Những Cú Sốc Hàng Ở Việt Nam Hậu Đại hội XIV – Kỳ 3

Bài viết này là phần 3 / 3 trong loạt bài Những Cú Sốc Hàng Ở Việt Nam Hậu Đại hội XIV

Trong khi người dân không còn xa lạ gì với cảm giác về “những con đường tiến thân đã được sắp sẵn”, thì một số cây bút lại mải miết dựng nên một câu chuyện khác : Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên quản trị hiện đại, thế hệ hậu chiến lên thay, technocrats nắm quyền…  

Kỳ 3: Con lãnh đạo làm lãnh đạo : tập quyền, chính danh và giới hạn chịu đựng của xã hội

Bằng ngôn ngữ học thuật trơn tru bóng mượt, bằng cách kể chuyện lạnh lùng nhưng có lợi, di sản quyền lực được tẩy rửa thành “mạng lưới tin cậy”, còn bổ nhiệm chính trị được khoác áo “thăng tiến technocratic”. Đây không còn là nịnh thô, mà là nịnh đảng và nịnh con ông lớn ở cấp độ cao hơn: không cần khen ai giỏi, chỉ cần kể đúng trật tự để quyền lực trông có vẻ tự nhiên, hợp lý và… không cần giải thích (1). 

Trong kho tàng dân gian có một đồng giao nghe qua tưởng như đùa giỡn : “Con vua rồi lại làm vua”. Câu ấy không hẳn là lời nguyền rủa, cũng chẳng phải lời ca ngợi. Nó chỉ mô tả một thực tế quen thuộc : quyền lực, khi đã lên cao, thường có xu hướng tự tái sản sinh trong phạm vi gia đình và mạng lưới thân cận. Nhưng dân gian vốn không ngây thơ. Câu nói ấy luôn đi kèm một vế khác, ít khi viết ra nhưng tồn tại rất dai dẳng trong trí nhớ tập thể : “Hết thời thì con vua cũng lại ra quét chùa”. Chính cái vế sau ấy mới là lời cảnh báo về tính chính danh – thứ mà quyền lực có thể vay mượn một thời, nhưng không thể giữ mãi nếu lòng người không còn thuận. 

Hậu Đại hội XIV, xu hướng tập trung quyền lực ở Việt Nam diễn ra nhanh, mạnh và ngày càng ít che giấu. Các trung tâm quyền lực được gom lại, các trục kiểm soát được siết chặt, bộ máy vận hành theo hướng dọc và kỷ luật cao hơn. Với một số người, đó là điều kiện cần để “làm cho được việc”. Với số khác, đó là dấu hiệu của một giai đoạn khép lại. Nhưng tập quyền, tự thân nó, không phải là điều nguy hiểm nhất. Lịch sử từng chứng kiến nhiều giai đoạn tập quyền mạnh mà xã hội vẫn vận hành ổn định, thậm chí phát triển. Điều quyết định không nằm ở mức độ quyền lực tập trung, mà ở nền tảng chính danh nâng đỡ quyền lực ấy. 

Một quyền lực càng tập trung thì càng cần chính danh dày. Và chính danh ấy không thể chỉ đến từ thủ tục, nghị quyết hay diễn văn, mà phải đến từ cảm nhận công bằng cơ hội trong xã hội. Chính ở điểm này, diễn ngôn “technocrat” được dùng để kể lại trật tự quyền lực mới bắt đầu trở thành vấn đề. 

Song song với quá trình tập quyền trong nước là nỗ lực xây dựng một diễn ngôn đối ngoại nhằm hợp thức hóa trật tự ấy. Khung được ưa chuộng là “thế hệ hậu chiến” : Việt Nam rời bỏ chính danh cách mạng để bước vào chính danh hiệu quả ; những người không còn ký ức chiến tranh, được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm quản trị, đang thay thế lớp lãnh đạo cũ nặng ý thức hệ. Nghe qua, đó là một câu chuyện đẹp. Nhưng chính trong cái đẹp ấy, một thao tác nguy hiểm đã được thực hiện : làm phẳng mọi con đường quyền lực, để tất cả cùng trông như kết quả tự nhiên của năng lực và quản trị.  

Ba con đường quyền lực rất khác nhau đã được kể như một. Và ba con đường ấy gắn với những nhân vật rất cụ thể trong bài viết trên tờ Fulcrum (2). 

