Chuỗi Dài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam : Tội Ác Vụ 16 Tấn Vàng Tài Sản Quốc Gia

Bài viết này là phần 14 / 24 trong loạt bài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Từ 1945 Đến 2019

Ngay sau khi nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam ngày 30/4/1975, Đảng cộng sản Việt Nam tịch thu toàn bộ tài sản quốc gia, lúc ấy trong ngân hàng quốc gia còn khối tiền mặt trị giá hơn 1.000 tỷ đồng, và 16 tấn vàng khối.

Bài viết nhan đề “Câu chuyện 16 tấn vàng trong Ngân hàng Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa sau ngày 30/4/1975”, do người giữ chìa khóa kho vàng của ngân hàng quốc gia là ông Huỳnh Bửu Sơn kể lại :

“…Những ngày đầu tháng 5/1975, tôi vào trình diện tại Ngân hàng Quốc gia ở 17 Bến Chương Dương thủ đô Sài Gòn, cùng các đồng nghiệp khác, chỉ thiếu vắng một vài người. Chúng tôi được lệnh của Ban Quân Quản Ngân Hàng Quốc gia là chờ phân công tác. Trong khi chờ đợi, mỗi ngày mọi người đều phải có mặt tại cơ quan. Tôi được giao công tác tại Vụ Phát Hành và Kho Quỹ. Những ngày tiếp theo, Ban Quân quản tổ chức học tập tại chỗ ba ngày cho các viên chức ở lại và cấp giấy chứng nhận học tập cải tạo. Lúc đó, giấy chứng nhận này chính là một lá bùa hộ mệnh…

Đầu tháng 6/1975, tôi được lệnh của Ban Quân quản Ngân Hàng Quốc gia kiểm kê kho tiền và vàng của chế độ cũ, các kho tiền và vàng thuộc quyền quản trị của Nha Phát Hành, nơi tôi làm việc trong ban lãnh đạo từ năm 1970 với tư cách là kiểm soát viên. Anh Giám đốc Nha Phát Hành đã đi cải tạo tập trung, trong số người còn lại chỉ có tôi là người giữ chìa khóa, và anh Lê Minh Kiêm -chánh sự vụ- là người giữ mã số của các hầm bạc. Việc kiểm kê kho tiền và vàng là việc chúng tôi làm thường xuyên hằng tháng, hằng năm nên không có gì đặc biệt. Chỉ có một điều là tôi biết lần kiểm kê này chắc chắn là lần kiểm kê cuối cùng đối với tôi, kho tiền và vàng sẽ được bàn giao cho nhà cầm quyền mới.

Trong những ngày hỗn loạn, các hầm bạc của Ngân hàng Quốc gia vẫn được chúng tôi quản trị một cách an toàn. Cần nói thêm là các hầm bạc được xây rất kiên cố với hai lớp tường dày, mỗi lớp gần nửa thước, các cửa hầm bằng thép có hai ổ khóa và mật mã riêng, được thay đổi định kỳ, mỗi cánh cửa nặng trên 1.000 kí lô.

Đại diện Ban Quân Quản là một người khoảng 50 tuổi, kiểm kê là một anh bộ đội còn rất trẻ và khá thân thiện. Anh hay nắm tay tôi trò chuyện, sau này tôi mới biết tên anh là Hoàng Minh Duyệt, chỉ huy phó đơn vị tiếp quản Ngân Hàng Quốc Gia.

Số vàng đúc lưu giữ tại kho của Ngân Hàng Quốc gia vào lác ấy gồm vàng thoi, và các loại tiền vàng nguyên chất. Có ba loại vàng thoi :

1) Vàng thoi mua của Cục Dự Trữ liên bang Mỹ (FED).

2) Vàng thoi mua của một công ty đúc vàng ở Nam Phi là Công ty Montagu.

3) Vàng thỏi được đúc tại Việt Nam, do tiệm vàng Kim Thành đúc từ số vàng do quan thuế tịch thu từ những người buôn lậu qua biên giới, phần lớn từ Lào. Tất cả 1.234 thỏi vàng nguyên chất X mỗi thỏi nặng 12 đến 14 kí lô = 16.000 kí lô. Trên mỗi thỏi đều có khắc số hiệu và tuổi vàng (thường là 9997, 9998). Các thỏi vàng được cất trong những tủ sắt có hai lớp khóa và được đặt trên những kệ bằng thép, mỗi kệ được xếp khoảng năm, sáu thỏi vàng. Nhưng qua năm tháng, bị nặng trĩu trước sức nặng của vàng, các kệ thép cũng bị vênh đi ít nhiều.

Các đồng tiền vàng được giữ trong những hộp gỗ đặt trong tủ sắt. Đó là những đồng tiền vàng cổ có nhiều loại, được đúc và phát hành từ thế kỷ 18, 19, từ nhiều quốc gia khác nhau… Ngoài giá trị của vàng nguyên chất, các đồng tiền này còn được tính theo giá trị tiền cổ, gấp nhiều lần giá trị vàng nội tại của nó. Tất cả thỏi vàng và tiền vàng cổ đều được ghi chi tiết từng đơn vị, số hiệu, tuổi vàng, số lượng ghi trong một sổ kiểm kê do bộ phận điện toán (computer) của ngân hàng theo dõi định kỳ hằng tháng, hằng năm, hoặc bất cứ khi nào có thay đổi xuất nhập.

