Sự mâu thuẫn trong tư duy “bảo vệ truyền thống trước những giá trị mới du nhập” là một hiện tượng lịch sử và tâm lý xã hội có thể lý giải bằng 3 cơ chế cốt lõi. Nhân học văn hóa có khái niệm “invented tradition” (truyền thống được kiến tạo), do sử gia Eric Hobsbawm cùng Terence Ranger đưa ra trong cuốn “The Invention of Tradition” năm 1983: nhiều tập tục tưởng như lâu đời thực chất mới được sáng chế gần đây, nhưng khi tồn tại đủ lâu và được thể chế hóa bằng luật pháp, giáo dục, nghi lễ thì thế hệ sau sẽ mặc nhiên coi đó là “truyền thống từ ngàn đời”. Cái gọi là “truyền thống Việt Nam” mà nhiều người đang cố bảo vệ trước những ảnh hưởng đương đại, như trật tự phụ quyền, tư tưởng Nho gia, lễ nghi thờ cúng dòng họ, kiến trúc đình chùa kiểu Hán, thực chất là văn hóa Trung Hoa đã được Việt hóa và hóa thạch qua hơn 1.000 năm. Áo dài tân thời chịu ảnh hưởng mốt Le Mur của Pháp, chữ Quốc ngữ do các giáo sĩ truyền giáo tạo ra, hay cà phê sữa đá hiện nay cũng đang trong quá trình trở thành “truyền thống” theo đúng cơ chế đó.
Lý do người ta dễ chấp nhận yếu tố Hán và coi đó là truyền thống, nhưng lại dị ứng với những giá trị du nhập gần đây, nằm ở tốc độ và quy mô tiếp xúc. Văn hóa Hán du nhập qua hàng nghìn năm, thẩm thấu chậm rãi qua nhiều thế hệ thông qua bộ máy cai trị, khoa cử và sinh hoạt làng xã, đến mức người dân không còn nhận ra ranh giới giữa cái bản địa và cái du nhập. Làn sóng văn hóa hiện đại tràn vào với tốc độ cực nhanh, từ thời Pháp thuộc và bùng nổ qua internet, toàn cầu hóa, tạo ra một dạng sốc văn hóa khi các giá trị như chủ nghĩa cá nhân, tư duy phản biện, bình đẳng giới tấn công trực diện vào hệ giá trị Nho giáo vốn đề cao tính cộng đồng và trật tự thứ bậc. Khi trật tự cũ bị đe dọa quá nhanh, tâm lý phòng vệ tự nhiên của con người là bám lấy cái quen thuộc và gán cho nó nhãn “bản sắc dân tộc” để chống lại cái mới.
Sự tài tình của bộ máy Hán hóa không nằm ở chỗ bắt người Việt thừa nhận đây là văn hóa Trung Quốc, mà ở chỗ xóa vết tích ngoại lai của nó, biến các giáo điều Hán học như Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thành thước đo đạo đức duy nhất để làm người. Khi một người Việt sinh ra, lớn lên, đi học, thi cử, làm quan hay cày ruộng đều vận hành hoàn toàn trong hệ quy chiếu đó, họ không còn công cụ tư tưởng nào khác để so sánh và mặc nhiên định nghĩa đó chính là cách sống của người Việt. Bản chất văn hóa Việt Nam suốt chiều dài lịch sử là một cấu trúc cộng dồn gồm lớp bản địa Đông Sơn – Nam Á, lớp Hán hóa, lớp Pháp và lớp hiện đại toàn cầu; việc bài xích những ảnh hưởng đương đại nhân danh truyền thống thực chất là dùng lớp ngoại lai cũ đã quen để chống lại lớp ngoại lai mới chưa quen.
