Lịch sử không lặp lại, nhưng đôi khi “lịch sử gieo vần”. Tám mươi năm trước, những lá thư gửi Washington không đủ để thay đổi cách một cường quốc đọc bản đồ quyền lực. Những ngày qua, vài chục hợp đồng ở New York cũng chưa chắc làm được điều đó. Một Tô Lâm có những ngày rất bận rộn ở New York. Một cường quốc có thể nghe rất kỹ những gì một chính quyền đối tác nói về mình, nhưng cuối cùng vẫn hoạch định chiến lược theo những gì họ quan sát được từ hành vi của chính quyền ấy và từ vị trí thực tế của quốc gia đó trên bàn cờ.
Hoàng Trường
Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, gặp Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer, Quyền Bộ trưởng Hải quân Hung Cao, các nghị sĩ Mỹ, giới doanh nghiệp, học giả, bạn bè Mỹ và cộng đồng người Việt. Ông trả lời Bloomberg, phát biểu tại Foreign Policy Association và dành khá nhiều thời gian nói về tương lai quan hệ Việt–Mỹ. Một hội nghị doanh nghiệp cũng được chuẩn bị với hàng loạt thỏa thuận trong năng lượng, hàng không, công nghệ và tài chính; theo Reuters, danh mục dự kiến có thể lên tới 29 thỏa thuận.
Đúng là một chương trình “đặc quánh”! Nhưng chính giữa sự bận rộn ấy lại nổi lên một khoảng trống: dường như không có cuộc hội đàm song phương chính thức nào giữa Tổng thống Donald Trump và Tổng Bí thư Tô Lâm trong chặng New York vừa qua. Một cái bắt tay, một câu chào hỏi hay vài phút trao đổi bên hành lang Đại hội đồng Liên Hợp Quốc — nếu có — không phải điều bài viết này muốn nói tới. Ngoại giao nguyên thủ phân biệt rất rõ một cuộc gặp xã giao với một cuộc hội đàm có chương trình nghị sự, thành phần hai đoàn và nội dung chính thức.
Khoảng trống ấy đáng chú ý hơn bởi Việt Nam và Hoa Kỳ đã là “Đối tác Chiến lược Toàn diện” (CSP) từ năm 2023. Phải chăng chính ở đây xuất hiện một nghịch lý mới của quan hệ Việt–Mỹ: danh xưng “đối tác” đã lên rất cao, nhưng khoảng cách chiến lược giữa hai nước chưa chắc đã thu hẹp với cùng tốc độ?
Cần nói ngay một chi tiết để tránh cường điệu hóa. Tô Lâm không phải chưa từng được Donald Trump tiếp tại Nhà Trắng. Ngày 20/2/2026, nhân dịp sang Washington dự phiên khai mạc Hội đồng Hòa bình về Gaza, ông đã gặp Trump tại Nhà Trắng. Reuters gọi đây là cuộc gặp chính thức trực tiếp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo; dịp đó cũng gắn với những hợp đồng thương mại lớn, trong đó có việc các hãng hàng không Việt Nam mua máy bay Boeing.
Nhưng được mời tới một sự kiện đa phương rồi có cuộc gặp với chủ nhà là một chuyện; một chuyến thăm song phương chính thức mà quan hệ Việt–Mỹ trở thành trung tâm của chương trình nghị sự lại là chuyện khác. Điều thứ hai ấy cho đến nay vẫn chưa xảy ra. Câu hỏi đáng đặt ra sau những ngày New York không nên giản lược thành: “Tại sao Trump không chịu tiếp Tô Lâm?” Donald Trump nổi tiếng có thể thay đổi thái độ rất nhanh, trong khi chính sách của một cường quốc không chỉ được quyết định bởi tâm trạng của một tổng thống.