Trước hết là Lê Minh Hưng – con trai cựu Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương, hiện giữ chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương và được nhiều nguồn tin coi là ứng viên hàng đầu cho chức Thủ tướng trong nhiệm kỳ tới. Con đường của ông Hưng đi qua Ngân hàng Nhà nước, nơi thành tích có thể được viện dẫn bằng ổn định tiền tệ, dự trữ ngoại hối và các chỉ số vĩ mô. Dù còn những vết gợn lớn như các đại án tài chính xảy ra trong nhiệm kỳ, đây vẫn là mẫu quan chức đi lên trong không gian chuyên môn, nơi năng lực quản trị có thể được dùng làm cơ sở chính danh. 

Tiếp theo là Trần Sỹ Thanh – hiện là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, cơ quan nắm sinh mệnh chính trị của không ít cán bộ cao cấp. Ông Thanh là hình mẫu điển hình của cán bộ luân chuyển cao tốc : hơn hai chục năm kinh qua hơn mười vị trí quan trọng, từ tài chính, kiểm toán đến lãnh đạo nhiều địa phương và Hà Nội. Đây là con đường của sự tín nhiệm chính trị ở cấp rất cao, không phải cạnh tranh mở, nhưng vẫn nằm trong logic quen thuộc của hệ thống cán bộ trung ương. 

Nhân vật thứ ba – và cũng là nhân vật nhạy cảm nhất – là Nguyễn Thanh Nghị, con trai cựu Thủ tướng nhiều tai tiếng Nguyễn Tấn Dũng. Ông Nghị từng là Bí thư Tỉnh ủy trẻ nhất cả nước, sau đó giữ chức Bộ trưởng Xây dựng, và hiện là Trưởng ban Chính sách, Chiến lược Trung ương. Trong các đồn đoán hậu Đại hội XIV, ông thường được nhắc đến như một gương mặt “tương lai rất sáng” trong cấu trúc quyền lực mới. Từ ngày 30/1/2026, cả Thanh Nghị lẫn Sỹ Thanh đều được tham gia Ban Bí thư khóa XIV. 

Nhưng vấn đề không nằm ở bằng cấp hay chức vụ của Nguyễn Thanh Nghị. Vấn đề nằm ở chỗ : trong cảm nhận xã hội, con đường của ông không bao giờ là một con đường trung tính (3). Dù diễn ngôn học thuật có cố đặt ông ngang hàng với các technocrats khác, nhưng trong mắt công chúng, ông vẫn là biểu tượng rõ ràng nhất của quyền lực kế thừa – thứ mà không một cách kể chuyện trơn tru nào có thể xóa nhòa. 

Ba con đường ấy khác nhau căn bản. Nhưng khi được kể trong cùng một khung “technocratic ascent” (đường quan lộ mang màu kỹ trị), thì sự khác biệt bị làm mờ. Bất công cơ hội bị đẩy ra ngoài khung hình, và câu chuyện trở nên trơn tru, mượt mà, nhưng cũng trở nên giả tạo. 

Tuyên truyền kiểu mới không cần phải khen ai đó “xuất sắc”. Chỉ cần im lặng đúng chỗ. Không hỏi rằng người ấy đã cạnh tranh với ai. Không hỏi rằng nếu không có xuất thân ấy, con đường có còn rộng mở hay không. Không hỏi rằng trong cùng một thế hệ, bao nhiêu người đã bị chặn bởi những trần vô hình. Thay vào đó, người đọc được dẫn đi qua một chuỗi chức vụ được sắp xếp gọn gàng, xen giữa bằng cấp quốc tế và các mốc thăng tiến hợp lý. Di sản quyền lực được gọi bằng những cái tên dễ nghe hơn như “mạng lưới tin cậy”, còn bổ nhiệm chính trị được khoác áo “quản trị hiệu quả”. Đó là kiểu tâng bốc không cần khen, và chính vì thế mà nguy hiểm hơn mọi lời ca tụng. 