Ai Cập cổ đại có ngôn ngữ, chữ tượng hình, tín ngưỡng thờ thần Ra, Osiris và nền văn minh Pharaon kéo dài hàng nghìn năm. Đến thế kỷ VII, các đế chế Ả Rập chinh phục Ai Cập, đưa Hồi giáo và tiếng Ả Rập vào, quá trình Ả Rập hóa và Hồi giáo hóa xóa bỏ gần như toàn bộ ngôn ngữ và tín ngưỡng Ai Cập cổ đại. Ngày nay nhiều người Ai Cập coi văn hóa Ả Rập – Hồi giáo là truyền thống cốt lõi để bài xích các giá trị phương Tây, trong khi người Ai Cập hiện đại không phải gốc Ả Rập, và chính thứ “truyền thống” họ đang bảo vệ từng là lực lượng hủy diệt nền văn minh Pharaon nguyên bản của tổ tiên họ.
Đế chế Ba Tư cổ đại có quốc giáo là Hỏa giáo (Zoroastrianism), một tín ngưỡng bản địa do Zarathustra sáng lập. Khi quân Ả Rập xâm lược Ba Tư vào thế kỷ VII, họ tàn phá các đền thờ Hỏa giáo và ép người Ba Tư theo Hồi giáo. Đến cuộc cách mạng Hồi giáo năm 1979, chính quyền Iran biến Hồi giáo dòng Shi’ite thành ngọn cờ chống lại sự ảnh hưởng của phương Tây, tức là dùng một tôn giáo ngoại lai đến từ người Ả Rập, vốn là kẻ thù lịch sử của người Ba Tư, để gán cho nó nhãn “bản sắc dân tộc”.
Cư dân gốc vùng Anatolia, tức Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, từng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Hy Lạp – La Mã và Kitô giáo dưới thời đế chế Byzantine. Các bộ tộc Đột Quyết (Turk) từ Trung Á tràn vào, mang theo Hồi giáo và lập nên đế chế Ottoman. Dưới thời Erdogan, phe bảo thủ Thổ Nhĩ Kỳ đẩy mạnh phong trào Tân Ottoman, lấy Hồi giáo làm nền tảng truyền thống để bài xích các giá trị tự do phương Tây, dù cư dân nguyên bản vùng đất đó không theo Hồi giáo và chính người Đột Quyết cũng là yếu tố du nhập từ nơi khác.
Hiện tượng này lặp lại ở nhiều nơi vì ba lý do cốt lõi. Một là chủ nghĩa lãng mạn hóa quá khứ gần: con người có xu hướng chỉ nhớ và bám vào lớp văn hóa gần nhất định hình nên xã hội của họ, thường kéo dài vài trăm đến 1.000 năm gần đây, mà quên mất lớp văn hóa nguyên thủy trước đó. Hai là khái niệm “ngoại lai” bị thao túng bởi chính trị: một yếu tố bị coi là ngoại lai độc hại hay truyền thống thiêng liêng không phụ thuộc vào gốc gác thực sự của nó, mà phụ thuộc vào việc nó có đe dọa bộ máy quyền lực hiện tại hay không, nên Hồi giáo ở Iran hay Nho giáo ở Việt Nam thời phong kiến được chính quyền nâng thành bản sắc vì củng cố trật tự phục tùng, trong khi các giá trị phương Tây bị gán nhãn ngoại lai lai căng vì đe dọa trật tự đó. Ba là bản năng cần điểm tựa căn cước: khi đứng trước sự lấn lướt của văn minh toàn cầu hóa do phương Tây dẫn dắt, các dân tộc yếu thế về công nghệ và kinh tế tìm đến những thể chế tôn giáo, tư tưởng cổ xưa đã cắm rễ sâu trong đời sống cộng đồng làm vũ khí tinh thần, bất chấp nguồn gốc ban đầu của nó.
