Phần I đã nhìn lại lịch sử Việt Nam qua những chu kỳ thử thách, thích nghi và khôi phục chủ quyền. Phần II này sẽ đi sâu hơn vào những năng lực đã làm nên sức sống bên dưới các chu kỳ ấy. Điều gì giúp người Việt nhiều lần co lại mà không tan rã, tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài mà không hoàn toàn đánh mất mình, phân tán khi hiểm nguy rồi lại hội tụ khi thời cơ trở lại?
Nhưng những câu hỏi khó hơn lại bắt đầu chính từ đó.
Vì sao những năng lực từng giúp một dân tộc sống sót đôi khi lại trở thành giới hạn đối với bước Trưởng Thành tiếp theo? Vì sao người Việt thường tỏ ra đặc biệt nhanh nhạy trong việc vượt qua tình thế trước mắt, nhưng không phải lúc nào cũng thành công như thế trong việc kiến tạo những thiết chế bền vững sau khi khủng hoảng đã qua? Vì sao khả năng tiếp thu cái mới nhiều lần tạo nên những thành tựu hiện đại hóa dễ thấy, trong khi cấu trúc quyền lực, tập quán xã hội và năng lực tích lũy thể chế ở tầng sâu lại chuyển động chậm hơn?
Nếu chỉ quy những giới hạn ấy cho chiến tranh, chủ nghĩa thực dân hay những lựa chọn ý thức hệ của thế kỷ XX, lời giải thích vẫn chưa đầy đủ. Những biến động ấy để lại hậu quả vô cùng lớn, nhưng chúng diễn ra trên một nền lịch sử lâu dài hơn nhiều, nơi những phương thức sinh tồn, kiểu tổ chức cộng đồng, quan hệ với quyền lực và cách tiếp nhận ảnh hưởng bên ngoài đã được định hình qua nhiều thế kỷ.
Bởi vậy, Trường Tồn cần được nhìn từ hai phía: một phía cho thấy sức sống phi thường của người Việt qua lịch sử; phía kia cho thấy những giới hạn có thể được bảo tồn ngay trong chính sức sống ấy. Một năng lực từng cứu cộng đồng trước một hiểm họa cụ thể không mặc nhiên trở thành năng lực phát triển hữu hiệu khi hoàn cảnh lịch sử đã đổi thay.
6. Nghịch lý sinh tồn của Việt tộc
Trường Tồn của người Việt được hình thành qua nhiều loại thử thách khác nhau, chứ không phải qua một chuỗi những thời kỳ bị áp chế giống nhau.
Hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc tạo nên sức ép đồng hóa rất mạnh, nhưng cũng khiến gia đình, làng xã, ngôn ngữ và tín ngưỡng trở thành những nơi cất giữ sức sống cộng đồng. Thời “Đại Việt tự chủ” củng cố nhà nước, văn hiến và ý thức chủ quyền. Minh thuộc, sự phục hưng dưới triều Lê, tiến trình Nam tiến và những cuộc nội chiến tiếp theo mở rộng không gian quốc gia, nhưng đồng thời để lại bạo lực, chia cắt và những ký ức không đồng đều giữa các cộng đồng sống trong lãnh thổ Việt Nam.
Chủ nghĩa thực dân Pháp tước đoạt chủ quyền, nhưng đồng thời đưa vào những phương tiện văn hóa mà người Việt sau đó sử dụng cho chính mục tiêu của mình: chữ Quốc ngữ, báo chí, khoa học và giáo dục hiện đại, cùng những khái niệm mới về quốc gia và công dân. Tiếp theo là cách mạng chống thực dân, chiến tranh, đất nước phân chia dưới hai chính thể, thống nhất rồi Đổi Mới. Những giai đoạn ấy đem lại các thành quả lớn về độc lập, thống nhất lãnh thổ và phát triển kinh tế, nhưng cũng để lại những vết thương hữu hình và vô hình giữa người Việt, những đứt gãy xã hội và các lớp ký ức đến nay vẫn chưa được hòa giải đầy đủ.
Không có quy luật lịch sử nào bảo đảm rằng một cộng đồng càng chịu nhiều áp lực thì càng trưởng thành tương ứng về nhận thức và năng lực.
Thử thách có thể kích thích sáng tạo, nhưng cũng có thể làm nghèo một xã hội, làm lệch chuẩn đạo lý và truyền thương tổn từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sau một thảm họa, cộng đồng chưa chắc đã trưởng thành hơn. Đôi khi, nó chỉ học được cách sống chung với thảm họa, rồi mang những phản xạ hình thành trong hiểm nguy sang một thời đại mà những phản xạ ấy không còn cần thiết nữa.
Vì vậy, cái được của mỗi chu kỳ lịch sử luôn phải đặt bên cạnh cái giá đã trả.
Người Việt Trường Tồn không phải vì mọi lựa chọn trong lịch sử đều đúng. Họ Trường Tồn bởi ngay cả sau những sai lầm, thất bại và tổn thất lớn, cộng đồng vẫn giữ được khả năng tái lập sự toàn vẹn của mình. Đó là một thành tựu căn bản của lịch sử Việt Nam.
Nhưng nghịch lý cũng nằm chính ở đây: khả năng tái sinh thành công đôi khi bảo tồn luôn những phản xạ khiến khủng hoảng có thể trở lại dưới một hình thức khác.
Một phản xạ như thế, đó là khuynh hướng cắt đứt quá mạnh với quá khứ mỗi khi quyền lực chuyển từ một tầng lớp cầm quyền này sang một tầng lớp khác.
Các triều đại mới thường củng cố chính danh bằng cách hạ thấp triều trước. Lực lượng chiến thắng không chỉ tiếp quản nhà nước mà còn tìm cách xác lập một lịch sử chính thống thuận lợi nhất cho mình. Di sản của người đi trước vì thế bị chia thành phần được phép kế thừa và phần phải loại bỏ.
Cơ chế tiếp nhận có lựa chọn ấy xuất hiện dưới nhiều hình thức, từ thời quân chủ đến các chế độ chính trị hiện đại.
Cái mới đáng ra hoàn toàn có thể phê phán cái cũ mà vẫn đứng trên một phần thành tựu do cái cũ để lại.
Nhưng ở Việt Nam, đáng tiếc, khuynh hướng “xóa bàn làm lại” nhiều lần đã khiến mỗi cuộc phục hồi đi kèm một dạng “mất trí nhớ có lựa chọn”. Nhà Nguyễn hạ thấp Tây Sơn; Còn về sau này, sử học cách mạng đặt phần lớn di sản tích cực của Việt Nam Cộng hòa ra ngoài câu chuyện lịch sử chính thống.
Khi bên thắng buộc đất nước phải dựng lại lịch sử từ chính thành tựu của mình, xã hội vẫn có thể phục hồi, nhưng năng lực tích lũy kinh nghiệm, quan điểm và khả năng chấp nhận rủi ro bị tổn thương.
Sống sót là còn giữ được khả năng bắt đầu lại. Trưởng Thành là không phải lần nào cũng bắt đầu lại từ con số không.
Nghịch lý của Trường Tồn còn hiện rõ trong quan hệ giữa chiến tranh và hòa bình.
Khi đất nước bị xâm lăng, quyền lực tập trung, kỷ luật nghiêm ngặt và việc đặt lợi ích riêng dưới lợi ích chung có thể tạo nên sức mạnh tập thể. Nhưng những phương thức từng cứu một cộng đồng trong chiến tranh không tự nhiên biến mất đi khi hòa bình trở lại.
