Đại Hội 14 và điều gì thực sự nguy ngập cho đất nước (Chu Tuấn Anh)

Đại Hội 14 của đảng Cộng Sản Việt Nam được lên kế hoạch diễn ra vào ngày 19/1/2026, nghĩa là một tháng tới, trong sự căng thẳng đến cực điểm giữa hai xu hướng Công An và Quân Đội. Lần này rất khó để đoán được trước tình hình nhân sự chế độ cho đến thời điểm cuối cùng. Phần vì chế độ đã quá chia rẽ sau khi nhà độc tài miễn cưỡng cuối cùng của đảng Cộng Sản, ông Nguyễn Phú Trọng qua đời, phần vì một nguyên nhân cụ thể hơn là không còn ai có thể yên tâm đặt số phận và tính mạng của bản thân vào tay của một cá nhân hay lực lượng khác sau tất cả những cuộc thanh trừng chính trị gay gắt đã có từ thời ông Nguyễn Phú Trọng.

Nhưng chắc chắn rằng, dù với một kết quả nào, người dân Việt Nam có mọi lý do để thất vọng, hay nói đúng hơn là không còn hy vọng vào chế độ Cộng Sản Việt Nam. Thực tế, ba xu hướng quân đội, công an và hành chính – kinh tế – kỹ trị đã được thử nghiệm trong suốt thời gian cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cần phải nhắc lại, đảng Cộng Sản Việt Nam xuất thân là một lực lượng sử dụng vũ lực được tổ chức để điều khiển mặt trận quân sự và tuyên truyền trong chiến tranh, hay nói cách khác là một bộ máy điều khiển quân đội. Họ đã đẩy đất nước chúng ta vào một cuộc nội chiến kéo dài 30 năm kể từ năm 1945 khi tiêu diệt những đảng phái quốc gia, để rồi đất nước rơi vào cảnh chia cắt (năm 1954). Trong giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, họ đã thi hành những chính sách kinh tế tập trung và bóp nghẹt mọi quyền dân chủ tự do tại miền Bắc để đề cao “sự hy sinh” cần thiết cho cuộc “kháng chiến chống Mỹ” theo ngôn ngữ của họ. Sau khi cuộc nội chiến chấm dứt năm 1975 và đất nước có hòa bình, họ vẫn tiếp tục cai trị như một chế độ quân quản với mô hình kinh tế tập trung và thi hành đàn áp với phần còn lại của đất nước (tức là miền Nam). Hậu quả là đất nước tan nát và lụn bại trong những thập niên 80 của thế kỷ 20.

Không những thế, khi chế độ cộng sản buộc phải nhìn nhận sai lầm trong quá khứ và tiến hành cải cách, đất nước cũng phải mất 20 năm thời gian quý báu để được chấp nhận “bình thường hóa” và “hội nhập” với thế giới. Đó là khoảng thời gian tính từ thời điểm chế độ chấp nhận “đổi mới” năm 1986 đến thời điểm Việt Nam gia nhập tổ chức Thương Mại thế giới WTO vào năm 2006. Hai mươi năm cũng là khoảng thời gian mà thế giới đã chứng kiến sự vươn lên ngoạn mục của Hàn Quốc và Đài Loan từ những quốc gia thu nhập trung bình của công nghiệp sang những nền kinh tế thu nhập cao của dịch vụ và bước đầu làm chủ khoa học kỹ thuật. Rõ ràng, phong trào Đổi Mới của chế độ không ngoạn mục như họ đã tuyên truyền. Thực ra đến đầu những năm 2000, chính quyền Cộng Sản Việt Nam vẫn là chính quyền quân đội với quyền lực nằm trong tay Lê Đức Anh. Chính phe đảng Lê Đức Anh đã hạ bệ ông Lê Khả Phiêu, một tướng lĩnh quân đội khác, vào năm 2001.

Nếu chúng ta vẫn còn đang mong chờ một chính quyền quân đội với sự nắm quyền luân phiên của các tướng lãnh là một sự “lựa chọn bớt tệ hơn” trong bối cảnh hiện nay thì hãy nhìn lại “thành tích” của quân đội trong việc điều hành đất nước hơn 25 năm về trước. Một chính quyền quân đội có thể sẽ nắm quyền tới đây liệu có thể vượt qua bài kiểm tra sát hạch mà họ đã trượt trong quá khứ hay không vẫn là một dấu hỏi vô cùng lớn!