Một số nhà sử học và ngôn ngữ học đã đặt lại câu hỏi về mức độ “bản địa nguyên thủy” của văn hóa Việt Nam. Liam Kelley lập luận rằng nhiều sử gia Việt Nam hiện đại có xu hướng kéo dài căn cước dân tộc về càng xa càng tốt, thường về đến thời văn hóa Phùng Nguyên cách đây khoảng 4.000 năm, và vẽ ra một đường phát triển liên tục từ đó đến nay. Tiếng Việt thuộc nhánh Việtic của ngữ hệ Nam Á, không phải nhánh Hán, nên có nền tảng bản địa riêng biệt với tiếng Hán về mặt phả hệ ngôn ngữ; tuy vậy, qua nhiều thế kỷ tiếp xúc, tiếng Việt tiếp nhận một khối lượng lớn từ vựng, âm tiết và mô hình ngữ âm chịu ảnh hưởng Hán, với quá trình biến đổi mạnh nhất diễn ra vào cuối thiên niên kỷ I sau Công nguyên. Keith Taylor, người từng bảo vệ quan điểm về một căn cước Việt tồn tại trước khi tiếp xúc với người Hán trong công trình “The Birth of Vietnam” (1983), về sau cũng nhìn nhận lại rằng ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ chính thiên niên kỷ nằm dưới các đế chế Trung Hoa.
Trước thời Bắc thuộc, xã hội Việt cổ Văn Lang – Âu Lạc vận hành theo chế độ thủ lĩnh công xã, thị tộc, chưa có khái niệm trung quân hay trật tự quân thần, phụ tử như sau này. Nho giáo và mô hình nhà nước quan liêu được các quan lại nhà Hán du nhập từ thế kỷ I – II, sau đó các triều đại Lý, Trần, Lê tự chủ chủ động tiếp nhận để làm công cụ quản lý nhà nước. Người Việt cổ vốn có tín ngưỡng thờ cúng nghi lễ nông nghiệp và thần linh tự nhiên, còn mô hình gia đình phụ quyền với nhà thờ họ, gia phả, thờ cúng tổ tiên theo dòng họ nam giới là mô hình Nho giáo Trung Hoa được du nhập và ăn sâu vào đời sống xã hội.
Trước khi tiếp xúc với Trung Hoa, người Việt cổ chưa có chữ viết chính thức. Tiếng Việt-Mường cổ chủ yếu là các từ đơn âm chỉ công cụ, con vật, sinh hoạt hàng ngày như tay, chân, chó, mèo, ăn, uống. Chữ Hán được đưa vào qua đường đô hộ và giáo dục, kéo theo hàng vạn từ Hán nhập vào tiếng Việt như quốc gia, xã hội, giáo dục, văn hóa, chính trị, luật pháp, khiến ước tính khoảng 60-70% từ vựng tiếng Việt hiện đại có gốc Hán, tỷ lệ này dao động tùy cách thống kê nhưng các nhà nghiên cứu đều đồng thuận rằng nếu bỏ hết từ Hán-Việt thì vốn từ đơn âm gốc sẽ rất thiếu hụt để diễn đạt các khái niệm trừu tượng hay quản lý xã hội. Chữ Nôm tuy do người Việt sáng tạo để ghi âm tiếng Việt, nhưng được xây dựng hoàn toàn dựa trên cấu trúc và bộ thủ của chữ Hán.
“Tết” là phát âm lệch của từ “Tiết” (節), còn “Nguyên Đán” (元旦) nghĩa là buổi sáng đầu tiên của năm mới. Người Việt cổ gốc Nam Á vốn ăn mừng sau mùa thu hoạch, khoảng tháng 11-12 dương lịch, gần với Tết Cơm Mới, còn việc chốt ngày mùng 1 tháng Giêng làm đầu năm cùng hệ thống âm lịch với Can Chi và 24 tiết khí là sản phẩm du nhập từ Trung Quốc, áp đặt theo lịch của nhà Hán. Các ngày lễ khác trong năm cũng bắt nguồn từ điển tích Trung Hoa: Tết Trung Thu gắn với tục thưởng trăng thời Đường và truyền thuyết Hằng Nga – Hậu Nghệ, Tết Đoan Ngọ gắn với sự tích Khuất Nguyên gieo mình xuống sông Mịch La, Tết Hàn Thực gắn với điển tích Giới Tử Thôi chết cháy thời Tấn Văn Công, còn Tết Ông Táo bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Táo Quân trong Đạo giáo Trung Hoa.