Bộ máy từng được tổ chức để chỉ huy trong chiến tranh có thể tiếp tục vận hành theo lối mệnh lệnh trong hòa bình; những nguyên tắc bí mật từng giúp bảo vệ lực lượng trước hiểm nguy có thể trở thành phương tiện che khuất quyền lực; và sự bất đồng, từng bị xem như một nguy cơ đối với cuộc chiến, có thể tiếp tục bị nhìn bằng con mắt nghi kỵ ngay cả khi chiến tranh đã kết thúc.
Một cộng đồng có thể chiến thắng kẻ thù mà vẫn chưa vượt qua được những thói quen do cuộc chiến tạo ra.
Bởi vậy, Trường Tồn không phải chỉ là một phẩm chất thuần túy tốt đẹp, càng không phải một “bản tính cố định” của người Việt. Nó là tập hợp những năng lực được lịch sử hun đúc: có thể cứu dân tộc trong hoàn cảnh này, nhưng giới hạn dân tộc trong hoàn cảnh khác.
Đi tới Khai Mở không đòi hỏi Việt Nam vứt bỏ di sản sinh tồn ấy. Điều cần thiết là phân biệt trong di sản đó đâu là sức sống cần gìn giữ, đâu là phản xạ phải chuyển hóa và đâu là thương tổn không nên truyền tiếp sang chu kỳ lịch sử kế tiếp.
7. Thích nghi như một hệ hình văn minh
Arnold Toynbee nhìn lịch sử các nền văn minh qua biện chứng giữa “thách thức và đáp trả”. Một cộng đồng không lớn lên chỉ vì vượt qua khó khăn; nó trưởng thành khi cách đáp trả trước khó khăn và mở ra một trình độ phát triển cao hơn.
Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy một mô thức lặp đi lặp lại: uốn mà không gãy, nhận mà không tiếp nhận nguyên vẹn, thu mình về những đơn vị nhỏ khi trung tâm bị đe dọa rồi hội tụ trở lại khi thời cơ xuất hiện.
Có thể gọi tiến trình ấy là nhịp Tích – Tản.
Nguồn lực – con người, xã hội, kinh tế, chính trị – được tích tụ khi điều kiện cho phép; phân tán khi trung tâm suy yếu để tránh bị phá hủy hoàn toàn; rồi hội tụ trở lại trong một cấu trúc mới.
Nhịp Tích – Tản có thể thấy trong làng xã, di dân, chiến tranh du kích, mạng lưới gia đình và ngày nay cả trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Khi nhà nước suy yếu, làng xã vẫn giữ được một phần đời sống cộng đồng bên ngoài hoặc bên dưới bộ máy chính thức. Khi kinh tế kế hoạch hóa đi đến bế tắc, gia đình và những mạng lưới phi chính thức duy trì sinh kế. Khi đất nước còn khép kín, người Việt ở nước ngoài vẫn tạo dựng những mạng lưới tri thức, tài chính và quan hệ quốc tế.
Trung tâm có thể thất bại nhưng những mạch sống phân tán vẫn tiếp tục chảy.
Đó là một sức đàn hồi đáng kể. Nhưng thích nghi nào cũng luôn có hai mặt.
Nó giúp người dân sống được trong một môi trường bất hợp lý, nhưng đồng thời có thể làm giảm sức ép buộc môi trường ấy phải thay đổi. Người ta học cách lách một quy định vô lý thay vì cùng nhau đòi hỏi một quy định tốt hơn; dựa vào quan hệ cá nhân thay vì xây dựng thủ tục công bằng; giao phần lớn trách nhiệm cho gia đình thay vì kiến tạo những thiết chế đủ sức bảo vệ lợi ích chung.
Ở cấp độ cá nhân, mỗi người có thể đang hành động hoàn toàn hợp lý để bảo vệ mình. Nhưng tổng hợp của hàng triệu lựa chọn cá nhân hợp lý lại có thể tạo nên một xã hội thiếu lòng tin và phải trả giá rất cao cho việc hợp tác.
Câu tục ngữ “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” diễn tả rất đúng khả năng thích nghi ấy. Trong những điều kiện khắc nghiệt, đó là trí khôn sinh tồn. Nhưng khi được nâng thành triết lý thường trực ngay cả sau khi hiểm nguy đã qua, nó có thể trở thành lối sống thiếu nguyên tắc: ở môi trường nào thì nói thứ ngôn ngữ môi trường ấy muốn nghe, trước quyền lực nào thì thích ứng với quyền lực ấy, miễn sao bảo đảm được an toàn và lợi ích cá nhân.
Từ đó dễ hình thành một “đời sống hai mặt”.
Trong không gian chính thức, người ta nói thứ ngôn ngữ được cho phép; trong đời riêng, họ có thể nghĩ hoàn toàn khác. Một công chức thi hành quy định mà chính mình biết là bất hợp lý; một trí thức viết điều không hoàn toàn tương ứng với điều mình tin; người dân công khai chấp hành nhưng âm thầm tìm cách vô hiệu hóa mệnh lệnh.
Một xã hội có thể thích nghi rất lâu với một trật tự mà không gian dành cho niềm tin chân thực không được mở rộng.
Khả năng sống chung với cái bất hợp lý giúp tránh va đập tức thời, nhưng cũng có thể làm cho cái bất hợp lý tồn tại lâu hơn.
Giới hạn ấy còn thể hiện trong cách Việt Nam tiếp nhận cái mới.
Xã hội Việt Nam thường học nhanh, ứng dụng linh hoạt và bắt kịp nhanh về kỹ năng thực hành. Nhưng tiếp nhận một thành quả của hiện đại hóa không đồng nghĩa với tiếp nhận những điều kiện đã làm nên thành quả đó.
Có thể xây một trường đại học theo mô hình quốc tế nhưng tự do học thuật vẫn bị giới hạn. Có thể nhập kỹ thuật quản trị hiện đại mà không hình thành một cấu trúc trách nhiệm giải trình tương ứng. Có thể mở rộng kinh tế thị trường mà chưa xây dựng đầy đủ pháp quyền và cạnh tranh thực sự công bằng.
Cái mới đi đủ sâu để thay đổi diện mạo, nhưng chưa chắc đã đi đủ sâu để chuyển hóa nền móng.
Vấn đề vì thế không phải người Việt không biết học. Vấn đề là việc học quá nhiều lần bị thúc đẩy bởi yêu cầu ứng phó trước mắt hơn là một chiến lược tích lũy lâu dài: học để vượt kỳ thi, hoàn thành chỉ tiêu, đáp ứng chiến dịch hay bắt kịp bên ngoài, nhưng không phải lúc nào cũng học để hình thành tư duy độc lập và tạo ra tri thức mới.
Đổi Mới năm 1986 là một ví dụ điển hình ở quy mô quốc gia.
Khi kinh tế kế hoạch hóa tập trung rơi vào khủng hoảng sâu sắc, sáng kiến cá nhân, kinh tế hộ gia đình và hoạt động thị trường được trao lại nhiều không gian hơn. Kết quả đến rất nhanh, chứng minh sức sống đáng kể vốn đã tồn tại trong xã hội.
Nhưng cải cách chủ yếu tập trung vào kinh tế, trong khi cấu trúc quyền lực, pháp quyền và quyền tự do tổ chức xã hội tiến triển chậm hơn. Thị trường được tiếp nhận như công cụ tạo ra tăng trưởng, còn nhiều điều kiện chính trị và pháp lý cần thiết để thị trường trở nên công bằng, sáng tạo và bền vững lại phát triển chưa tương xứng.
