO ở Kosovo, hay  chiến tranh xâm lược Ukraina do Nga phát động năm 2022 và gần đây nhất là cuộc chiến Iran do Mỹ và Israel tiến hành.

« Ưu thế trên không » và « Cấu trúc tinh thần »

Vì sao chiến lược « ưu thế trên không » lại không mấy hiệu quả ? Nhà nghiên cứu Nicolas Minvielle cho rằng cần phải xem lại tác phẩm « The Structure of Morale », tạm dịch là Cấu trúc tinh thần, xuất bản năm 1943 của nhà phân tâm học J.T. MacCurdy. Khi phân tích phản ứng của người dân Anh trong suốt chiến dịch dội bom nổi tiếng Blitz (1940-1941) của không quân Đức chống Vương quốc Anh, ông phân biệt ba nhóm người sau một vụ nổ : Người chết (misses), Người suýt chết (near misses) và Người không bị ảnh hưởng (remote misses).

Theo MacCurdy, các cuộc oanh kích tạo ra nhiều người sống sót hơn là nạn nhân, và sau nỗi sợ hãi ban đầu, quá trình thích nghi nhanh chóng hình thành. Người sống sót phát triển nhiều phản ứng khác nhau, từ cam chịu  đến cảm giác bất khả xâm phạm. Họ học hỏi được nhiều điều và quen dần với tình huống : Nỗi sợ hãi dữ dội của cú sốc ban đầu giảm đi, nếu nỗi sợ đó không liên tục gắn liền với sự hủy diệt cá nhân. Vượt quá một ngưỡng nhất định, sự tàn phá tiếp theo sẽ mang lại hiệu quả giảm dần. Tinh thần người dân có xu hướng tiến triển theo hướng thờ ơ hoặc chịu đựng, nhưng không phải là đầu hàng hay nổi dậy chống chế độ như lịch sử đã cho thấy.

Thậm chí, theo Nicolas Minvielle, các chiến dịch dội bom ồ ạt còn phản tác dụng. Trong Chiến tranh Việt Nam, nghiên cứu của M.A. Kocher và các đồng nghiệp đã chứng minh rằng việc đánh bom làng mạc đã làm dịch chuyển quyền kiểm soát lãnh thổ sang Việt Cộng. Thiệt hại thường dân đã làm mất tính chính đáng của chính quyền Nam Việt Nam và củng cố lực lượng nổi dậy. Nỗi khiếp hãi tiếp thêm sức mạnh của đối phương. Đó cũng là những gì đã diễn ra tại Irak (2014) và Syria (2011) : Các cuộc không kích đã không mang lại hiệu quả như mong đợi mà có nguy cơ làm gia tăng sự đoàn kết với quân nổi dậy khi dân thường bị trúng bom. Và nhất là bạo lực trên không hiếm khi làm thay đổi lòng trung thành theo hướng mong muốn.

Bất chấp một thế kỷ nghiên cứu thực nghiệm, chứng minh sự hủy diệt vật chất hiếm khi tự nó dẫn đến sự sụp đổ chế độ, ý tưởng cho rằng áp lực quân sự bên ngoài có tác động chính trị quyết định vẫn tồn tại. Nếu như giới lãnh đạo đương đại không còn nói đến « bẻ gãy tinh thần một dân tộc » nữa, và thường nói rằng làm suy giảm năng lực hay dồn dập gia tăng áp lực có thể làm suy yếu vĩnh viễn một cấu trúc quyền lực hiện có, đó là vì họ tin vào sức mạnh công nghệ, sức mạnh hữu hình và độ chính xác của vũ khí không quân và nhất là họ nhầm lẫn giữa cú sốc ban đầu với hiệu quả lâu dài.

Cú sốc và hiệu quả lâu dài : Iran, ví dụ mới nhất

Cú sốc và nỗi kinh hoàng tạo ra một tác động ngoạn mục nhưng không nhất thiết đi đến đầu hàng chính trị. Theo nhà nghiên cứu Nicolas Minveille, hiệu quả của chiến lược oanh kích không chỉ phụ thuộc vào năng lực hủy diệt, mà còn vào bản chất của đối phương : Chế độ chuyên chế hay dân chủ ; chiến tranh thông thường hay nổi dậy, xã hội phân mảnh hay gắn kết cao. Cùng một chiến dịch có thể tạo ra những hiệu quả hoàn toàn khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh xung đột.

Đây là những gì đang áp dụng cho cuộc chiến tại Iran. Daniel Block, biên tập viên cấp cao của tạp chí Đối ngoại, trên kênh truyền hình CBC News nhận định rằng, xét về mặt lịch sử, xác suất chế độ thần quyền bị sụp đổ vì « mưa bom » là rất thấp. Ông nêu ra ba lý do:

« Đầu tiên, đơn giản là cho dù quý vị có ghét lãnh đạo của mình đến mức nào, nếu đất nước quý vị bị ném bom, các cuộc oanh kích chỉ sẽ làm suy yếu phe đối lập, bởi vì họ thực sự không muốn bị coi là đứng về phía những người đang tấn công đất nước mình. Tất nhiên, cũng có những ngoại lệ. Nếu lãnh đạo của quý vị đặc biệt bị khinh ghét, thì có một số người không cảm thấy áy náy khi đứng về phía thế lực tấn công. Và chắc chắn có những người như vậy ở Iran, những người quá tuyệt vọng và quá chán ngán với sự lãnh đạo của Khamenei đến nỗi họ chấp nhận điều này hoặc thậm chí hoan nghênh nữa.