Cấu trúc thành quách, kiến trúc gỗ nối mộng, mái cong, quy hoạch đối xứng qua trục thần đạo như ở Kinh thành Thăng Long hay Cố đô Huế tuân theo chặt chẽ thuật phong thủy và quy chuẩn kiến trúc phong kiến Trung Hoa; riêng quy hoạch Cố đô Huế chịu ảnh hưởng rõ rệt từ mô hình cung đình Trung Hoa, đặc biệt kiểu bố cục Tử Cấm Thành Bắc Kinh thời Minh – Thanh, với các nguyên tắc như “tả nam hữu nữ”, “tả văn hữu võ”, khu vực thiết triều đặt phía trước và khu vực sinh hoạt riêng của vua đặt phía sau, dù Huế không sao chép nguyên dạng mà kết hợp thêm địa thế sông Hương, núi Ngự Bình và kỹ thuật thành lũy kiểu Vauban của phương Tây. Người Việt cổ ở vùng sông nước Nam Á vốn có tín ngưỡng thờ Giao Long, thực chất là loài cá sấu hoặc rắn nước có thật trong đời sống, và đây là một trong những lớp tín ngưỡng bản địa tham gia vào quá trình hình thành hình tượng rồng sau này. Hình tượng rồng huyền thoại với đầu đà, sừng hươu, thân rắn, vảy cá chép mang đậm dấu ấn mỹ thuật và biểu tượng quyền lực đế vương của Trung Quốc qua các thời Hán, Đường, Tống, Minh; khi vào Việt Nam các triều đại biến đổi đường nét qua từng thời kỳ, như rồng thời Lý thân dài mảnh còn rồng thời Lê, Nguyễn dữ tợn hơn, và quy định về số móng rồng – 5 móng hay 4 móng gắn với việc xưng đế hay xưng vương đối với Trung Quốc – cũng thay đổi theo từng triều đại chứ không phải một quy chuẩn cố định xuyên suốt.
Các món ăn như bánh bao, hoành thánh, mì, đồ xào dùng chảo sâu lòng, tục uống trà và việc dùng đũa, trong khi người Đông Nam Á cổ đại ban đầu dùng tay hoặc thìa, là sự du nhập phong cách sinh hoạt Trung Hoa. Hệ thống lý luận Đông y dựa trên Âm Dương – Ngũ Hành, Khí – Huyết cũng dựa trên nền tảng y học cổ truyền Trung Hoa.
Trang phục của quan lại và dân chúng thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn được quy định dựa trên chế độ y quan của các triều đại Tống, Minh; áo dài tân thời sau này phát triển từ áo ngũ thân vốn chịu ảnh hưởng trang phục thời Minh – Thanh, trước khi tiếp tục chịu ảnh hưởng mốt Le Mur của Pháp trong thế kỷ XX.
Tam Cương Ngũ Thường là khung đạo đức được đúc kết dần qua nhiều văn bản kinh học thời Hán, trong đó Đổng Trọng Thư, nhà tư tưởng thời Tây Hán, giữ vai trò trung tâm khi chính thức đề xuất và hệ thống hóa khái niệm này dựa trên nền tảng triết lý Khổng Tử và Mạnh Tử. Tam Cương gồm ba mối quan hệ: quân thần, với vua là dây gốc và bề tôi phải tuyệt đối phục tùng; phụ tử, với cha là dây gốc và con phải tuyệt đối nghe lời; phu phụ, với chồng là dây gốc và vợ phải phụ thuộc hoàn toàn vào chồng. Ngũ Thường gồm 5 phẩm chất nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, là chuẩn mực giáo dục nhân cách cho tầng lớp sĩ phu của Trung Hoa, được đưa vào khoa cử Việt Nam qua các bộ sách kinh điển như Tứ Thư, Ngũ Kinh.