Đó là thích nghi. Chưa phải chuyển hóa.
Khai Mở không phủ nhận khả năng thích nghi. Một dân tộc cứng nhắc không thể tồn tại trong một thế giới biến động. Nhưng Khai Mở đòi hỏi đưa thích nghi lên một trình độ khác, cao hơn: từ tìm cách sống trong môi trường bất hợp lý sang cùng nhau thay đổi môi trường ấy; từ học để bắt kịp sang học để sáng tạo; từ linh hoạt theo hoàn cảnh sang giữ nguyên tắc trong khi linh hoạt về phương pháp.
Trường Tồn giúp con người tìm đường sống trong một chiếc lồng chật. Trưởng Thành đòi hỏi họ cùng nhau mở rộng chiếc lồng ấy ra.
8. Phi tuyệt đối hóa: từ sức mạnh dung hợp đến nguy cơ nhập nhằng
Xã hội Việt Nam hiếm khi đẩy một hệ tư tưởng duy nhất đến tận cùng những hệ quả logic của nó trong đời sống.
Tam giáo – Nho, Phật, Lão – có thể cùng tồn tại. Một người vừa thờ cúng tổ tiên, đi chùa, tôn trọng những chuẩn mực Nho giáo, duy trì tín ngưỡng địa phương và tiếp nhận một số giá trị phương Tây mà không cảm thấy bắt buộc phải chọn một trong số đó làm chân lý tuyệt đối về trời đất và số phận con người.
Những gì có vẻ mâu thuẫn trên lý thuyết lại có thể chung sống khá tự nhiên trong thực hành.
Khuynh hướng phi tuyệt đối hóa này tạo điều kiện cho tiếp biến văn hóa và một dạng khoan dung trong đời sống. Người Việt thường có khả năng nhận cái mới mà không lập tức phá bỏ cái cũ, thay đổi hành vi trước khi xây dựng lại toàn bộ hệ thống niềm tin. Chính điều đó tạo nên một năng lực dung hợp đáng kể.
Nó cũng giúp giải thích vì sao những học thuyết du nhập vào Việt Nam đều phần nào bị Việt hóa.
Nho giáo không xóa được tín ngưỡng làng xã; Phật giáo sống chung với thờ cúng tổ tiên; Công giáo Việt Nam tiếp nhận nhiều biểu hiện của văn hóa bản địa. Chủ nghĩa cộng sản, dù vẫn duy trì ngôn ngữ Mác – Lênin trong hệ thống chính thức, trên thực tế cũng kết hợp với chủ nghĩa dân tộc, cấu trúc gia đình, tâm lý làng xã và những truyền thống quyền lực có trước nó rất lâu.
Ngay cả những người nhân danh một học thuyết tuyệt đối cũng không nhất thiết sống theo toàn bộ những mệnh lệnh của học thuyết ấy.
Một cán bộ có thể nói bằng ngôn ngữ đấu tranh giai cấp nhưng trong đời sống lại ưu tiên lợi ích gia đình. Nhà nước có thể tiếp tục giữ căn cước chính trị xã hội chủ nghĩa, trong khi trên thực tế ngày càng dựa nhiều vào thị trường, doanh nghiệp tư nhân và hội nhập kinh tế toàn cầu.
Giáo điều có thể tiếp tục tồn tại trong ngôn ngữ, trong khi thực tế âm thầm điều chỉnh theo nhu cầu sinh tồn.
Từ đó xuất hiện một nghịch lý đáng chú ý.
Một ý thức hệ không nhất thiết biến mất khi niềm tin vào nội dung lý luận của nó suy yếu. Khi con người quen với việc nói một điều, nghĩ một điều khác và hành động theo một logic thứ ba, một trật tự chính trị có thể tiếp tục vận hành rất lâu sau khi nền móng tư tưởng ban đầu của nó đã mất phần lớn sức thuyết phục.
Một ý thức hệ, khi đã được thể chế hóa, không chỉ sống bằng niềm tin. Nó còn sống bằng tổ chức, lợi ích, ngôn ngữ, thói quen và những cấu trúc quyền lực có lợi ích trong việc duy trì chính mình.
Điều còn lại sau khi một học thuyết mất dần sức hấp dẫn đạo lý đôi khi bền hơn chính học thuyết: thói quen phục tùng, cơ chế phân phối đặc quyền, mối quan hệ giữa quyền lực và “chân lý chính thức”, hay tâm thế chờ đợi mọi quyết định từ trên xuống.
Nhưng phi tuyệt đối hóa không thể đồng nghĩa với không có nguyên tắc.
Khi biến thành thái độ “cái gì cũng được”, nó xóa nhòa ranh giới giữa khoan dung và thỏa hiệp, giữa mềm dẻo và cơ hội. Ta có thể tôn trọng niềm tin khác với mình, nhưng không thể nhân danh khoan dung để biện hộ cho tham nhũng, tước đoạt quyền, bạo lực hay dối trá có hệ thống.
“Trung đạo” cũng không có nghĩa là đứng giữa sự thật và giả dối hay chia đều trách nhiệm chỉ để khỏi phải phán xét. Trung đạo đòi tránh cực đoan trong tư duy và hành động; nó không đòi từ bỏ năng lực phân biệt đạo lý.
Khoan dung phải dành cho con người và những khác biệt chính đáng trong giới hạn của đạo lý và lý tính thực tiễn. Nó không thể trở thành sự khoan dung vô hạn đối với những hành vi hủy hoại phẩm giá con người.
Một đại lộ mới cho Việt tộc cần giữ năng lực dung hợp ấy, bởi một xã hội đa nguyên không thể Trưởng Thành dưới sự độc quyền chân lý.
Nhưng dòng chảy dung hợp cũng cần có bờ: phẩm giá con người, sự thật, trách nhiệm, pháp quyền và quyền bất đồng.
Không có những bờ ấy, sức mạnh dung hợp dễ biến thành một vùng nước lặng, nơi nguyên tắc dần tan vào sự tùy tiện.
Sức mạnh của người Việt một phần nằm ở chỗ họ không dễ bị một học thuyết nuốt trọn. Nhưng giới hạn của người Việt lại là không phải lúc nào cũng đi đến cùng những giá trị mà mình tuyên bố lựa chọn.
Hành trình từ Trường Tồn đến Khai Mở cần giữ được năng lực thứ nhất và phải vượt qua được giới hạn thứ hai.
9. Những lớp trầm tích của tâm thức tập thể
Lịch sử không dừng lại khi một biến cố chấm dứt.
Nó lắng xuống trong ngôn ngữ, biểu tượng, thói quen, nỗi sợ hãi và những dạng tri thức ngầm mà con người sử dụng nhưng không phải lúc nào cũng còn nhớ nguồn gốc. Những tích tụ ấy có thể gọi là các lớp trầm tích của tâm thức tập thể.
Mỗi thế hệ nhận lại chúng từ gia đình, nhà trường, cộng đồng và nhà nước, rồi truyền sang thế hệ sau – đôi khi gần như nguyên vẹn, đôi khi đã được biến đổi.
Trầm tích không phải là một bản chất bất biến.
Đó là lịch sử đã đi vào ý thức và lương tri con người.
Ký ức Bắc thuộc nuôi dưỡng sự cảnh giác của người Việt trước Trung Quốc, nhưng hàng thế kỷ tương tác cũng để lại sự lệ thuộc sâu vào chữ nghĩa, điển tích và những mô thức tổ chức quyền lực bắt nguồn từ văn minh Trung Hoa.