Đằng sau Nhà Trắng còn có Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc, Bộ Thương mại, USTR, Quốc hội, cộng đồng tình báo và cả một hệ thống hoạch định chiến lược. Họ không nhìn Việt Nam chỉ qua những tuyên bố hữu nghị. Họ còn nhìn vào thương mại, an ninh, chuỗi cung ứng, Biển Đông và quan hệ Việt–Trung. Nói cách khác, câu hỏi lớn hơn không phải Trump có dành cho Tô Lâm một ô trong lịch làm việc hay không, mà là Việt Nam thực sự đứng ở đâu trong cấu trúc quyền lực đang hình thành tại Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương?
Gần tám thập niên trước, trong một hoàn cảnh hoàn toàn khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng đặt nhiều hy vọng vào Washington. Trong năm 1945 và đầu năm 1946, ông nhiều lần gửi thư, điện và thông điệp tới Tổng thống Harry Truman và các quan chức Hoa Kỳ, tìm kiếm sự quan tâm và hậu thuẫn của Washington đối với nền độc lập của Việt Nam. Hồ sơ ngoại giao Hoa Kỳ còn lưu lại những văn kiện ấy, nhưng Washington đã không đáp lại theo cách Hồ Chí Minh mong muốn.
Không nên giải thích sự lựa chọn của Mỹ lúc ấy bằng một nguyên nhân duy nhất. Hoa Kỳ hậu Thế chiến II phải tính tới nước Pháp, việc tái thiết châu Âu, Liên Xô, Trung Quốc, sự hình thành của Chiến tranh Lạnh và vị trí ngày càng quan trọng của phong trào cộng sản quốc tế. Washington không chỉ đọc những gì Hồ Chí Minh viết về mình; họ còn nhìn vào lực lượng ông lãnh đạo, lịch sử chính trị của nó và những liên hệ quốc tế của phong trào cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán tháng 11/1945, nhưng một thay đổi về hình thức tổ chức không tự động xóa đi những câu hỏi của người Mỹ về căn cước chính trị và định hướng lâu dài của Việt Minh. Những lá thư gửi Truman cũng không đủ sức khiến Washington ngừng đặt Việt Nam vào bàn cờ lớn hơn đang hình thành sau Thế chiến II.
Năm 2026 tất nhiên không phải năm 1945. Tô Lâm không phải Hồ Chí Minh và Donald Trump càng không phải Harry Truman. Nhưng giữa hai thời điểm cách nhau hơn tám mươi năm vẫn có một điểm tương đồng đáng suy nghĩ: Washington nghe những gì Hà Nội nói về mình, nhưng đồng thời nhìn những gì Hà Nội làm và những quan hệ mà Hà Nội thực sự duy trì. Ngày trước, phía sau câu chuyện Việt Nam là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào cộng sản quốc tế; ngày nay, câu hỏi chiến lược lại trở về với một l nguyền quen thuộc: Trung Quốc.
Điều ấy hiện lên khá rõ trong cuộc gặp giữa Tô Lâm và Đại diện Thương mại Hoa Kỳ Jamieson Greer tại New York. Tô Lâm khẳng định Việt Nam không chấp nhận việc hàng hóa Trung Quốc được chuyển tải qua Việt Nam để né thuế Hoa Kỳ, đồng thời nói về việc tăng nhập khẩu hàng Mỹ và thúc đẩy nhanh một thỏa thuận thương mại. Greer cho biết đàm phán đã đạt tiến triển đáng kể và hai bên đang tiến gần tới kết quả cuối cùng.
Nhưng Washington không chỉ nghe những lời bảo đảm ấy. Tháng 7/2026, theo Bloomberg được Reuters dẫn lại, các quan chức Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ đã tiến hành những cuộc kiểm tra không báo trước tại một số nhà máy ở Việt Nam có liên hệ với Trung Quốc. Họ kiểm tra chứng từ, nguồn nguyên liệu và quy trình sản xuất nhằm xác định phần giá trị thực sự được tạo ra tại Việt Nam trước khi hàng hóa được xuất sang Hoa Kỳ. Reuters khi đó thận trọng lưu ý họ chưa thể kiểm chứng độc lập toàn bộ thông tin và chưa có cơ sở để biến những cuộc kiểm tra này thành kết luận bao quát rằng hàng Trung Quốc đang bất hợp pháp tràn qua Việt Nam.