Trước khi bị Hán hóa, cộng đồng Bách Việt trong đó có Lạc Việt vận hành theo hình thái nông nghiệp lúa nước, và các dấu tích khảo cổ, hoa văn trống đồng cùng ghi chép của sử liệu Trung Hoa cho thấy đây nhiều khả năng là một xã hội mẫu hệ hoặc song hệ tương đối cởi mở. Phụ nữ giữ vai trò then chốt trong sản xuất, quản lý gia đình và thực hành nghi lễ tâm linh, đồng thời có vị thế chính trị và quân sự: khi bị nhà Hán áp đặt cai trị, Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm 40 và Bà Triệu khởi nghĩa năm 248 đều đứng lên với tư cách thủ lĩnh tối cao, thu hút hàng loạt nữ tướng như Lê Chân, Thánh Thiên, Thiều Hoa, cho thấy xã hội đương thời sẵn sàng phục tùng một nữ thủ lĩnh. Người phụ nữ cổ đại được ghi nhận có quyền tự do lựa chọn hôn nhân, quyền sở hữu tài sản riêng, và con cái thường coi trọng cả dòng họ bên ngoại.
Quan lại nhà Hán như Tích Quang, Nhâm Diên bắt đầu ép người Việt cưới xin theo lễ nghi Trung Hoa. Khi giành độc lập, các triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt nhà Lê Sơ với Bộ luật Hồng Đức và nhà Nguyễn với Luật Gia Long, đưa Tam Cương và Tam Tòng vào luật pháp: nhà Nguyễn với Luật Gia Long siết chặt trật tự phụ hệ, mọi quyết định lớn nhỏ trong gia đình do cha, chồng hoặc con trai quyết định. Riêng Bộ luật Hồng Đức thời Lê Sơ phức tạp hơn: bên cạnh việc củng cố trật tự phụ hệ và đạo đức Nho giáo, luật này vẫn giữ lại một số quyền tài sản và thừa kế của phụ nữ có gốc từ phong tục bản địa, như quyền hưởng một phần tài sản chung của vợ chồng và quyền của con gái trưởng được giữ hương hỏa khi gia đình không có con trai, cho thấy quá trình Nho giáo hóa pháp luật không xóa sạch hoàn toàn tập quán cũ. Quan niệm dân gian như “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” phản ánh tâm lý trọng nam khinh nữ phổ biến trong xã hội, dù không phải là điều khoản chính thức trong luật.
Tam Tòng Tứ Đức xuất hiện trong sách “Nữ Giới” do Ban Chiêu, nữ sử gia thời Đông Hán, biên soạn; đây là bộ đầu tiên trong “Nữ Tứ Thư” và trở thành sách giáo khoa hàng đầu cho phụ nữ phong kiến Trung Hoa suốt hàng nghìn năm. Tam Tòng quy định ba sự phụ thuộc suốt đời của người phụ nữ: tại gia tòng phụ, khi còn ở nhà thì nghe theo cha; xuất giá tòng phu, khi lấy chồng thì nghe theo chồng; phu tử tòng tử, khi chồng chết thì nghe theo con trai. Người phụ nữ theo đó không bao giờ có tư cách pháp lý hay độc lập về tài sản, nhân thân trong suốt cuộc đời.
Tứ Đức gồm công, tức việc thêu thùa nấu nướng, dung, tức diện mạo trang nhã đúng mực, ngôn, tức lời ăn tiếng nói nhỏ nhẹ từ tốn, và hạnh, tức đức hạnh nết na, trung thành với gia đình chồng. Khi du nhập vào Việt Nam, khuôn thước này biến hình tượng người phụ nữ Việt cổ vốn phóng khoáng, chủ động thành mẫu người chịu đựng, nhẫn nhịn vì gia đình phụ hệ.
Trong tư tưởng chính trị Nho giáo Trung Hoa, vua là “thiên tử”, con trời, được giao mệnh cai trị dân chúng; toàn bộ lãnh thổ, sông núi, dân chúng đều thuộc sở hữu của dòng họ vua theo tinh thần “dưới bầu trời không đâu không phải đất vua, trên mặt đất không ai không phải thần dân của vua”. Tư duy yêu nước hiện đại gắn liền với chủ quyền lãnh thổ và lợi ích của toàn dân, nhưng trong tư duy Nho giáo phong kiến, mất vua đồng nghĩa với mất nước: yêu nước bắt buộc phải biểu hiện bằng trung thành tuyệt đối với vua, và nếu một người chống lại vua dù với lý do vua bạo ngược hay bất tài, kẻ đó vẫn bị coi là tội đồ phản quốc, vì mưu phản là tội đứng đầu trong thập ác.