Người Việt nhiều lần chống sự cai trị từ phương Bắc, nhưng nhà nước Việt Nam đồng thời tiếp nhận nhiều phương thức trị nước từ chính nền văn minh láng giềng ấy. Điều này không riêng Việt Nam; các nền văn minh thường học rất nhiều từ đối thủ mạnh nhất của mình.
Nhưng trong trường hợp Việt Nam, sự bất đối xứng kéo quá dài đã tạo nên một căng thẳng đặc biệt.
Trung Quốc vừa là một nguồn văn minh lớn, vừa là mối đe dọa thường xuyên đối với quyền tự chủ chính trị. Giới tinh hoa Việt Nam học chữ viết, kinh điển và kỹ thuật trị nước từ Trung Hoa, đồng thời không ngừng khẳng định rằng Việt Nam không phải Trung Hoa.
Quan hệ Việt – Trung vì thế luôn chứa những cặp đối cực: gần và xa, tiếp nhận và đề phòng, ngưỡng mộ và kháng cự.
Sự căng kéo ấy chưa bao giờ hoàn toàn biến mất.
Một hệ quả sâu hơn có thể là tâm thức Việt Nam đặc biệt nhạy cảm với độc lập quốc gia nhưng không phải lúc nào cũng nối độc lập quốc gia chặt chẽ với quyền tự chủ của từng công dân. Một đất nước có thể giữ biên cương chính trị của mình trong khi tiếp tục tái tạo bên trong những kiểu thứ bậc và phục tùng được hình thành qua một lịch sử lâu dài.
Ký ức chiến tranh cũng để lại hai lớp trầm tích trái chiều.
Một mặt, nó nuôi dưỡng lòng yêu nước, sức chịu đựng, tinh thần hy sinh và khả năng huy động xã hội khi có hiểm nguy. Mặt khác, nó củng cố thói quen chia thế giới thành “ta” và “địch”, nhìn bất đồng như một mối đe dọa bên trong và coi thống nhất ý chí là nền tảng duy nhất của sức mạnh quốc gia.
Ngôn ngữ quân sự vì thế tiếp tục sống trong đời sống hòa bình: “chiến dịch”, “mặt trận”, “ra quân”, “xung kích”, “trận tuyến”, “chiến thắng”.
Khi mọi vấn đề đều được hình dung như một trận đánh, xã hội có xu hướng tìm mệnh lệnh thay cho đối thoại, huy động thay cho tham gia, chiến thắng thay cho những giải pháp có thể thử nghiệm, sửa chữa và cải thiện dần.
Người không đồng ý với phương thức thực hiện một mục tiêu chung rất dễ bị nhìn như người chống lại chính mục tiêu ấy.
Một lớp trầm tích khác hình thành trong những thời kỳ quyền lực chính trị đi sâu vào đời sống xã hội nhưng thường xuyên gặp sự bất tuân âm thầm.
Khi ngôn ngữ công khai tách khỏi niềm tin riêng, sự tuân phục bề ngoài dễ đi cùng việc rút lui khỏi trách nhiệm chung. Người ta học điều gì được phép nói, nói ở đâu và nói với ai.
Im lặng không nhất thiết là đồng thuận. Vỗ tay không nhất thiết là tán thành.
Theo thời gian, đời sống hai mặt – hai tầng ấy không chỉ làm tổn thương sự thật mà còn bào mòn lòng tin giữa người với người. Khi không ai chắc người khác thực sự nghĩ gì, hợp tác xã hội trở nên khó khăn. Gia đình và các quan hệ thân cận thành nơi an toàn, trong khi đời sống công cộng bị nhìn như địa hạt của nghi thức, ngôn ngữ quy ước và những rủi ro không cần thiết.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 là một biểu hiện rõ của ký ức chính trị phân đôi.
Trong câu chuyện của “bên thắng cuộc”, đó là ngày giải phóng và thống nhất. Trong trải nghiệm của nhiều người từng sống dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa và nhiều cộng đồng người Việt ở nước ngoài, ngày ấy gắn với sụp đổ, cải tạo, mất mát tài sản, vượt biển và lưu vong.
Cùng một biến cố lịch sử có thể được ghi nhớ và lý giải rất khác nhau, tùy vào trải nghiệm của mỗi phía. Việc một bên nắm quyền và xác lập cách diễn giải chính thống, không có nghĩa là những ký ức và cách nhìn khác vì thế mà mất đi.
Trưởng Thành đòi hỏi tạo ra không gian để những ký ức khác nhau có thể được nói ra, đối chiếu với chứng cứ và cùng tồn tại. Sự thật lịch sử cần được khảo cứu; ký ức đau khổ cũng đòi hỏi khả năng lắng nghe.
Hòa giải không thể đạt được bằng cách yêu cầu con người từ bỏ câu chuyện của chính mình.
Khai quật những lớp trầm tích ấy không phải để xét tội quá khứ, càng không phải dùng tiêu chuẩn hôm nay để phán xét giản đơn mọi lựa chọn của dĩ vãng. Đó là đưa những phản xạ vô thức ra ánh sáng để cộng đồng nhận ra điều gì vẫn đang âm thầm chi phối cảm nhận và hành vi tập thể.
Khi được nhận diện, quá khứ có thể trở thành đối tượng của lựa chọn. Khi bị phủ nhận, nó tiếp tục cai quản hiện tại từ trong bóng tối.
Một dân tộc không Trưởng Thành bằng cách quên đi những gì đã xảy ra.
Dân tộc ấy Trưởng Thành khi những cách hiểu đã đóng khung về quá khứ không còn toàn quyền quyết định những gì phải xảy ra tiếp theo.
10. Khi ưu thế sinh tồn trở thành giới hạn phát triển
Một năng lực sinh tồn trở thành giới hạn phát triển khi phương thức từng hữu hiệu trong tình trạng khẩn cấp bị biến thành cách quản trị bình thường.
Quyền lực tập trung có thể giúp huy động nhanh trong chiến tranh nhưng làm suy yếu sáng kiến trong hòa bình. Bí mật có thể bảo vệ một tổ chức bị truy đuổi nhưng làm giảm minh bạch khi tổ chức ấy đã trở thành nhà nước. Kỷ luật có thể giữ một phong trào khỏi tan rã nhưng biến thành trừng phạt bất đồng khi tư duy độc lập không còn được dung nạp.
Một năng lực then chốt khi ấy đông cứng thành một độ cứng cốt lõi.
Đoàn kết chống ngoại xâm là một trong những sức mạnh rõ nhất của lịch sử Việt Nam. Nhưng khi hiểm họa bên ngoài đã qua, tinh thần đoàn kết ấy không tự động chuyển thành khả năng sống xây dựng với những khác biệt bên trong.
Người Việt có thể tập hợp rất nhanh trước một kẻ thù chung, nhưng chia rẽ có thể kéo dài nhiều thế hệ khi bài toán chuyển thành phân chia quyền lực, lợi ích và trách nhiệm giữa chính người Việt với nhau.
Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn, Tây Sơn – Nguyễn Ánh, rồi những xung đột ý thức hệ trong thế kỷ XX đều gợi lại cùng một vấn đề: khả năng xác định rõ “ta” và “địch” đặc biệt hữu ích trong chiến tranh nhưng biến thành trở ngại khi “phía bên kia” cũng thuộc về cộng đồng dân tộc.
