Tân Đạo Việt : Từ Xây Dựng Năng Lực Đến Kiến Tạo Tương Lai

Bài viết này là phần 5 / 5 trong loạt bài Tân Đạo Việt

PHẦN V : TỪ XÂY DỰNG NĂNG LỰC ĐẾN KIẾN TẠO TƯƠNG LAI

Đến đây, câu hỏi trung tâm về việc thúc đẩy Tân Đạo Việt không thể chỉ được trả lời bằng cách nhìn lại Việt Nam đã đi qua lịch sử như thế nào, cũng không thể chỉ bằng việc xác định Việt Nam đang đứng ở đâu trong một thế giới đang biến đổi. Biết mình là ai, biết thế giới đang thay đổi và thậm chí biết mình muốn gì vẫn chưa đủ. Câu hỏi tiếp theo là: điều gì giúp chúng ta biến những nhận thức ấy thành năng lực hành động có hiệu quả? 

Khoảng cách giữa điều một cộng đồng mong muốn trở thành và điều cộng đồng ấy thực sự làm được chính là khoảng cách giữa ước vọng và năng lực. 

Năng lực, theo nghĩa ấy, không đồng nghĩa với nguồn lực. Một quốc gia có thể đông dân nhưng vốn con người chưa mạnh; có tài nguyên nhưng không làm chủ công nghệ; thu hút nhiều đầu tư nước ngoài nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn quanh quẩn ở những khâu có giá trị gia tăng thấp; có vị trí địa–chiến lược quan trọng nhưng không chuyển hóa được vị thế ấy thành quyền tự chủ và khả năng lựa chọn lớn hơn. Ngược lại, một quốc gia không lớn vẫn có thể tạo ảnh hưởng vượt xa quy mô của mình nếu biết tổ chức con người, tri thức, thể chế và mạng lưới thành năng lực hành động. 

Vì vậy, nói đến năng lực, cuối cùng là nói đến môi trường cho phép năng lực của con người được phát hiện, sử dụng và cộng hưởng với nhau. Một xã hội không trở nên sáng tạo chỉ vì có nhiều người thông minh; một đất nước cũng không mạnh lên chỉ vì có nhiều cá nhân tài giỏi. Câu hỏi quyết định hơn là: người có năng lực được đặt vào đâu, họ được phép làm gì, điều gì khuyến khích họ nói thật, thử nghiệm, hợp tác và chịu trách nhiệm; và điều gì khiến năng lực của họ bị lãng phí, phải rời bỏ đất nước hoặc co lại chỉ để tồn tại? 

Phần V này là chặng phân tích cuối cùng về những đòi hỏi chiến lược, trước khi khảo luận trở lại câu hỏi rộng hơn: Việt Nam có thể đi về tương lai bằng những con đường nào? 

24. TỪ SỬA SAI ĐẾN NĂNG LỰC TỰ SỬA SAI

Không cá nhân nào luôn luôn đúng. Không một nhà nước, doanh nghiệp hay xã hội nào có thể bảo đảm mọi lựa chọn của mình đều đúng. Trong những thời kỳ biến đổi nhanh, một quyết định hợp lý hôm qua thậm chí có thể trở thành vật cản ngày mai. 

Bởi vậy, thước đo quan trọng của năng lực không phải là không bao giờ mắc sai lầm, mà là phát hiện sai lầm sớm đến đâu, sửa chữa hiệu quả đến mức nào và học được gì sau mỗi lần sửa. 

Cần phân biệt sửa một sai lầm với có năng lực tự sửa sai. Một chính sách có thể bị thay đổi khi hậu quả của nó đã không thể che giấu. Đó mới là mức thấp. Cao hơn là xem lại chính cơ chế đã tạo ra quyết định sai để những sai lầm tương tự không lặp lại. Cao hơn nữa là xây dựng những kênh thông tin, phản biện và kiểm chứng đủ mạnh để lời cảnh báo xuất hiện trước khi sai lầm biến thành khủng hoảng. 

Đến mức ấy, sửa sai không còn là phản ứng miễn cưỡng trước thất bại. Nó trở thành một bộ phận của năng lực quản trị. 

Điều này đòi hỏi nhiều hơn thiện chí của người lãnh đạo. Dù sáng suốt đến đâu, không một cá nhân nào có thể nhìn thấy toàn bộ xã hội. Thông tin phải có khả năng đi lên mà không bị tô hồng dọc đường. Chuyên gia phải có thể nói với người ra quyết định những điều họ không muốn nghe. Dữ liệu phải kiểm chứng được. Một thử nghiệm thất bại phải để lại tri thức chứ không chỉ để lại một người chịu tội. Và khi thực tế chứng minh một chính sách không còn phù hợp, phải có những con đường đủ rõ để thay đổi nó. 

Nói cách khác, tập trung quyền quyết định không đồng nghĩa với tập trung trí tuệ. 