Khi nhà Lê Sơ xác lập trật tự Nho giáo gắt gao, những công thần khai quốc từng bị nghi kỵ cũng khó tránh khỏi kết cục bi thảm: Trần Nguyên Hãn tự sát năm 1429 khi bị vua Lê Thái Tổ nghi ngờ mưu phản, còn Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc năm 1442 sau khi bị quy kết liên can đến cái chết đột ngột của vua Lê Thái Tông trong vụ án Lệ Chi Viên, dù về sau được minh oan. Thời Nguyễn, khi thực dân Pháp xâm lược, các sĩ phu như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản dù biết triều đình nhu nhược vẫn rơi vào bi kịch tư tưởng giữa chiến đấu vì dân hay nghe lời vua bãi binh, và sự trói buộc của tư tưởng trung quân khiến nhiều người thà tự sát để giữ tròn đạo làm tôi thay vì tự tổ chức kháng chiến độc lập ngoài triều đình. Năm 1885, sau khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra sơn phòng Tân Sở và nhân danh nhà vua ban dụ Cần Vương kêu gọi kháng Pháp; tên gọi “Cần Vương” nghĩa là “giúp vua”, và đối với giới sĩ phu lúc đó, chiến đấu bảo vệ vua chính là hình thức cao nhất của lòng yêu nước.
Các triều đại phong kiến dùng khoa cử để định hình tư tưởng tầng lớp trí thức: muốn làm quan, sĩ phu bắt buộc phải thuộc lòng Tứ Thư, Ngũ Kinh và tư duy theo lối Khổng – Mạnh. Khi đã thấm nhuần Tam Cương Ngũ Thường và Trung quân ái quốc, giới sĩ phu tự động trở thành công cụ bảo vệ trật tự phong kiến, tự nguyện chấp nhận tư duy coi Trung Quốc là Trung Hoa văn minh trung tâm còn các vùng xung quanh là man di. Vì vậy, ngay cả khi người Việt giành được độc lập chính trị qua các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn, giới sĩ phu vẫn dùng chính bộ công cụ quản lý, luật pháp và tư tưởng của Trung Hoa để trị dân: họ chống lại sự xâm lược quân sự của phương Bắc nhưng lại tự giác củng cố sự xâm lược tư tưởng của phương Bắc trên đất Việt.
Đồng bằng Bắc Bộ là tâm điểm của các bộ máy cai trị qua các thời Tây Vu, Luy Lâu, Đại La, Thăng Long, vùng đất bằng phẳng, dễ quản lý, tập trung đông dân làm nông nghiệp lúa nước. Thông qua mô hình dòng họ phụ hệ, nhà thờ họ, gia phả, lệ làng, hương ước, các giá trị Hán học được cài cắm trực tiếp vào lễ nghi cưới xin, ma chay của người dân, và khi tư tưởng trọng nam khinh nữ, phụ quyền đã ăn sâu vào làng xã, cộng đồng tự giám sát lẫn nhau, ai làm khác đi sẽ bị coi là bất hiếu, vô đạo đức, khiến nhà nước phong kiến không cần tốn quân lính đến từng làng để cai trị.
Sự thuần phục văn hóa này thấy rõ khi so sánh với các vùng khác. Vùng núi phía Bắc như Thái, Mường, H’Mông có địa hình hiểm trở, ảnh hưởng Nho giáo yếu, nên giữ được tín ngưỡng, tập quán, trang phục và ngôn ngữ bản địa nguyên thủy hơn nhiều. Vùng Nam Bộ sau này tiếp xúc với văn hóa Chăm, Khmer và sống trong không gian mở, ít bị trói buộc bởi hệ thống làng xã Nho giáo gắt gao của Bắc Bộ, nên tính cách và phong tục phóng khoáng, bình đẳng hơn.