Công tác kiểm kê trong hai ngày liền. Số giấy bạc dự trữ trong các thùng bằng gỗ thông được niền bằng đai sắt và niêm chì, mỗi thùng ghi rõ mệnh giá, loại giấy bạc, số lượng. Do đó chỉ cần kiểm kê số lượng thùng bạc, các chi tiết tương ứng và đối chiếu với sổ sách được điện toán hóa. Lúc đó, loại giấy bạc mệnh giá cao nhất chỉ có 1.000 đồng, thuộc loại mới phát hành, có in hình các con thú hoang trong rừng rậm Việt Nam. Ngoài ra vẫn còn tồn kho và tiếp tục phát hành loại giấy bạc nổi tiếng có in hình danh tướng Trần Hưng Đạo, mệnh giá 500 đồng. Tổng giá trị giấy bạc dự trữ trong kho lúc đó -nếu tôi nhớ không lầm- là hơn 1.000 tỷ đồng, gấp đôi lượng tiền lưu hành tại Việt Nam Cộng Hòa đến ngày 30/4/1975.

Chỉ trong một buổi sáng, chúng tôi đã kiểm kê xong số lượng giấy bạc dự trữ. Việc kiểm kê số vàng chiếm nhiều thời gian hơn vì phải kiểm kê từng thỏi vàng một để xem trọng lượng, tuổi vàng và số hiệu có đúng với sổ sách hay không. Cuộc kiểm kê kết thúc, ai nấy đều vui vẻ thấy số lượng tiền và vàng kiểm kê đều đúng với sổ sách điện toán từng chi tiết nhỏ. Tôi ký vào biên bản kiểm kê, lòng cảm thấy nhẹ nhõm. Việc bàn giao tài sản quốc gia cho nhà cầm quyền mới đã hoàn tất. Sau chiến tranh, ít nhất đất nước cũng còn lại một chút gì, dù khiêm tốn, để bắt đầu xây dựng lại. Về phía chúng tôi, điều này cũng chứng minh một cung cách quản trị đúng đắn minh bạch của những người đã từng làm việc tại Ngân Hàng Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa”.

Năm 2010, cựu Đại tá cộng sản Việt Nam Bùi Tín, tổng biên tập báo Nhân Dân của đảng, có bài viết liên quan đế 16 tấn vàng nói trên. Trích một đoạn :

“... Năm 1987, tôi gặp ông Trường Chinh tại Đà Lạt, tôi kể lại chuyện 16 tấn vàng thì ông cho biết : Tôi có biết chuyện này, nhưng hết sạch cả rồi. Trong mấy năm khó khăn, cấu véo hết tấn này đến tấn khác, mua lương thực, nguyên liệu, nay còn gì nữa đâu”. Trích một đoạn khác của ông Tín : “Đây là câu duy nhất mà tôi nghe được về số phận của hơn 16 tấn vàng năm 1975, từ miệng của một nhà lãnh đạo”.

Ông Bùi Tín cho biết thêm : “Trong các phiên họp của chính phủ cũng như của Quốc hội sau 30/4/1975, và tháng 4/2012 Bộ Quốc phòng họp để viết về ngày 30/4/1975, không một chi tiết nào, cũng không một vị nào hỏi, hay nói đến vụ 16 tấn vàng lấy trong ngân hàng của chế độ cũ tại Sài Gòn hồi tháng 5/1975, mà đảng đã sử dụng phi cơ chở tất cả ra Hà Nội”.Tóm tắt : Chở 16 tấn vàng thoi về Hà Nội, khi được hỏi thì Đảng cộng sản Việt Nam là Trường Chinh trả lời, làm cho người nghe tưởng như ông vừa đi chợ về vậy. Đã lấy số vàng đó mà không cấp lãnh đạo trung ương nào, cũng như đại biểu nào trong Quốc hội biết đến, nhưng lại vu khống cho lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chở ra ngoại quốc. Đúng là bản chất vừa cướp đoạt vừa nói láo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Nguồn : Tác giả Huỳnh Bửu Sơn

Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Từ 1945 Đến 2019

Chuỗi Dài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam : Tội Ác Quẳng Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa Ra Đường Chuỗi Dài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam : Tội Ác Đày Đọa Hằng Triệu Người Trong Trại Tập Trung
Việt Thắng

Việt Thắng

Sông Mekong: Ô nhiễm thạch tín ở Myanmar sẽ lan tới Việt Nam (Huỳnh Lam)

Bắt nguồn từ việc khai thác đất hiếm trái phép tại Myanmar, nồng độ thạch…

2 ngày

Lá Thư Của Kỷ Nguyên

Công cuộc đấu tranh cho dân chủ lần này cũng là để những khổ đau…

3 ngày

Không Ai Có Nghĩa Vụ Sống Thay Cho Người Đã Chết (Hoàng Quốc Dũng)

Không ai có quyền dùng máu của những người đã chết để buộc những người…

4 ngày

Bí Mật Chính Trị Của Đổi Mới Việt Nam: Khi Quyền Lực Vận Hành Như Một Hệ Sinh Thái (Ngô Tràng An)

Cuốn sách này không nhằm kết tội một chế độ, cũng không nhằm bảo vệ…

5 ngày

Lạm Bàn Về Cuộc Đấu Tố Mới Xung Quanh Ông Hồ Chí Minh (Tư Tiếu Nguyễn Hữu Quang)

Trong thời đại AI, khi mọi nguồn tư liệu đều có thể được truy cập…

5 ngày

Ukraine đang thắng thế (Michael McFaul)

Mùa xuân này, thế bế tắc trên chiến trường đã chuyển sang có lợi cho…

6 ngày