Vấn đề lớn nhất không phải là bài viết ấy đúng hay sai về dữ kiện, mà là độ lệch giữa cái thế giới bên ngoài “tin rằng” và điều xã hội bên trong “cảm nhận”. Khi thế giới tin rằng Việt Nam đang chuyển sang quản trị hiện đại, còn người dân trong nước cảm nhận con đường đã được sắp sẵn, thì chính danh không được củng cố – mà bị kéo căng. Và chính danh, khi bị kéo căng quá lâu, sẽ không đứt bằng tiếng nổ, mà bằng sự mệt mỏi tập thể. Xã hội không phản đối ồn ào. Xã hội chỉ lặng thinh. Người giỏi rút lui. Người còn ở lại học cách thích nghi, không mơ mộng, không dốc sức. Hệ thống vẫn đứng vững, nhưng nội lực bắt đầu rỗng ruột. 

Không có nghị quyết nào ghi rõ giới hạn chịu đựng của xã hội. Nhưng lịch sử cho thấy giới hạn ấy tồn tại rất thật. Người dân có thể chấp nhận quyền lực mạnh, kỷ luật cứng, thậm chí bất công cục bộ. Nhưng họ khó chấp nhận một cảm giác kéo dài rằng : cơ hội không dành cho mình, cũng không dành cho con mình. Khi cảm giác ấy lan rộng, chính danh không mất ngay ; nó chỉ mỏng dần, như nền đất bị khoét rỗng. Và khi có biến cố, dù nhỏ, nền đất ấy sẽ không còn sức chống chịu. 

“Con vua rồi lại làm vua” có thể đúng trong một giai đoạn. Nhưng không phải mọi ánh bạc đều là bạc thật, và không phải “thái tử đảng” nào cũng có những bữa tiệc được dọn sẵn mãi mãi. Ngay tại Trung Quốc, những cuộc đấu đá gay gắt giữa các nhóm con nhà nòi đang cho thấy một thực tế lạnh lùng : khi chính danh cạn, “thái tử đảng” không còn là lá chắn, mà đôi khi trở thành gánh nặng. 

Việt Nam hôm nay chưa ở trong kịch bản đó, nhưng cũng không đứng ngoài quy luật ấy. Một hệ thống càng tập quyền thì càng cần tính chính danh dày. Và chính danh ấy không thể đến từ những bài viết tâng bốc hay những khái niệm thời thượng, mà chỉ có thể đến từ cảm giác công bằng cơ hội trong xã hội. Nếu cảm giác ấy không được khôi phục, thì đến lúc thất thế, vế sau của câu hát đồng giao dân gian sẽ tự nhiên được nhắc lại – không phải như một lời nguyền, mà như một quy luật lạnh lùng của lịch sử : quyền lực không sợ tập trung, quyền lực chỉ sợ mất chính danh. 

Nguyễn Thiều Quang

Thành viên Trung tâm Minh triết Việt 

Tham khảo :  

Những Cú Sốc Hàng Ở Việt Nam Hậu Đại hội XIV

Những Cú “Sốc Hàng” Ở Việt Nam Hậu Đại Hội XIV – Kỳ 2
Việt Thắng

Việt Thắng

Những Cú “Sốc Hàng” Ở Việt Nam Hậu Đại Hội XIV – Kỳ 2

Sau Đại hội XIV, Việt Nam tiếp tục chuyển động mạnh mẽ, nơi những thay…

21 giờ

Những Cú “Sốc Hàng” Ở Việt Nam Hậu Đại Hội XIV – Kỳ 1

Hậu Đại hội XIV, giới quan sát tập trung chú ý không chỉ danh sách…

21 giờ

Nhà Sử Học Nga Chuyên Về Gulag Thành Tù Nhân Khổ Sai (Nghiên Cứu Lịch Sử)

Theo báo Le Monde, số phận bi thảm của nhà sử học Nga Yuri Dmitriev…

21 giờ

Đại hội đảng hay đại hội chống nhân dân ? (Ls Đặng Đình Mạnh)

Ít ngày trước buổi ngày khai mạc đại hội XIV của đảng Cộng Sản, người…

3 ngày

Chế độ Iran thảm sát người biểu tình : Tội ác dần dần được gọi đúng tên (RFI)

Những bằng chứng mới từ giới y tế và các tổ chức độc lập đang…

3 ngày

Nhất Thể Hóa Quyền Lực Ở Việt Nam: Tô Lâm Và Logic Toàn Trị (Phan Thiên Ý)

Nhất thể hóa quyền lực, tức việc Tổng Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch nước, là…

5 ngày