Xu hướng hành chính – kinh tế – kỹ trị dần thay thế xu hướng quân đội trong giai đoạn sau 2006 dưới thời Nguyễn Tấn Dũng nhưng không phải vì chế độ Cộng Sản thực tâm cởi mở để hướng về dân chủ. Đó là một nhu cầu tự nhiên sau một quá trình buộc phải hội nhập với thế giới để tiếp tục tồn tại. Người ta không thể trưng diện bộ mặt của một bộ máy chiến tranh trong những đối thoại và diễn đàn quốc tế. Hơn nữa khi kinh tế đất nước dần được cởi trói, những vấn đề kinh tế, dân sự bắt đầu nảy sinh và trở nên phức tạp, đòi hỏi một bộ máy hành chính để giải quyết.

Nhưng rồi, xu hướng hành chính – kinh tế – chính trị trong đảng Cộng Sản Việt Nam cũng gặp thất bại vì vấn nạn tham nhũng. Di sản của ông Nguyễn Tấn Dũng để lại là 127 tập đoàn kinh tế quốc doanh lỗ nặng để đất nước phải gánh một tổng số nợ gần 100 tỷ đô la.

Chính tình trạng tham nhũng quá trầm trọng trong khối điều hành hành chính – kinh tế – kỹ trị của chế độ đã là lý do để chiến dịch đốt lò được phát động khi ông Nguyễn Tấn Dũng bị buộc phải về “làm người tử tế” năm 2016 và ông Nguyễn Phú Trọng trở thành lãnh đạo của chế độ. Cũng từ đây, chế độ càng ngày càng lệ thuộc vào lực lượng “Công An”, lực lượng đã được ông Tổng bí thư trọng dụng để thu thập những “hồ sơ đen” của các đảng viên trung cao cấp. Ông Tô Lâm, người đứng đầu lực lượng công an, đã được ông Trọng bổ nhiệm làm phó ban Phòng chống tham nhũng và khi ông Trọng đột quỵ, ông Tô Lâm gần như đã thay mặt ông Nguyễn Phú Trọng điều hành chiến dịch đốt lò và đồng thời đã lợi dụng, thao túng chiến dịch đốt lò để thực hiện thanh trừng những nhân sự cấp cao có khả năng đe doạ đường tiến thân của mình.

Khi ông Nguyễn Phú Trọng, nhà độc tài miễn cưỡng cuối cùng của chế độ Cộng Sản qua đời vào tháng 7 năm 2024, chế độ đã tỏ ra bối rối trước bài toán nhân sự. Họ đã không còn một nhân sự cấp cao nào khác ngoài ông Tô Lâm. Sự thay thế ông Nguyễn Phú Trọng bằng ông Tô Lâm hoàn toàn không mâu thuẫn với tiến trình cáo chung của một chế độ cộng sản. Kinh nghiệm cho thấy chế độ cộng sản cáo chung khi không thể thay thế nhà độc tài miễn cưỡng cuối cùng. Hành động lên nắm quyền của ông Tô Lâm thực ra là một vụ tiếm quyền hay thoán đoạt chứ hoàn toàn không phải là một hành động tập thể có ý thức của đảng cộng sản. Đảng cộng sản không thay thế nhà độc tài miễn cưỡng cuối cùng và cũng không được lựa chọn. Họ bị bắt ép vào một lựa chọn duy nhất. Nhưng ngay cả nếu có coi hành động lên nắm quyền của ông Tô Lâm là một lựa chọn có ý thức của đảng cộng sản đi chăng nữa thì tình trạng hỗn loạn chỉ trong hơn một năm qua khi ông Tô Lâm lên cầm quyền đã là câu trả lời rõ ràng nhất. Đảng Cộng sản không thể tìm ra ai có thể phù hợp thay thế được ông Nguyễn Phú Trọng – nhà độc tài miễn cưỡng cuối cùng.