Nhưng lý do khác là việc ném bom để xóa sổ hoàn toàn năng lực đàn áp của một quốc gia là vô cùng khó khăn. Quý vị thực sự cần phải có quân đội trên bộ để loại bỏ vũ khí nhỏ, loại bỏ tất cả các loại bom, những thứ mà quý vị cần hủy diệt để dập tắt khả năng của chính quyền đàn áp biểu tình. Iran của có một năng lực đàn áp đáng kể.

Điều cuối cùng, tôi nghĩ đáng chú ý trong trường hợp của Iran, đó là phe đối lập của nước này rất yếu. Họ bị chia rẽ. Chính quyền, một lần nữa, bởi vì họ có năng lực đàn áp mạnh mẽ nên đã rất hiệu quả trong việc dập tắt phản kháng và bỏ tù những người đối lập. Và nhất là những người chống chế độ, họ thực sự không hòa thuận với nhau. »

Iran và Chiến lược « mở rộng rủi ro »

Bất chấp những bài học lịch sử, chiến lược « ưu thế trên không » vẫn có sức hấp dẫn chính trị, hứa hẹn mang lại kết quả mà không cần đưa quân ồ ạt trên bộ, và do vậy không có những tổn thất. Nhưng đó chỉ là một sự ảo tưởng về sự cưỡng chế từ xa. Các cuộc tấn công của Mỹ vào những mục tiêu của Iran được chính thức coi là một phần của chiến lược làm suy yếu năng lực. Mỹ và Israel oanh tạc các cơ sở hạ tầng, năng lực quân sự, làm tê liệt nền kinh tế và thay đổi cán cân sức mạnh quân sự.

Nhưng trong trường hợp của Iran, nhà chính trị học người Mỹ Robert A. Pape, trong một bài phân tích mới nhất đăng trên trang Foreign Affairs ngày 09/03/2026, lưu ý thêm rằng các đợt oanh kích « tiêu diệt » của Mỹ và Israel chẳng những không làm chế độ sụp đổ mà còn thúc đẩy nước này leo thang xung đột theo chiều ngang, với mục tiêu gia tăng ảnh hưởng chính trị.

Theo đó, Iran trước hết chứng tỏ sức kháng cự bằng các cuộc không kích trả đũa ồ ạt, khẳng định tính chất liên tục của bộ chỉ huy và năng lực tác chiến cho dù nhiều lãnh đạo cao cấp hàng đầu bị triệt hạ. Sau đó, Iran mở rộng xung đột ra ngoài phạm vi lãnh thổ, tạo ra điều mà nhiều chuyên gia gọi là « gia tăng rủi ro », không chỉ oanh kích trả đũa Israel mà còn tấn công các nước láng giềng.

Tiếp đến, Teheran chính trị hóa xung đột bằng các cuộc oanh kích dẫn đến việc đóng cửa các sân bay, thiêu đốt hàng hóa thương mại, gây thiệt hại tính mạng người lao động nước ngoài và gây xáo trộn thị trường năng lượng cũng như ngành bảo hiểm. Tại Mỹ, quy mô xung đột càng ngày càng lớn khiến nhiều thành viên Quốc Hội lo lắng. Và nhất là chiến sự lan rộng có nguy cơ lôi kéo nhiều tác nhân khác lao vào cuộc chiến vì những lợi ích khác nhau mà không có sự điều phối, có thể làm thay đổi dòng chảy xung đột, vượt ngoài tầm kiểm soát của Wahsington.

Vế cuối cùng trong chiến lược của Iran là yếu tố thời gian. Áp lực đối với nhiều nước càng gia tăng, căng thẳng chính trị cả trong nội bộ các nước cũng như giữa các nước trong khu vực càng lớn, có nguy cơ làm trầm trọng thêm cuộc xung đột. Trong bối cảnh này, nhà chính trị học người Mỹ kết luận, khi phớt lờ những bài học lịch sử, Mỹ và Israel có nguy cơ gặp rắc rối to !

Minh Anh thực hiện

Nguồn: RFI Tiếng Việt

Việt Thắng

Việt Thắng

Tây Nguyên : Nước mắt và Máu (Quang Nguyên)

Những cảnh báo của Hickey về việc áp dụng các chính sách phát triển không…

3 giờ

Chuỗi Dài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam: Tội Ác Xóa Bỏ Hiệp Định Genève 1954 Và Tiếp Tục Chiến Tranh

Theo Hiệp định Genève ngày 20/7/1954, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia…

3 giờ

Nhìn Lại Hiểm Họa Điện Hạt Nhân Tại Việt Nam (Radio Dân Chủ)

Đối với một dân tộc chưa có nhiều kinh nghiệm về an toàn hạt nhân…

4 giờ

Một quốc gia Bắc Âu giữ vị trí quốc gia hạnh phúc nhất thế giới năm thứ chín liên tiếp (Jeanne Bonner)

Nếu hạnh phúc là một môn thi đấu Olympic, các nước Bắc Âu chắc chắn…

15 giờ

Người Mỹ nghĩ về Trump như thế nào? Phân tích từ khảo sát mới nhất của YouGov (Nhật Trần)

Một khảo sát mới do YouGov thực hiện (từ ngày 24/2 đến 1/3/2026) cho thấy…

16 giờ