Sức chịu đựng cũng có hai mặt. Nó giúp con người sống qua nghèo đói, chiến tranh và thiên tai, nhưng cũng có thể khiến xã hội chịu đựng quá lâu những điều hoàn toàn có thể thay đổi. Một cộng đồng quen tôn vinh hy sinh có thể quên đặt câu hỏi, vì sao người dân luôn phải là người hy sinh, và liệu một nền quản trị tốt hơn có thể tránh được phần nào những đau khổ ấy hay không.
Chịu đựng là một đức tính trước những gì không thể thay đổi. Nó trở thành vấn đề chính trị khi sự chịu đựng của dân chúng bị dùng thay cho trách nhiệm của người cầm quyền.
Khả năng xoay xở và ứng biến của người Việt cũng đem lại nhiều thành công đáng kể. Trong thiếu thốn, người dân tìm được giải pháp bằng rất ít nguồn lực; doanh nghiệp thích nghi nhanh trước biến động; gia đình đầu tư mạnh mẽ cho tương lai con cái.
Nhưng khi xoay xở thay thế cho thiết chế, xã hội sẽ lệ thuộc vào ngoại lệ hơn là quy tắc. Thành công có thể thuộc về người giỏi tìm đường vòng quanh những khiếm khuyết của hệ thống chứ không nhất thiết thuộc về người có năng lực nhất hoặc tuân thủ thủ tục công bằng.
Cái khéo có thể đánh bại cái chuẩn. Quan hệ có thể thay thế pháp luật.
Trường hợp Nguyễn Trường Tộ một lần nữa cho thấy khoảng cách giữa việc nhìn thấy khả năng Khai Mở và việc có đủ năng lực thể chế để biến khả năng ấy thành hiện thực.
Việt Nam không thiếu những con người nhận ra thách thức của thời đại. Điều thường thiếu là những thiết chế biết lắng nghe họ, thử nghiệm đề xuất của họ và chấp nhận thay đổi những lợi ích đã định hình.
Ở những khúc quanh như vậy, đôi khi xuất hiện những nhân vật bản lề: họ nhận ra phần nào logic của thời đại đang tới nhưng vẫn phải sống và hành động trong các thiết chế thuộc về thời đại đang qua.
Bi kịch của họ không nhất thiết nằm ở chỗ họ luôn đúng hay ở việc họ thất bại. Nó nằm trong khoảng cách giữa năng lực của một số cá nhân nhận ra nhu cầu thay đổi và năng lực tự sửa sai của hệ thống mà họ đang phục vụ.
Khoảng cách ấy tiếp tục xuất hiện trong lịch sử hiện đại.
Nhiều chương trình cải cách có thể đề ra những mục tiêu rất tiến bộ, trong khi cơ chế tuyển dụng, phân bổ nguồn lực và trách nhiệm giải trình lại chống lại chính sự thay đổi đó. Tư tưởng mới phải đi qua những mạng lưới quyền lực cũ; chính sách cải cách có thể bị uốn lại để thích nghi với cấu trúc vốn là đối tượng mà nó muốn thay đổi.
Vì vậy, một thất bại cải cách không phải lúc nào cũng chứng minh rằng hướng cải cách sai. Có khi một ý tưởng đúng hướng đi qua một cơ chế không đủ khả năng thực hiện, kiểm nghiệm và sửa chữa; chính những yếu kém của cơ chế làm hỏng nỗ lực cải cách.
Việt Nam vì thế có thể thay đổi rất nhanh mà chuyển hóa rất chậm.
Đổi Mới tạo ra tăng trưởng nhanh một phần vì trả lại cho xã hội một phần quyền chủ động kinh tế. Nhưng khi cải cách chạm trực tiếp vào cấu trúc quyền lực đã được định hình, tốc độ thay đổi chậm đi rõ rệt.
Mỗi khi một cấu trúc cũ chạm giới hạn, nó có thể mở ra vừa đủ để tiếp nhận thêm nguồn lực và khôi phục sinh khí. Nhưng nếu những nguyên nhân từng tạo nên bế tắc không thay đổi, nhịp Khép – Mở có nguy cơ lặp lại: mở để thích nghi, rồi khép lại trước khi sự thích nghi trở thành chuyển hóa.
Một xã hội vì thế phải đặt câu hỏi khó hơn: những gì đang được tích lũy hôm nay có đủ để biến lần mở tới thành một cuộc chuyển hóa thực sự, thay vì chỉ là một lần điều chỉnh tạm thời hay không?
Trưởng Thành chỉ bắt đầu khi năng lực chịu đựng được chuyển thành năng lực ngăn ngừa những đau khổ có thể tránh; khi hy sinh được bổ sung bằng quyền tham gia; khi đoàn kết không còn đòi đồng phục tư tưởng; và khi sự linh hoạt vận hành trong những nguyên tắc không thể tùy tiện bẻ cong theo hoàn cảnh hay theo lợi ích của một nhóm người.
Điều cứu một dân tộc hôm qua không mặc nhiên là điều đưa dân tộc ấy tới ngày mai.
11. Những đứt gãy tích lũy và căn bệnh học nửa chừng
Một điểm yếu thường xuyên trong lịch sử Việt Nam là năng lực phục hồi không phải lúc nào cũng đi cùng năng lực tích lũy.
Những lần chuyển giao quyền lực nhiều khi đi kèm việc viết lại lịch sử, thay đổi tầng lớp tinh hoa và phủ định quá mức bên thất bại. Cái mới không chỉ sửa chữa cái cũ mà còn muốn chứng minh rằng trước mình hầu như chẳng có gì đáng kế thừa.
Trong xã hội quân chủ, triều mới có thể hạ thấp triều trước để xác lập “thiên mệnh” của mình. Đến thời hiện đại, các ý thức hệ đưa sự phủ định đi xa hơn khi chia lịch sử thành tiến bộ và phản động, cách mạng và phản cách mạng, những lực lượng được đưa vào và những lực lượng bị loại khỏi ký ức chính thống.
Hệ quả không chỉ là bất công với quá khứ.
Nó làm nghèo hiện tại.
Khi một trật tự chính trị chấm dứt, tri thức quản trị, luật pháp, giáo dục và văn hóa gắn với trật tự ấy rất dễ bị vứt bỏ cùng bộ máy quyền lực của nó. Người có chuyên môn có thể bị loại vì lý lịch; hồ sơ và ký ức bị bỏ quên; thành tựu của bên thất bại không được coi là một phần tài sản chung của dân tộc.
Bên thắng vì thế phải xây dựng lại những năng lực mà lẽ ra có thể được kế thừa, điều chỉnh và phát triển.
Cách ứng xử sau năm 1975 với một phần di sản Việt Nam Cộng hòa là trường hợp đáng được nhìn lại. Nhiều người có chuyên môn mất vị trí hoặc rời khỏi đất nước; kinh nghiệm tích lũy trong giáo dục, luật pháp, hành chính, kinh tế và giao tiếp quốc tế khó được đánh giá theo chính giá trị của chúng vì gắn với một chính thể đã thất bại.
Việt Nam sau năm 1975 thống nhất lãnh thổ, nhưng đồng thời mất một phần vốn người và một phần ký ức đã tích lũy – những nguồn lực mà một tiến trình hòa giải khác có thể đã giữ lại được nhiều hơn.
Đổi Mới sau đó khôi phục hoặc hợp thức hóa nhiều yếu tố từng bị giới hạn hay bác bỏ: kinh tế hộ, thị trường, doanh nghiệp tư nhân, quan hệ với phương Tây và vai trò ngày càng lớn của chuyên môn.