Liên minh Tô Lâm – Phạm Minh Chính, sau hơn một năm tồn tại, cũng đã thất bại trên mọi chính sách mà họ đưa ra: từ cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy dẫn đến tình trạng tê liệt hỗn loạn, đến chính sách “phát triển Kinh tế tư nhân” được đưa ra như một khẩu hiệu sáo rỗng để đổi lấy làn sóng doanh nghiệp giải thể, tiểu thương đóng cửa, hay chính sách đầu tư công bừa bãi rút cạn ngân sách địa phương và các chính sách tàn phá môi sinh đất nước như điện hạt nhân, đất hiếm, v.v. Không chỉ thất bại, liên minh này còn đánh mất nhân tâm, không chỉ của đại đa số nhân dân mà còn của chính tầng lớp đảng viên. Khẩu hiệu “kỷ nguyên mới” ngày càng trở lên nhạt nhẽo và được thay thế bằng tai tiếng “công an trị”, “Hưng Yên trị”.

Khi thử nghiệm công an trị đã rơi vào thất bại một cách tai hại, chế độ lại tiếp tục trông chờ vào một chính quyền quân đội, dù trong thâm tâm họ cũng biết Quân Đội đã từng là lực lượng thủ cựu nhất và cũng từng chống lại cải cách trong chính chế độ Cộng Sản Việt Nam. Kinh nghiệm thế giới cũng chưa từng có một đất nước nào khá lên được nhờ vào chính quyền quân đội dù là Thái Lan, Myanmar hay di sản quân phiệt Suharto tại Indonesia hay Ferdinand Marcos tại Philippines.

Nhiều người dĩ nhiên sẽ cho rằng quân đội Việt Nam hôm nay đã rất khác với một quân đội Cộng Sản của thế kỷ trước, nhất là sau một thời gian “hiện đại hóa”, “cổ phần hóa” một số doanh nghiệp quân đội. Sự kiện cuộc chiến tranh xâm lược của Nga vào lãnh thổ Ukraine khiến quân đội Việt Nam phải “thân phương Tây” hơn do không còn đối tác cung cấp vũ khí truyền thống cũng khiến người ta mơ tưởng về những khả năng cởi mở của lực lượng “súng to”.

Tuy vậy, thời gian và uy tín của chế độ Cộng Sản đã cạn kiệt để có thêm một thử nghiệm khác. Họ đã thử nghiệm bằng chính quyền của ông Nguyễn Xuân Phúc cùng những ông phó thủ tướng Vũ Đức Đam, Phạm Bình Minh được tung hô như một chính quyền có năng lực “quản trị” trong đại dịch Covid-19 để rồi kết thúc với sự thất bại trong sự phẫn nộ của dư luận, người thì dính vào đại án Việt Á, người thì liên quan tới các “chuyến bay giải cứu”. Hai nhân vật Võ Văn Thưởng và Vương Đình Huệ cũng từng được giới thiệu như những gương mặt trẻ và có khả năng “kỹ trị”, để rồi họ buộc phải ra đi với lý do bị “bất tín nhiệm” trước những “sai phạm cá nhân”. Ông Tô Lâm cũng chỉ mất hơn một năm để phô bày hết những tệ hại của mình. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một nhân vật trong quân đội chẳng hạn ông Phan Văn Giang thất bại và bị mất tín nhiệm trong một thời gian chóng vánh, có thể ngay sau khi Đại Hội 14 vốn được lên kế hoạch sẽ diễn ra sau 1 tháng nữa.

Hơn nữa, người ta chẳng có lý do gì để chấp nhận một chính quyền quân đội trong thời đại hiện nay, nhất là khi chế độ quân phiệt khắp nơi như Thái Lan, Myanmar đang trong tiến trình bị đào thải như một kết quả của làn sóng dân chủ thứ 4.

Bản thân quân đội Việt Nam cũng có đầy đủ mọi tất nguyền của một chính quyền tham nhũng vì họ cũng có những tập đoàn kinh tế, tham nhũng chính sách, mua bàn vũ khí, những cơ quan điều tra và xét xử riêng đã ngó lơ nạn bạo hành, sai phạm kỷ luật trong quân ngũ. Họ cũng đã thể hiện mình như một lực lượng mà không có ai có quyền đụng đến dù cũng có những sai phạm, tham nhũng. Nhiều tướng lãnh cấp cao của quân đội có thể sai phạm mà vẫn được miễn trách nhiệm do có một tập thể sắt thép đứng đằng sau. Nếu họ quyết tâm đem cơ chế này trở lại lãnh đạo đất nước, hay thiết lập một chế độ quân phiệt, họ có thể mất hết tất cả, dù là chút danh dự cuối cùng dành cho một lực lượng đang đứng đầu tiền tuyến nơi biên cương hải đảo để đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc.