Chính sự thận trọng ấy lại giúp nhìn đúng bản chất vấn đề. Washington không cần tranh luận bằng khẩu hiệu xem một món hàng là “Việt Nam” hay “Trung Quốc”; họ kiểm tra hóa đơn, nguyên liệu, nhà máy, tỷ lệ giá trị gia tăng và chuỗi cung ứng. Cuối tháng 7, Mỹ và Việt Nam còn phải tổ chức riêng một chương trình hợp tác nhằm chống chuyển tải bất hợp pháp và gian lận thương mại. Chuyện hàng Trung Quốc đi vòng qua Việt Nam vì thế không còn chỉ là một lời cáo buộc trên báo chí; nó đã trở thành một hồ sơ chính thức trong quan hệ thương mại hai nước.
Bởi vậy, vấn đề không phải Washington có “tin” Tô Lâm hay không. Một cường quốc không hoạch định chính sách chỉ trên lời bảo đảm của một nhà lãnh đạo. Nó đối chiếu lời nói ấy với thương mại, dòng vốn, hải quan, chuỗi cung ứng, quan hệ quân sự, những cam kết chính trị và toàn bộ cấu trúc liên kết của quốc gia đó. Đây cũng là điểm mà phép đối chiếu 1945–2026 trở nên đáng suy nghĩ nhất: tám mươi năm trước Washington không chỉ đọc thư Hồ Chí Minh; tám mươi năm sau họ cũng không chỉ nghe những gì Tô Lâm nói ở New York.
Nghịch lý sâu hơn nằm ở chỗ Trung Quốc không ngồi cạnh Jamieson Greer trong cuộc gặp với Tô Lâm, nhưng Trung Quốc vẫn hiện diện trong chính nội dung cuộc gặp ấy: từ chuyển tải hàng hóa, xuất xứ sản phẩm đến chuỗi cung ứng và thặng dư thương mại. Xa hơn kinh tế là tầng quan hệ cùng “chia sẻ tương lai” giữa Hà Nội và Bắc Kinh.
Tháng 4/2026, trong chuyến thăm cấp nhà nước của Tô Lâm tới Trung Quốc, hai nước ra tuyên bố chung tiếp tục làm sâu sắc “Quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” và thúc đẩy xây dựng
“Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam–Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở tầm mức cao hơn trong kỷ nguyên mới”.
Đó không phải ngôn ngữ do Washington gán cho Hà Nội, mà là văn kiện do chính Hà Nội và Bắc Kinh thỏa thuận.
Điều đó không có nghĩa Việt Nam đã “chọn Trung Quốc”. Quan hệ Việt–Trung chứa đồng thời hợp tác và bất đối xứng, giao thoa và nghi kỵ, phụ thuộc kinh tế và tranh chấp Biển Đông, quan hệ Đảng–Đảng và nỗi ám ảnh lâu dài về tự chủ quốc gia. Chính vì thế, nó phức tạp hơn rất nhiều một lựa chọn nhị nguyên “theo Mỹ” hay “theo Trung Quốc”. Nhưng cũng chính vì thế, Washington có lý do để đặt câu hỏi Việt Nam muốn được nhìn nhận như một chủ thể chiến lược độc lập đến mức nào, trong khi đồng thời tiếp tục nâng quan hệ với Bắc Kinh bằng “một hệ khái niệm” chính trị sâu đến vậy?
Và đấy có lẽ mới là “con voi trong phòng” trong những ngày Tô Lâm ở New York. Trung Quốc hầu như không được gọi tên trong các cuộc tiếp xúc Mỹ–Việt, nhưng lại hiện diện phía sau hầu hết những vấn đề khó nhất: từ chuyển tải hàng hóa, xuất xứ sản phẩm và chuỗi cung ứng đến Biển Đông và câu hỏi Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong cấu trúc Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương đang định hình. Chính độ sâu và tính chất đặc biệt của quan hệ Việt–Trung khiến Bắc Kinh trở thành một biến số mà Washington khó có thể bỏ qua khi đánh giá giới hạn cũng như triển vọng của quan hệ chiến lược với Hà Nội.