Nhưng sự phục hồi ấy không phải lúc nào cũng đi kèm một cơ chế công khai để xem xét vì sao những lựa chọn trước đó đã thất bại.
Một xã hội không thể học đầy đủ những sự thật cần thiết về thực tại nếu không thể gọi đúng tên sai lầm của mình.
Và gọi tên sai lầm mới chỉ là bước đầu.
Năng lực tự sửa sai đòi hỏi một chu trình đầy đủ hơn: sự thật phải có đường đi tới người ra quyết định; người phát hiện sai lầm phải có không gian để lên tiếng; trách nhiệm phải được truy tới chính sách và cơ chế chứ không dừng ở một cá nhân thuận tiện; và bài học phải được chuyển thành thay đổi khiến sai lầm khó tái diễn.
Một hệ thống có thể rất giỏi huy động nhưng vẫn rất yếu về học hỏi nếu thành công luôn được ghi cho hệ thống, còn thất bại chủ yếu quy về cá nhân. Sửa sai khi ấy chỉ là thay người chứ chưa phải sửa những điều kiện đã sản sinh ra sai lầm.
Không có khả năng thừa nhận sai lầm thì cũng không thể có năng lực học hỏi thực sự.
Đứt gãy tích lũy gắn chặt với một căn bệnh khác: học nửa chừng.
Việt Nam nhiều lần tiếp nhận thành tựu của một nền văn minh nhưng không hấp thụ đầy đủ những điều kiện đã sản sinh ra thành tựu ấy.
Tiếp nhận thiết chế Nho giáo để xây dựng một bộ máy quan lại có học thức nhưng không phát triển tương xứng truyền thống tranh biện độc lập. Học kỹ thuật phương Tây nhưng dè dặt hơn nhiều với tự do tư tưởng. Tiếp nhận mô hình tổ chức Xô-viết mà không tạo đủ khoảng cách với những nguy cơ của quyền lực tập trung. Phát triển kinh tế thị trường nhưng không đồng thời làm trưởng thành đầy đủ pháp quyền, quyền sở hữu minh bạch và cạnh tranh thực sự bình đẳng.
Việc học vì thế thường mang tính công cụ: lấy phần hữu ích trước mắt, tránh những gì khó tương thích với cấu trúc quyền lực hiện hữu.
Khoa học được tôn vinh như động lực phát triển trong khi tự do học thuật còn bị giới hạn. Chuyển đổi số được thúc đẩy trong khi quyền riêng tư và quyền kiểm soát dữ liệu cá nhân chưa theo kịp. Trí tuệ nhân tạo được tiếp nhận như phương tiện nâng cao hiệu quả quản trị nhưng đồng thời cũng có thể làm tăng năng lực giám sát bằng kỹ thuật.
Cái mới được mời vào, nhưng đôi khi chính những điều kiện tạo nên sức mạnh chuyển hóa của cái mới lại bị giữ ở ngoài cửa.
“Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” vì thế không chỉ là cách ứng xử của cá nhân. Nó có thể trở thành phương thức một quốc gia tiếp nhận mô hình bên ngoài: lấy những gì giải quyết được nhu cầu trước mắt, điều chỉnh phần xung đột với cấu trúc hiện hành, rồi tuyên bố đã tiếp nhận chuẩn mực mới.
Hệ quả là những thiết chế hiện đại có thể vận hành bằng những quan hệ tiền hiện đại; những tên gọi mới có thể chứa bên trong logic quyền lực rất cũ.
Đó không phải hậu quả của thiếu thông minh.
Trái lại, nó có thể là sản phẩm của một trí khôn thích nghi đã quá thành thạo trong việc giải quyết từng tình huống trước mắt. Chính khả năng ứng biến ấy, nếu không được nâng lên thành năng lực kiến tạo, rất dễ dẫn tới học nửa chừng.
Khi xã hội quen với những giải pháp nhanh cho từng hoàn cảnh, việc xây dựng những hệ thống đòi hỏi thời gian, kỷ luật, minh bạch và nhất quán trở nên khó hơn. “Bước nhảy vọt” hấp dẫn hơn tích lũy âm thầm; chiến dịch dễ gây chú ý hơn thiết chế; thành tích đo đếm được dễ ca ngợi hơn những nền móng mà phải một thế hệ sau mới nhìn thấy giá trị.
Muốn Khai Mở, Việt Nam phải học cách kế thừa mà không tôn thờ, đoạn tuyệt mà không quên lãng, học hỏi mà không chỉ bắt chước bề ngoài.
Điều quyết định không phải đất nước nhập thêm bao nhiêu mô hình, mà là có thể hiểu chúng đến tận nền tảng, thử nghiệm trong điều kiện Việt Nam, công khai nhận sai và tiếp tục tích lũy tri thức qua các thế hệ hay không.
Một dân tộc trưởng thành không có lý do gì phải xấu hổ vì học người khác.
Điều đáng lo chỉ bắt đầu khi một xã hội học được rất nhiều nhưng tri thức tiếp nhận lại không làm lớn lên năng lực sáng tạo của chính mình.
12. Chủ nghĩa cộng sản VN: từ năng lực giải phóng đến giới hạn hòa giải
Chủ nghĩa cộng sản không thể được giải thích đơn giản như một tư tưởng ngoại lai áp đặt lên Việt Nam.
Nhưng nó cũng không thể được đồng nhất với toàn bộ lòng yêu nước, khát vọng độc lập hay sự hy sinh của những con người từng đi theo nó.
Trong thế kỷ XX, phong trào cộng sản đem lại một tổ chức có kỷ luật, một ngôn ngữ giải phóng, phương pháp huy động quần chúng và mạng lưới quốc tế phục vụ cuộc đấu tranh chống thực dân. Nó hứa hẹn không chỉ độc lập dân tộc mà còn một trật tự xã hội bình đẳng hơn.
Trong một đất nước nghèo, bị đô hộ và phân tầng sâu sắc, lời hứa ấy có sức hấp dẫn thực sự.
Sức mạnh lịch sử của chủ nghĩa cộng sản Việt Nam một phần nằm ở khả năng nối vấn đề dân tộc với vấn đề xã hội. Nó không chỉ kêu gọi đánh đuổi ngoại bang mà còn hứa thay đổi số phận của nông dân, công nhân và những nhóm ít tiếng nói trong trật tự cũ.
Kỷ luật tổ chức, năng lực hoạt động bí mật và sự hỗ trợ của phong trào cộng sản quốc tế giúp nó vượt lên nhiều tổ chức quốc gia khác vốn phân tán hơn.
Nhưng động cơ yêu nước của hàng triệu người Việt không thể giản lược thành niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lênin.
Trường hợp Tạ Quang Bửu, đã được nhắc ở Phần I, là một gợi ý. Ông tham gia cuộc cách mạng năm 1945 rồi sau đó mới trở thành đảng viên. Một cá nhân không thể đại diện cho cả một thế hệ, nhưng hành trình ấy nhắc ta rằng đối với không ít trí thức và người dân Việt Nam, dân tộc đi trước học thuyết; học thuyết chỉ là một trong những con đường được lựa chọn để phụng sự dân tộc.
Việc Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố giải tán tháng 11 năm 1945, trong khi tổ chức tiếp tục hoạt động kín trước khi công khai trở lại với tên Đảng Lao động Việt Nam năm 1951, cũng cần được đặt trong hoàn cảnh nỗ lực xây dựng một mặt trận dân tộc rộng hơn và xử lý những lo ngại trong nước lẫn quốc tế.
