Chế độ cải tạo lao động rập theo khuôn mẫu của Trung Quốc đã được áp dụng tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1954 với tội phạm, tù binh, và tù nhân, bị kết án chống đối nhà cầm quyền. Sau ngày 30/4/1975, nhóm chữ “học tập cải tạo” nói đến chương trình tập trung để cải tạo của Đảng cộng sản Việt Nam đối với những người phục vụ trong quân đội và trong ngành hành chánh Việt Nam Cộng Hòa cũ. Hệ thống trại tập trung này theo tên gọi là trại cải tạo lao động mà Liên Xô đã sử dụng.
Tháng 6/1975, Đảng cộng sản Việt Nam ra thông cáo bắt buộc sĩ quan quân đội và viên chức thuộc chế độ Việt Nam Cộng Hòa đi học tập cải tạo. Hơn 1.000.000 người thuộc diện phải ra trình diện.
Riêng Sài Gòn có 443.360 người trong số đó. Từng cấp bậc như sau :
“28 tướng lãnh.
362 đại tá.
1.806 trung tá.
3.978 thiếu tá.
39.304 sĩ quan cấp úy.
35.564 cảnh sát.
1.932 nhân viên tình báo.
1.469 viên chức cao cấp.
Và 9.306 người trong các đảng phái chính trị”.
Sau 1 năm giam giữ trong các trại tập trung trên phần lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa cũ, Đảng cộng sản Việt Nam chuyển phần lớn ra các trại mới lập tại các khu rừng già vùng Tây Bắc và phía Bắc Hà Nội, do Bộ Quốc phòng cộng sản Việt Nam giam giữ. Tôi, trong số gần 300 cấp đại tá bị giam trong trại AH 2 và AH 3 thuộc Đoàn 776, tại xã Việt Cường, huyện Trấn Yên, tỉnh Hoàng Liên Sơn. Từ đó, danh từ “tù chính trị” được sử dụng để chỉ quân đội + nhân dân + cán bộ + viên chức hành chánh Việt Nam Cộng Hòa cũ trong các trại tập trung mà cộng sản Việt Nam gọi là trại cải tạo.
Riêng Đoàn 776 trú đóng tại Yên Bái, quản trị 82 trại đánh số từ AH1 đến AH82 rải rác trong các tỉnh chung quanh. Trên toàn quốc, theo lời kể của tù chính trị, ít nhất cũng hơn 200 trại tập trung từ Mũi Cà Mau cực Nam đến trại Cổng Trời cực Bắc Việt Nam.
Xin hiểu rằng, con số những trại tập trung mà tôi nói ở đây, chưa nói đến con số những trại tù do Công an cai quản.
Trước khi quân Trung Quốc tấn công 6 tỉnh dọc biên giới phía bắc hồi tháng 2/1979, Đảng cộng sản Việt Nam chuyển “tù chính trị chúng tôi” xuống các trại tập trung vùng đồng bằng Sông Hồng do Công an giam giữ. Trong những năm đầu của thập niên 1980, cộng sản Việt Nam chuyển phần lớn tù chính trị chúng tôi vào các trại tập trung trong Nam, đến năm 1985 chỉ còn lại trại tù duy nhất là Trại Nam Hà với khoảng 500 tù chính trị, và tôi trong số này. Cứ mỗi 3 năm, Đảng cộng sản Việt Nam ký lệnh gia hạn giam giữ thêm 3 năm nữa. Và cứ liên tục như vậy tại tất cả các trại giam dù trong Nam hay ngoài Bắc.
Năm 1980, Thủ tướng cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng nói rằng : “Hiện còn 26.000 người trong các trại cải tạo”. Tuy nhiên, một số báo chí ngoại quốc ước tính khoảng 100.000 đến 300.000 vẫn đang bị giam giữ trong các trại tập trung. Trong khi Hoa Kỳ ước tính khoảng 165.000 người đã chết trong các trại tập trung.
Và trường hợp nào mà quân nhân viên chức Việt Nam Cộng Hòa cũ được ra khỏi trại tập trung, và cùng gia đình sang Hoa Kỳ định cư ?
Trong lúc tôi bị giam trong buồng giam số 1, Trại Nam Hà A, tỉnh Hà Nam Ninh, vào buổi tối ngày 5/8/1987 sau khi cửa buồng giam số 1 đóng lại nghe cái rầm, thanh sắt kéo ngang nghe réc-réc, và tiếng crắc của ống khóa bóp lại, là tôi đọc báo. Tôi đọc ngay bản tin ngắn trên tờ Nhân Dân của cộng sản Việt Nam mà hằng tuần họ cho chúng tôi 2 lần báo. Đọc xong là tôi phải ngưng lại vì anh em chúng tôi bàn luận rất ồn ào.
Bản tin nói gì mà ồn ào vậy ? Bản tin như sau : “Ngày 2 và 3 tháng 8 năm 1987, tướng hồi hưu Vessey, với tư cách Đặc sứ của Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan sang Việt Nam, gặp Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch. Hai bên thỏa thuận điểm đầu tiên về hợp tác đẩy mạnh công cuộc tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam, và điểm 2 là vấn đề trả tự do cho những người học tập cải tạo để cùng gia đình được xuất ngoại sang Hoa Kỳ theo nguyện vọng”.