Điều thực sự nguy ngập là dù chế độ Cộng sản Việt Nam đã không còn giải pháp bên trong nội bộ, họ vẫn ngăn cấm đối lập chính trị và phá hoại những giải pháp thực sự vốn nằm bên ngoài đảng Cộng sản. Mọi giải pháp bên trong chế độ, vốn đều dở đến mức không thể chấp nhận được, đã chỉ được thổi phồng vì có sự tiếp tay của phe Tuyên giáo chứ hoàn toàn không phải vì cá nhân đó có tư tưởng hay dự án chính trị cụ thể cho đất nước. Chúng ta cũng đã nhìn thấy được bài học của Romania: khi nhà độc tài Nicolae Ceaușescu đàn áp mọi tiếng nói đối lập, ông ta cũng đẩy chế độ Cộng Sản Romania đến những lựa chọn tăm tối với kịch bản Công an và Quân đội đấu súng, dẫn đến một thảm kịch chuyển hoá đầy bạo lực trong khi đại đa số các nước Đông Âu đã chuyển hóa về dân chủ trong tinh thần ôn hòa, trật tự.

Thái độ duy nhất sáng suốt mà các đảng viên Cộng Sản và mọi lực lượng trong chế độ phải ý thức được trong lúc này là nhanh chóng vận động trong nội bộ của mình và đi đến đồng thuận chấp nhận sự hiện diện của đối lập dân chủ – nghĩa là một giải pháp bên ngoài đảng cộng sản. Giải pháp này hoàn toàn không khó khăn. Tình cảm dành cho xu hướng dân chủ đa nguyên, bắt đầu từ những đảng viên lão thành như Trần Độ, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương đã dần lớn lên, lan rộng vào đội ngũ đảng viên đang tại nhiệm. Trước tình trạng này, năm 2021, ông Nguyễn Phú Trọng đã phải yêu cầu không công bố số liệu thống kê về số lượng đảng viên “suy thoái về tư tưởng”, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” để che giấu mức độ cảm tình dành cho xu hướng dân chủ đa nguyên và hoà giải dân tộc. Sự phản đối ngày càng yếu ớt và cũng không có thực chất vì ai cũng hiểu rằng là đã đến lúc phải chuẩn bị để tiến trình chuyển tiếp về dân chủ diễn ra và nhất là diễn ra trong tinh thần hòa giải dân tộc và tình anh em tìm lại mà những người anh em cộng sản, dù là công an, quân đội hay tuyên giáo đều đã hiểu là phải tham gia làm tác nhân thay vì chịu đựng làm nạn nhân. Tình hình hiện nay đã rất gấp gáp, khó có thể tiếp tục trì hoãn được nữa!

Chu Tuấn Anh

(18/12/2025)

Việt Thắng

Việt Thắng

Nhiều Anh Em Công An Và Tuyên Giáo Đã Bị Lập Trường Dân Chủ Thuyết Phục

Nhiều người trong lực lượng Tuyên giáo cũng dần bị thuyết phục bởi lập trường…

12 giờ

Myanmar – Bài học về dân chủ gây hỗn loạn hay ngược lại?

Trước cuộc đảo chính năm 2021, Myanmar vẫn có nhiều tiến bộ và triển vọng…

12 giờ

Tại sao Venezuela trở thành một quốc gia thất bại ?

Nhiều người đổ trách nhiệm cho tình trạng thảm hại tại Venezuela ngày hôm nay…

2 ngày

Diệt độc tài bằng luật rừng: một ngộ nhận nguy hiểm (Hoàng Quốc Dũng)

Phản đối việc Mỹ vi phạm luật pháp quốc tế trong vụ Venezuela không phải…

2 ngày

Thế tiến thoái lưỡng nan của các nhà hoạt động tại Việt Nam (Phạm Thanh Nghiên)

Kể từ khi rời Việt Nam, mình đã cố gắng để mang các câu chuyện…

2 ngày