Sự kiện ấy không cho phép kết luận giản đơn rằng xã hội Việt Nam nói chung bác bỏ chủ nghĩa cộng sản.
Nhận định thận trọng hơn là sức hấp dẫn rộng nhất của phong trào không nằm ở lý thuyết Mác-xít thuần túy, mà ở khả năng gắn lý thuyết đó với độc lập, thống nhất, công bằng xã hội và khát vọng thoát khỏi thân phận thuộc địa.
Chính sự kết hợp ấy tạo nên năng lực giải phóng.
Nghịch lý xuất hiện khi một học thuyết từng đóng vai trò phương tiện giải phóng lại trở thành nguồn chính danh chính trị độc quyền của một quốc gia độc lập vốn có một lịch sử lâu dài hơn rất nhiều.
Đấu tranh giai cấp đã đặt con người vào những phạm trù chính trị bị chi phối nặng bởi xuất thân. Cải cách ruộng đất không chỉ phân phối lại tài sản mà còn gây những thương tổn sâu rộng trong quan hệ cộng đồng. Việc chính trị hóa lý lịch gia đình đã làm mờ ranh giới giữa trách nhiệm cá nhân với căn cước được thừa hưởng.
Quan trọng hơn, khi một tổ chức chính trị đồng thời tự đồng nhất mình với dân tộc và với “xu hướng tất yếu của lịch sử”, cạnh tranh chính trị trong nước dễ bị xem như phản bội, thay vì một khả năng bình thường của đời sống quốc gia.
Một học thuyết nhân danh giải phóng con người khi ấy có thể tạo ra một cấu trúc mà chính con người không còn đầy đủ quyền lựa chọn con đường giải phóng của chính mình.
Trong chiến tranh, kỷ luật và tập trung quyền lực mang lại ưu thế tổ chức đáng kể. Trong hòa bình, nếu không được chuyển hóa, chúng có thể trở thành nền tảng của độc quyền.
Bộ máy tuyên truyền từng phục vụ huy động xã hội trong chiến tranh có thể tiếp tục quyết định ký ức nào được xem là hợp pháp. Cơ quan an ninh được xây dựng để chống xâm nhập từ bên ngoài có thể chuyển sang giám sát bất đồng bên trong. Khái niệm “địch” từ chiến trường bước vào đời sống chính trị, nơi phê phán chính sách vẫn có thể bị nhìn như sự thiếu trung thành với cộng đồng.
Sau năm 1975, thống nhất lãnh thổ đã không dẫn đến thống nhất ký ức.
Cải tạo kinh tế, các trại học tập, làn sóng thuyền nhân và di sản Việt Nam Cộng hòa trong nhiều năm chủ yếu được diễn giải bằng câu chuyện của bên chiến thắng. Cơ hội hòa giải sau chiến tranh vì thế chỉ được sử dụng một phần, trong khi logic thắng – thua kéo dài sang thời bình.
Nhưng những giới hạn của mô hình cộng sản không biến mất chỉ vì niềm tin vào lý luận cộng sản suy giảm.
Ở đây cần nhìn sâu hơn.
Một hệ thống chính trị hiện đại không chỉ tồn tại nhờ tác phẩm của Marx hay Lenin, giáo trình ý thức hệ hoặc khẩu hiệu công cộng. Nó còn tồn tại bằng bộ máy quyền lực, mạng lưới lợi ích, cơ chế tuyển chọn nhân sự, quan hệ giữa tài sản và vị trí chính trị, ngôn ngữ chính danh và nỗi sợ bất ổn.
Nó cũng sống trong những thói quen xã hội tích lũy lâu dài: tránh xa chính trị, tìm sự bảo trợ, tự kiểm duyệt và coi cấu trúc quyền lực hiện hữu gần như một sự thật bất biến của đời sống.
Một ý thức hệ có thể suy yếu trong tâm trí con người nhưng tiếp tục sống rất lâu trong thiết chế.
Sự phân biệt này rất quan trọng.
Niềm tin vào một học thuyết chấm dứt không đồng nghĩa với những cơ chế được tạo ra dưới học thuyết ấy cùng lúc biến mất. Thiết chế, lợi ích, thói quen quyền lực và tâm lý xã hội không tan đi theo nhịp suy tàn của niềm tin ý thức hệ. Bởi vậy, thách thức lớn của bất kỳ cuộc chuyển đổi nào trong tương lai không chỉ là rời bỏ một trật tự cũ, mà còn là tránh mang nguyên vẹn những phản xạ sâu nhất của nó sang trật tự mới.
Vì thế, bất kỳ sự chuyển đổi nào mai sau – dù mang tên gì – cũng không thể chỉ là thay biểu tượng, đổi thuật ngữ hay tuyên bố đoạn tuyệt với một học thuyết.
Nếu quyền lực vẫn đứng ngoài sự chế ước hữu hiệu; nếu người thắng mới lại xóa bên thua mới; nếu bất đồng tiếp tục bị xem là phản bội; nếu xã hội vẫn đặt hy vọng vào một lãnh tụ có khả năng giải quyết những vấn đề vốn thuộc về thiết chế, thì trật tự mới rất có thể chỉ tái tạo ra những cơ chế của trật tự vừa bị thay thế.
Bài học ấy rộng hơn bản thân chủ nghĩa cộng sản. Tên gọi chính trị có thể đổi nhanh hơn rất nhiều so với thói quen quyền lực, và xóa bỏ một giáo điều cũ tự nó không tạo nên một nền văn hóa trách nhiệm.
Công lý đòi hỏi sự thật, trách nhiệm cá nhân và cải cách những thiết chế từng cho phép lạm quyền. Hòa giải đòi hỏi phẩm giá bình đẳng, quyền bất đồng và sự từ chối trả thù tập thể.
Hai yêu cầu ấy không loại trừ mà cần đến nhau.
Không có công lý, hòa giải dễ biến thành quên lãng cưỡng bức. Không có hòa giải, công lý lại có nguy cơ trở thành công cụ trừng phạt trong tay người đang nắm quyền.
Chỉ khi lịch sử dân tộc được nhìn rộng hơn lịch sử của bất kỳ chính đảng nào, những dòng ký ức từng chia cắt người Việt mới có thể trở thành một phần của di sản đạo lý và tinh thần chung.
Chủ nghĩa cộng sản khi ấy có thể được đặt trở lại đúng tỷ lệ lịch sử của nó: một chương đặc biệt quan trọng trong lịch sử Việt Nam hiện đại, huy động được những nguồn năng lượng rất lớn và gắn với những thành tựu không thể phủ nhận một cách hợp lý, nhưng đồng thời cũng mang những giới hạn và bi kịch sâu sắc – không phải khởi đầu, không phải kết thúc và càng không phải ý nghĩa tối hậu của lịch sử Việt Nam.
Việt tộc đã tồn tại từ rất lâu trước khi các học thuyết chính trị hiện đại xuất hiện, và dân tộc ấy vẫn sẽ còn tồn tại sau khi nhiều học thuyết sẽ thay đổi, phai nhạt hoặc đi qua.
Vì vậy, câu hỏi quyết định không phải một nhãn hiệu chính trị nào sẽ biến mất vào lúc nào.