Từ ngày 12/8/1987, 3 toán Công an từ Hà Nội đến trại này -đây là trại tập trung duy nhất còn lại trên đất Bắc- để phỏng vấn khoảng 200 trong số hơn 400 anh em chúng tôi đang bị giam tại đây. Họ làm việc trong 2 tuần lễ. Đến ngày 5/9/1987, toán Công an khác cũng từ Hà Nội đến đọc lệnh ra trại, và đây là đợt ra trại đầu tiên. Tôi trong số này.
Ngày 9/9/1987, 91 tù chính trị chúng tôi được đưa xuống Nam Định, lên xe lửa rời nhà ga này lúc 5 giờ chiều cùng ngày, và sau 3 ngày 3 đêm về đến Sài Gòn lúc 6 giờ chiều ngày 12/9/1987. Những ngày sau đó, anh em chúng tôi gặp nhau tại các cơ quan Công an khi đến đó làm giấy tờ tùy thân, mới biết là cùng về với anh em chúng tôi ngoài Bắc, có rất nhiều anh em bị giam trong các trại tập trung trong Nam cũng được về.
Đầu tháng 4/1991, vợ chồng tôi đến Hoa Kỳ đoàn tụ với các Con chúng tôi đã vượt biển trong năm 1980 và 1981. Mãi đến năm 1997, tôi được đọc lá thư ngày 10/6/1997 bằng Anh ngữ của cựu Đại tướng John W. Vessey, gởi anh Hội trưởng Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Minnesota khi ông được mời tham dự đại hội H.O. tại địa phương ông cư ngụ. Sở dĩ có lá thư vì ông không đến được, nên ông viết thư và muốn anh Hội trưởng đọc trong buổi họp mặt để mọi người tham dự được nghe tâm sự của ông.
Người dịch sang Việt ngữ là Ông hay Bà Nguyễn T. Ngọc Châu. Xin trích 3 đoạn :
“…Năm 1987, khi đang hồi hưu, tôi được Tổng thống Reagan cử làm Đặc Phái Viên đi Hà Nội thương thuyết. Một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu mà tôi được Tổng thống giao phó là phải tìm cách giải thoát những cựu chiến hữu Việt Nam đang bị giam giữ trong những cái gọi là “trại cải tạo”. Tôi cũng được quyền bảo đảm với chánh phủ Hà Nội rằng, Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận và đón tiếp những người tù cải tạo cùng gia đình họ sang Hoa Kỳ”.
“Trong những cuộc thương thuyết sơ khởi, chúng tôi không hi vọng hai bên sẽ có ngay những giải pháp chính trị, cho nên tất cả những hành động mở đường cho những thỏa ước tương lai đều mang danh “chiến dịch nhân đạo” -Humanitarian Operations- gọi tắt Anh ngữ là H.O. Do vậy mà danh từ H.O. được Cộng đồng Việt – Mỹ sử dụng, để nói về những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đang sinh sống trên đất Hoa Kỳ.
“Riêng với tôi, H.O. là biểu tượng của lòng dũng cảm, tinh thần phục vụ, và lòng hi sinh. Tất cả những ai được gọi là H.O. đều là những anh hùng thực sự trong thời đại chúng ta”.
Tôi đưa lá thư của cựu Đại tướng John W. Vessey vào đây, để quí độc giả thấy rõ sự dối trá của Đảng cộng sản Việt Nam khi họ huênh hoang rằng :
“Với chính sách khoan hồng nhân đạo, lãnh đạo nhà nước trả tự do cho ngụy quân ngụy quyền về với gia đình, sau khi họ học tập cải tạo tốt”.
(trích trong Wikipedia)
Trong khi chính xác là Đảng cộng sản Việt Nam sử dụng tù chính trị chúng tôi, trao đổi với chánh phủ Hoa Kỳ để mong được thiết lập bang giao, và hy vọng được Hoa Kỳ giúp đỡ nền kinh tế Việt Nam suy sụp.Tóm tắt : Vì rập khuôn hệ thống trại tập trung của Liên Xô -cộng sản quốc tế- nên giam giữ mà không cần tòa tuyên án hằng mấy trăm ngàn tù chính trị, như thể thế giới này không có ngành tư pháp trong hệ thống công quyền. Đến tháng 4/1992, hơn trăm người tù cuối cùng mới ra khỏi trại tập trung. Đúng là bản chất hận thù của cộng sản.
Nguồn : Wikipedia
Bắt nguồn từ việc khai thác đất hiếm trái phép tại Myanmar, nồng độ thạch…
Không ai có quyền dùng máu của những người đã chết để buộc những người…
Cuốn sách này không nhằm kết tội một chế độ, cũng không nhằm bảo vệ…
Trong thời đại AI, khi mọi nguồn tư liệu đều có thể được truy cập…
Mùa xuân này, thế bế tắc trên chiến trường đã chuyển sang có lợi cho…