Bởi vậy, điều đáng phân tích hơn chuyện Trump có dành cho Tô Lâm một giờ ở New York hay không nằm ở một chữ khác:
FOIP [ Free and Open Indo-Pacific, Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương tự do và rộng mở ].
Điều thú vị là phiên bản FOIP cập nhật của Nhật Bản năm 2026 lại được công bố ngay tại Hà Nội, với trọng tâm vào hạ tầng kinh tế trong thời đại AI, sức chống chịu của chuỗi cung ứng năng lượng và khoáng sản thiết yếu, các luật chơi chung và tăng cường hợp tác an ninh để bảo đảm hòa bình, ổn định khu vực.
Nam có lợi ích khách quan trùng với nhiều thành tố của tầm nhìn ấy. Việt Nam cần một Biển Đông không bị một cường quốc áp đặt; cần tự do hàng hải, UNCLOS-1982, chuỗi cung ứng đa dạng, thị trường Mỹ, công nghệ Mỹ–Nhật–Hàn, đầu tư phương Tây và một trật tự khu vực trong đó nước nhỏ không phải chấp nhận luật chơi của nước lớn. Nhưng lợi ích giao nhau chưa đồng nghĩa với hội tụ chiến lược.
Nhưng cho tới nay, Hà Nội vẫn tránh tự đặt mình vào một cấu trúc an ninh có thể bị Bắc Kinh hiểu là nhằm kiềm chế Trung Quốc. Đó là một lựa chọn có thể giải thích được từ địa lý, lịch sử và tính toán lợi ích của Việt Nam. Nhưng lựa chọn nào cũng có hệ quả. Nếu Hà Nội muốn đứng đủ xa những cấu trúc chiến lược do Hoa Kỳ và đồng minh xây dựng để Bắc Kinh không cảm thấy bị đe dọa, Washington cũng có lý do để tự hỏi Việt Nam có thể tiến gần mình đến mức nào.
Ở đây, khoảng cách giữa
CSP và FOIP
đáng chú ý hơn khoảng cách giữa hai chiếc ghế trong một phòng họp ở New York. Một bên là cấp độ danh xưng của quan hệ song phương (Đối tác cũ); bên kia là câu hỏi hai nước thực sự nhìn trật tự khu vực giống nhau đến đâu (Cựu thù mới). Có thể ký tá rất nhiều hợp đồng mà vẫn không trung hòa được hai về này.
Ba thập niên bình thường hóa đã biến hai cựu thù thành đối tác. Năm 2023, Việt Nam và Hoa Kỳ trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện. Nhưng “cựu thù mới” trong tương quan này hoàn toàn không có nghĩa hai nước đang trở lại thành đối địch; nó chỉ bộc lộ một nghịch lý tinh tế hơn: những đường ranh từng chia hai nước trong quá khứ đã mất đi, nhưng những đường ranh mới về lợi ích, thể chế, thương mại và lựa chọn chiến lược lại xuất hiện ngay bên trong quan hệ mới.
Washington muốn những chuỗi cung ứng đáng tin cậy hơn và bớt phụ thuộc Trung Quốc. Hà Nội muốn thị trường, vốn và công nghệ Mỹ, nhưng nền kinh tế vẫn gắn rất sâu với chuỗi cung ứng Trung Quốc. Washington cùng Tokyo và các đồng minh xây dựng một cấu trúc Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương dựa trên luật lệ, sức chống chịu kinh tế và hợp tác an ninh (FOIP); Hà Nội chia sẻ nhiều lợi ích của cấu trúc ấy, nhưng vẫn giữ khoảng cách để không biến quan hệ với Bắc Kinh thành đối đầu. Trong khi đó, quan hệ Đảng–Đảng Việt–Trung tiếp tục được nâng cao bằng những cam kết chính trị mà quan hệ Việt–Mỹ không có và cũng không thể có.