Quyền lực có thể tập trung ở một nơi; tri thức thì không. Nó nằm trong các trường đại học, doanh nghiệp, địa phương, phòng thí nghiệm, báo chí, các cộng đồng nghề nghiệp, trong kinh nghiệm của người dân và nhiều khi ở chính những người đứng ngoài hệ thống quyết định chính thức. Một thể chế càng gạt những nguồn tri thức ấy ra bên lề, người ra quyết định càng dễ trở thành tù nhân của những thông tin đã được lựa chọn chỉ để làm họ yên lòng. 

Đổi Mới đáng được đọc lại từ góc nhìn này. Nếu chỉ kể đó là một quyết định sáng suốt từ trên xuống, ta sẽ bỏ qua vô số thử nghiệm, va đập và sáng kiến đã xuất hiện trong thực tế trước khi được chính thức thừa nhận. Nhưng nếu kể câu chuyện ngược lại rằng thay đổi chỉ đến từ xã hội hay từ những chuyên gia bên ngoài bộ máy nhà nước, ta cũng làm nghèo đi một quá trình vốn phức tạp hơn nhiều. 

Điều đáng chú ý nhất là những thời điểm mà kinh nghiệm thực tế, tri thức chuyên môn và quyền ra quyết định tìm được cách gặp nhau. 

Câu chuyện Nhóm Thứ Sáu ở Thành phố Hồ Chí Minh là một ví dụ nhỏ nhưng gợi nhiều suy nghĩ. Đây không phải một thiết chế chính thức. Nhiều thành viên từng được đào tạo hoặc làm việc trong môi trường miền Nam trước năm 1975. Họ gặp nhau, tranh luận về kinh tế và tìm cách đóng góp trong lúc đất nước phải học lại nhiều quy luật của thị trường. Về sau, một số người như Phan Chánh Dưỡng, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước được mời tham gia nhóm tư vấn hỗ trợ Thủ tướng Võ Văn Kiệt. 

Điều đáng nói không phải là dựng nên huyền thoại rằng một nhóm trí thức đã “cứu” nền kinh tế. Ý nghĩa nằm ở chỗ khác: tri thức từng đứng ngoài dòng chính vẫn có thể trở thành tài sản chung khi xuất hiện một không gian đủ mở để nó được lắng nghe và sử dụng. 

Đó cũng là một cách khác để hiểu chuyện dùng người. Không chỉ là tìm vài cá nhân xuất sắc rồi đặt họ vào những vị trí cao. Khó hơn nhiều là tạo ra một môi trường trong đó những con người với năng lực khác nhau đều tìm được chỗ đóng góp, kể cả khi xuất thân, kinh nghiệm và cách suy nghĩ của họ không hoàn toàn giống với những người đang nắm quyền quyết định. 

Một hệ thống chỉ mở cửa đón nhận tri thức khác mình khi khủng hoảng đã xảy ra vẫn có thể sửa được một số sai lầm. Nhưng cái giá thường rất lớn. Năng lực cao hơn là tạo ra những cửa sổ thường trực để sự thật có thể đi vào, để xã hội không phải chờ đến lúc bế tắc mới quay sang lắng nghe những người trước đó mình không muốn nghe. 

Vì vậy, “tự sửa sai” không thể chỉ là một phẩm chất đạo đức mà một tổ chức tự nhận cho mình. Nó phải được nhìn thấy qua những khả năng rất cụ thể: lời cảnh báo đầu tiên xuất hiện ở đâu? Nó có đến được người có quyền quyết định không? Một chuyên gia bất đồng phải trả giá gì khi nói lên ý kiến của mình? Khi chính sách thay đổi, cơ chế từng tạo ra chính sách sai có được xem xét lại không? Và quan trọng nhất: lần sau, hệ thống có nhận ra vấn đề sớm hơn không? 

Một đất nước thực sự có năng lực không phải là đất nước luôn chứng minh rằng mình đúng. Đó là đất nước không phải chờ đến khi cái giá của thất bại trở nên quá lớn mới được phép thừa nhận rằng mình có thể đã sai. 

25. NHỮNG NĂNG LỰC VIỆT NAM ĐÃ TỪNG CÓ

Nếu chỉ nhìn vào những thiếu hụt hiện tại, rất dễ đi đến kết luận bi quan rằng Việt Nam thiếu năng lực. Nhưng lịch sử cho thấy một bức tranh khác. Trong những hoàn cảnh rất khác nhau, người Việt nhiều lần chứng tỏ khả năng học hỏi, thích nghi, tổ chức, kinh doanh, chiến đấu, xây dựng cộng đồng, tiếp nhận công nghệ và kết nối với thế giới. 

Vấn đề có lẽ không đơn giản là Việt Nam có hay không có năng lực. Câu hỏi quan trọng hơn là những năng lực ấy hình thành ở đâu, trong những điều kiện nào, vì sao chúng thường tồn tại rời rạc, và vì sao những điều người Việt có thể làm rất tốt trong một môi trường lại khó trở thành năng lực chung của cả đất nước. 