Câu hỏi là: đến thời điểm một trật tự lịch sử chạm giới hạn của chính nó, xã hội đã tích lũy được gì – đủ những con người độc lập, đủ tri thức, đủ lòng tôn trọng pháp luật, đủ trách nhiệm thể chế, đủ ký ức đã có khả năng đối thoại, đủ không gian cho sự thật và đủ kinh nghiệm hợp tác – để điều tiếp theo không chỉ là một biến thể khác của điều đã qua?
Một chu kỳ mới, nếu xuất hiện, không tự nhiên tốt hơn chỉ vì chu kỳ cũ đã kết thúc.
Nó chỉ trở thành một cuộc Khai Mở thực sự khi những điều kiện của Trưởng Thành đã bắt đầu hình thành: con người có khả năng tự chủ, pháp quyền, quyền lực chịu trách nhiệm, những ký ức có khả năng hòa giải và một xã hội đủ can đảm về mặt thể chế để phát hiện và sửa chữa sai lầm của chính mình.
Trường Tồn là một trong những thành tựu lớn của lịch sử Việt Nam, nhưng không phải tấm giấy miễn trừ cho những giới hạn của hiện tại.
Di sản ấy chỉ tiếp tục nuôi dưỡng sự sống nếu người Việt biết phân biệt dưỡng chất với độc tố, sức bền với trì trệ, khoan dung với nhập nhằng, đoàn kết với phục tùng và linh hoạt với sự thiếu nguyên tắc.
Hầu như mọi năng lực từng giúp người Việt tồn tại qua nhiều thế kỷ đều có hai mặt.
Làng xã bảo tồn cộng đồng nhưng cũng có thể nuôi dưỡng cục bộ. Gia đình tạo sức bền nhưng có thể làm suy yếu nghĩa vụ đối với không gian công cộng. Thích nghi giúp con người vượt qua hiểm nguy nhưng cũng có thể kéo dài một môi trường bất hợp lý. Phi tuyệt đối hóa tạo điều kiện cho dung hợp văn hóa nhưng có thể làm nhòe ranh giới đúng – sai. Quyền lực tập trung tạo sức huy động phi thường trong khủng hoảng nhưng, khi trở thành trạng thái bình thường, lại làm suy yếu chính năng lực tự sửa sai mà phát triển lâu dài đòi hỏi.
Những đứt gãy lịch sử nhiều lần cho phép Việt Nam phục hồi nhưng không giữ lại đầy đủ thành tựu của chu kỳ trước. Học nửa chừng đưa hình thức hiện đại lên bề mặt mà chưa chắc đã chuyển hóa tầng nền. Chủ nghĩa cộng sản huy động được những nguồn năng lượng rất lớn gắn với lòng yêu nước, bình đẳng và cuộc đấu tranh giành độc lập; nhưng khi trở thành nguồn chính danh chính trị độc quyền, nó đồng thời làm sống lại hoặc làm sâu thêm những trầm tích cũ của phục tùng, sợ khác biệt và loại ký ức của bên thất bại khỏi câu chuyện chung.
Không giới hạn nào trong số ấy là định mệnh. Chúng được tạo ra trong lịch sử; chính vì vậy, chúng cũng có thể được nhận diện, điều chỉnh và vượt qua.
Lịch sử không hứa hẹn rằng cứ sau suy thoái tất yếu sẽ là phục hưng. Không dân tộc nào được lịch sử bảo đảm cứu rỗi. Điều lịch sử cho phép ta hiểu khiêm tốn hơn nhưng cũng khắt khe hơn: không trạng thái lịch sử nào mặc nhiên vĩnh cửu, nhưng cơ hội thay đổi chỉ có ý nghĩa khi xã hội đã hình thành đủ năng lực để sử dụng cơ hội ấy.
Ở đây, hai nhịp vận động xuyên suốt khảo luận gặp nhau.
Tích – Tản giúp giải thích vì sao cộng đồng Việt Nam có thể phân tán mà không biến mất, rồi lại hội tụ khi điều kiện cho phép.
Khép – Mở đặt ra câu hỏi khó hơn: sau mỗi lần hội tụ, xã hội có vươn tới một trình độ phát triển cao hơn hay chỉ dựng lại một cấu trúc quen thuộc dưới một cái tên khác?
Đổi một trung tâm quyền lực lấy một trung tâm khác chưa phải Khai Mở. Đổi một thứ ngôn ngữ chính trị lấy một thứ ngôn ngữ khác trong khi vẫn giữ nguyên sự phục tùng, độc quyền ký ức và tâm lý mong chờ một “minh chủ” cứu nước thì chu kỳ cũ chưa thực sự kết thúc.
Bởi vậy, vấn đề quyết định không chỉ là nhận ra khi nào một trật tự đang đi tới giới hạn, mà còn là những gì đã được chuẩn bị trước khi thời điểm chuyển đổi xuất hiện: đã có đủ những con người biết phán đoán độc lập chưa; tri thức có đủ sức sống qua biến động chính trị hay không; văn hóa trách nhiệm đã hình thành chưa; pháp quyền có đứng vững không; các dòng ký ức đã có thể trò chuyện với nhau chưa; và các thiết chế đã biết phát hiện, sửa chữa sai lầm thay vì che giấu chúng chưa?
Một xã hội không nên đợi trật tự cũ kết thúc mới bắt đầu hỏi phải xây gì tiếp theo. Nền móng của cái mới nên được đặt từ trước, âm thầm tuy không hoàn hảo, ngay khi cái cũ vẫn còn đứng đó.
Chuyển hóa bắt đầu khi cộng đồng thôi biến sức chịu đựng thành lý do để tiếp tục chịu đựng; thôi dùng chiến thắng để sở hữu sự thật lịch sử; thôi coi tài xoay xở của người dân là vật thay thế cho trách nhiệm của thiết chế; và thôi tin rằng một kỷ nguyên mới có thể xuất hiện chỉ bằng cách đặt cho nó một cái tên mới.
Một thời đại mới chỉ thật sự bắt đầu khi con người và những thiết chế có khả năng sống trong thời đại ấy đã bắt đầu trưởng thành.
Từ đây, câu hỏi không còn chỉ là vì sao Việt tộc đã sống sót. Câu hỏi trở nên khó hơn:
Một dân tộc đã chứng minh được năng lực Trường Tồn phi thường, cần phải thay đổi điều gì trong chính mình để có thể tự nhận thức, tự sửa sai, chịu trách nhiệm và chủ động kiến tạo tương lai?
Đấy là bước chuyển từ Trường Tồn sang Trưởng Thành. Và đó cũng là nội dung của PHẦN III.
(Mời đón đọc Kỳ 3: TRƯỞNG THÀNH: TỪ CỘNG ĐỒNG LỊCH SỬ ĐẾN CHỦ THỂ VĂN MINH)
Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng (Cựu Đại sứ; Nghiên cứu viên của Caux Round Table)
Có thể đọc phiên bản tiếng Anh của Kỳ 2: https://www.cauxroundtable.org/2026/09/11/article-two-part-ii-resilient-continuity-its-capacities-and-limits/
——————
Tuần qua nhiều nơi trên nước Mỹ đã tổ chức lễ tưởng niệm 25 năm…
Suốt mấy chục năm qua, chống ngập vẫn chỉ dừng lại ở những lời nói…
Cuộc bầu cử tuần qua ở bang Sachsen-Anhalt tạo ra một cuộc địa chấn ở…
Romania là nước mà người Việt Nam chúng ta cần quan sát kỹ. Trước đây…
Trong gian phòng khách sạn, nhà báo quay cảnh Xiao Lu gặp cô dâu tên…