Nho giáo có sẵn một khung lý thuyết gọi là “Hoa Di chi biện”, tức phân biệt Hoa và Di: “Hoa” chỉ vùng đất hay nhóm người có văn hóa, lễ giáo, còn “Di” chỉ các nhóm bị coi là man rợ, chưa được giáo hóa; ranh giới này không thuần túy về địa lý hay chủng tộc mà là ranh giới văn minh – phi văn minh. Việt Nam tiếp nhận trọn khung tư tưởng này: đến thời Trần thế kỷ XIII, giới elite Đại Việt đã hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng Nho học và Hán học, nên trong thế giới quan đó, Mông Cổ chỉ là rợ Hồ, du mục, đứng hoàn toàn ngoài vòng văn minh. Giới sĩ phu và triều đình Đại Việt không coi Mông Cổ là trung tâm văn minh để bắt chước, dù bản thân đế chế Nguyên khi cai trị Trung Hoa cũng vay mượn không ít thiết chế hành chính và văn thư Hán để vận hành bộ máy; nhưng trong con mắt giới elite Đại Việt, gốc gác du mục Mông Cổ vẫn đứng ngoài khung Hoa Di nên không có tư cách làm chuẩn mực. Hai bên không chia sẻ nền tảng lễ giáo hay mô hình quản trị mà Đại Việt công nhận, nên cuộc chiến chống Mông – Nguyên là cuộc chiến sinh tồn thuần túy của một quốc gia có văn hiến trước một đế chế chinh phục bằng bạo lực, thể hiện qua sự đoàn kết trên dưới ở Hội nghị Diên Hồng và Hịch tướng sĩ.
Sự nội hóa khung Hoa Di này sâu đến mức về sau, các vua quan nhà Nguyễn trong “Đại Nam thực lục” tự gọi người Việt là “Hán nhân”, “Hán dân”, còn người Trung Quốc thời Thanh bị gọi là “Thanh nhân” vì tổ tiên nhà Thanh là người Mãn, bị xem là “di rợ”; đến khi tiếp xúc với phương Tây, chính người Pháp, người Anh cũng bị triều đình nhà Nguyễn gọi thẳng là “Dương di”, tức áp dụng lại nguyên xi khung phân biệt văn minh – man di đã vay mượn từ Trung Hoa để nhìn nhận một làn sóng ngoại lai mới.
Quan hệ với các triều đại người Hán phức tạp hơn nhiều vì chứa đựng cả sự thừa nhận văn hóa. Người Hán mang đến một bộ công cụ văn minh trọn gói gồm chữ viết, tư tưởng, luật pháp, kỹ thuật canh tác, mô hình nhà nước, nên giới trí thức Đại Việt một mặt chống lại sự thôn tính lãnh thổ, mặt khác lại coi Trung Hoa là đỉnh cao văn minh, gọi là Bắc triều. Khi Minh Thành Tổ xâm lược Đại Việt năm 1407, nhà Minh không chỉ dùng quân sự mà còn dùng chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, khiến nhiều sĩ phu Đại Việt ra làm quan cho nhà Minh vì cho rằng nhà Minh đại diện cho trật tự chính thống Nho gia; nhà Minh còn thu hồi sách vở, đốt phá di tích, bắt thợ giỏi và trí thức về Bắc Kinh, thi hành chính sách bắt người Việt mặc phục trang và để tóc theo kiểu Minh ở những nơi bộ máy cai trị vươn tới, dù mức độ thực thi và sự phản kháng khác nhau tùy từng vùng.