Có nhất thiết nên cắt nghĩa đây là sự “hai mặt của hà Nội”? Hay đơn giản, đây chỉ là cách một quốc gia nhỏ hơn cố gắng duy trì không gian hành động bên cạnh một gã láng giềng khổng lồ, đồng thời mở rộng quan hệ với một siêu cường ở bên kia Thái Bình Dương? Nhưng một chiến lược cân bằng chỉ bền vững khi các bên còn tin rằng người đứng giữa có đủ khả năng tự chủ; nếu không, “đứng giữa” rất dễ biến thành bị cả hai phía cùng đặt câu hỏi.
Bởi vậy, điều đáng suy nghĩ nhất về chuyến New York lần này có lẽ không phải là một cuộc gặp đã không diễn ra. Tô Lâm vẫn có thể trở về với những kết quả cụ thể: đàm phán thương mại tiến triển, nhiều thỏa thuận doanh nghiệp được chuẩn bị và quan hệ kinh tế Việt–Mỹ tiếp tục mở rộng. Việt Nam vẫn có giá trị đáng kể đối với chiến lược kinh tế của Hoa Kỳ, cũng như Hoa Kỳ có ý nghĩa ngày càng lớn đối với nhu cầu đa dạng hóa thị trường, công nghệ và quan hệ đối ngoại của Việt Nam.
Nhưng tất cả những điều ấy không xóa được câu hỏi chiến lược. Năm 1945, Hồ Chí Minh tìm cách nói với Washington rằng một nước Việt Nam độc lập có thể có chỗ trong trật tự thế giới mà Hoa Kỳ đang góp phần xây dựng. Washington không chỉ đọc những lá thư ấy mà còn nhìn vào bản đồ quyền lực giữa Hà Nội với Bắc Kinh và Mátxcơva. Năm 2026, Tô Lâm nói với người Mỹ về độc lập, tự chủ, hợp tác, thương mại công bằng và một quan hệ Việt–Mỹ sâu sắc hơn; Washington cũng không chỉ nghe những bài diễn văn ấy mà còn nhìn vào container hàng hóa, nhà máy, chuỗi cung ứng, Biển Đông, quan hệ Đảng–Đảng và những văn kiện Hà Nội ký với Bắc Kinh.
Lịch sử không lặp lại, nhưng đôi khi “lịch sử gieo vần”. Tám mươi năm trước, những lá thư gửi Washington không đủ để thay đổi cách một cường quốc đọc bản đồ quyền lực. Tám mươi năm sau, vài chục hợp đồng ở New York cũng chưa chắc làm được điều đó. Một cường quốc có thể nghe rất kỹ những gì một chính quyền đối tác nói về mình, nhưng cuối cùng vẫn hoạch định chiến lược theo những gì họ quan sát được từ hành vi của chính quyền ấy và từ vị trí thực tế của quốc gia đó trên bàn cờ.
Có những khoảng cách ngoại giao có thể rút ngắn bằng một chuyến bay, những khoảng cách thương mại có thể thu hẹp bằng vài chục hợp đồng. Nhưng khoảng cách chiến lược chỉ thu hẹp khi hai phía biết họ có thể cùng đi với nhau đến đâu. Sau tất cả những cuộc gặp, diễn văn và hợp đồng trong những ngày rất bận rộn của Tô Lâm ở New York, có lẽ đó mới là câu hỏi còn lại.
Tham khảo:
Hơn nửa thế kỷ sau 1975, người Việt ở nước ngoài không cần được nghe…
Một cộng đồng có thể tồn tại rất lâu mà chưa nhất thiết trưởng thành…
Việt Nam đang trải qua một trong những cuộc tái cấu trúc bộ máy nhà…
Mấy ngày nay, mưa lớn từ Bắc chí Nam. Phố thành sông, nhà thành hồ,…
Việc phung phí tài nguyên cho “văn minh đá” hay “văn minh bê tông” như…
Câu hỏi hiện nay không chỉ là tên ông Trump có được phép xuất hiện…