Chính vì xem người Hán là chuẩn mực văn minh, người Việt xưa rơi vào một thế bi kịch: về quân sự thì đấu tranh kiên cường giành độc lập, đuổi quân phương Bắc ra khỏi bờ cõi, nhưng về tư tưởng thì ngay sau khi thắng trận lại gửi sứ thần sang xin phong vương, dùng lại toàn bộ thể chế, luật pháp, kinh sách của chính kẻ vừa bị mình đánh bại để quản lý đất nước. Sự đồng hóa một phần này khiến việc người Hán thiết lập lại bộ máy đô hộ luôn dễ dàng và ăn sâu hơn nhiều so với bất kỳ lực lượng ngoại xâm nào khác trong lịch sử.
Đồng bằng Bắc Bộ là nơi tập trung dày đặc nhất bộ máy đô hộ, trường học Nho giáo và hệ thống làng xã bị Hán hóa, trong khi Thanh Hóa – Nghệ An có địa hình đồi núi hiểm trở, cộng đồng mang tính chất sơn cước, tự do và ít bị gò bó bởi tư tưởng trung quân hay luật lệ Nho gia. Lê Lợi xuất thân là tù trưởng vùng núi Lam Sơn, Thanh Hóa, với lực lượng nòng cốt ban đầu là các tộc người thiểu số và cư dân bán sơn địa, chiến đấu bằng bản năng tự do và tinh thần thượng võ chứ không bị trói buộc bởi tâm lý sợ nhà Minh hay tư tưởng Nho giáo giáo điều. Không chỉ Lê Lợi, các nhân vật như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Nguyễn Kim – Trịnh Kiểm đều gắn với Thanh Hóa, còn Quang Trung – Nguyễn Huệ gắn với Nghệ An, đều lấy vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh làm căn cứ bàn đạp để giải phóng Thăng Long.
Khi Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558, ông mở ra một không gian sinh tồn hoàn toàn mới. Đàng Trong là vùng đất giao thoa với văn hóa Champa, Khmer và mở cửa giao thương sớm với phương Tây, Nhật Bản, Trung Hoa thời Minh mạt, nên người Việt ở đây không bị trói buộc bởi hệ thống làng xã khép kín hay tư tưởng Nho giáo nặng nề của Bắc Bộ, tính cách phóng khoáng, thực dụng và dũng cảm hơn. Sự trỗi dậy của phong trào Tây Sơn ở Bình Định và việc Nguyễn Ánh thống nhất đất nước lập ra nhà Nguyễn đều bắt nguồn từ nguồn sinh khí của vùng đất phía Nam này.
Tuy nhiên, khi các thủ lĩnh sơn cước hay vùng xa đánh thắng và tiến về Thăng Long đặt bộ máy cai trị, họ lại bắt đầu bị Nho giáo hóa và đồng bằng hóa. Nhà Lê Sơ xuất phát từ Lam Sơn với tinh thần cởi mở, nhưng khi đã chiếm được Thăng Long, để quản lý một đất nước rộng lớn, nhà Lê không có công cụ nào khác ngoài Nho giáo, và đến thời Lê Thánh Tông, Nho giáo được đưa lên đỉnh cao, biến nhà Lê Sơ thành triều đại mang đậm dấu ấn Hán học nhất lịch sử Việt Nam. Nhà Nguyễn cũng vậy: rời bỏ sự phóng khoáng của Đàng Trong, khi thống nhất đất nước và chọn Huế làm thủ đô, nhà Nguyễn quay về áp dụng Luật Gia Long, chịu ảnh hưởng nặng của luật lệ nhà Thanh dù có chọn lọc và biên tập lại cho phù hợp thực tế Đại Nam, và lấy Nho giáo làm quốc giáo để duy trì sự cai trị.
FB Thuy My
Nguồn : Nghiên Cứu Lịch Sử
Các căn cứ của Trung Quốc trên các đảo thiên nhiên và đảo nhân tạo…
Năm nay danh hiệu “Hòa bình khả phong” mà Putin lập ra về tay Tô…
Nhà báo Đào Tuấn, thẳng thắn viết trên báo Lao Động là cần một câu…
Một điều khá thú vị mà người viết đã nêu ra nhiều lần, và nên…
Hệ thống nhiệt điện than theo Quy Hoạch Điện VII năm 2011, thì năm 2010…