Sự chia cắt Việt Nam trong thế kỷ XX tạo nên những trường hợp rất khác nhau. Trong điều kiện chiến tranh khắc nghiệt, miền Bắc phát triển mạnh khả năng huy động con người và vật lực, tổ chức tập trung, chịu đựng gian khổ và dồn nguồn lực vào những mục tiêu được coi là sống còn. Không thể hiểu kết quả của các cuộc chiến nếu bỏ qua năng lực tổ chức và huy động ấy. 

Ở miền Nam, trong những điều kiện chính trị, kinh tế và quốc tế rất khác, những loại năng lực khác đã hình thành: đời sống đô thị và thương mại, các ngành nghề chuyên môn, kinh nghiệm kinh tế thị trường, các thiết chế giáo dục và y tế, báo chí, kinh doanh và những mối liên hệ khá rộng với thế giới bên ngoài. 

Những năng lực ấy không biến Việt Nam Cộng hòa thành một mô hình không có khuyết điểm. Chiến tranh, bất ổn chính trị, sự lệ thuộc lớn vào Hoa Kỳ và những hạn chế về quản trị đều là những phần không thể bỏ qua của bức tranh. Nhưng những hạn chế đó cũng không phải lý do để phủ nhận nguồn vốn con người và xã hội đã được tạo dựng ở miền Nam. 

Đặt hai kinh nghiệm ấy cạnh nhau không nhằm phán xét bên nào “tốt hơn”. Câu hỏi ấy vừa quá lớn vừa không phục vụ mục đích của khảo luận này. 

Câu hỏi hữu ích hơn là: vì sao cũng là người Việt Nam, nhưng trong những môi trường tổ chức khác nhau, lại có thể hình thành những loại năng lực khác nhau? 

Điều đó đưa chúng ta tới một điểm nhạy cảm nhưng không thể né tránh: năng lực không chỉ nằm trong con người. Nó còn phụ thuộc vào không gian mà trong đó con người được phép sử dụng khả năng của mình. 

Một kỹ sư có thể tài giỏi như nhau ở hai nơi nhưng tạo ra những kết quả rất khác nếu một môi trường cho phép thử nghiệm còn môi trường kia tưởng thưởng cho sự an toàn. Một nhà khoa học vẫn có trí tuệ ấy nhưng lượng tri thức tạo ra sẽ khác tùy vào quyền tự chủ nghiên cứu, nguồn lực và khả năng đối thoại. Một doanh nhân có thể rất năng động nhưng lại phải dành phần lớn tài năng cho việc xây dựng quan hệ nếu luật chơi khiến quan hệ quan trọng hơn đổi mới. 

Vì vậy, có lẽ câu hỏi “Người Việt có năng lực hay không?” đã được đặt sai. 

Nên hỏi: những điều kiện nào giải phóng tốt nhất năng lực của người Việt, và những điều kiện nào khiến các năng lực ấy ngủ yên? 

Đó cũng là lý do thống nhất quốc gia không tự động dẫn đến hợp lưu năng lực. 

Một đường ranh giới có thể biến mất khỏi bản đồ trong một ngày. Nhưng những hệ thống giáo dục và kinh tế, ký ức lịch sử, quan hệ xã hội và thói quen nghề nghiệp được hình thành qua nhiều thập niên không thể hòa nhập chỉ bằng một quyết định hành chính. 

Sau chiến tranh, logic thắng–thua, sự khác biệt về mô hình tổ chức xã hội, chính sách đối với những người từng gắn với chế độ cũ, các làn sóng di cư, rồi chiến tranh biên giới, cấm vận và khó khăn kinh tế càng khiến quá trình hợp lưu ấy trở nên phức tạp. Trong hoàn cảnh đó, một phần vốn con người của miền Nam được sử dụng lại; một phần thích nghi với trật tự mới; một phần rời khỏi đất nước; và một phần bị mất đi. 

Ở đây cần phân biệt thống nhất lãnh thổ với hợp lưu năng lực. 

Thống nhất một đất nước là một sự kiện chính trị. Hợp nhất những năng lực đã được hình thành trong các không gian lịch sử khác nhau là một quá trình lâu dài hơn nhiều. 

Việt Nam hoàn thành việc thứ nhất hơn nửa thế kỷ trước. 

Việc thứ hai có lẽ vẫn còn dang dở. 

Câu chuyện Nhóm Thứ Sáu vì thế có ý nghĩa vượt ra ngoài bản thân nhóm. Những người từng đứng ở một vị trí khác trong lịch sử có thể trở thành cộng sự trong việc giải quyết một vấn đề chung khi quá khứ không còn là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá năng lực của họ. 

Điều đó không xóa lịch sử. Nó chỉ gợi ra rằng một cộng đồng trưởng thành có thể làm được một việc khó hơn: biến những di sản từng thuộc về những phía khác nhau thành vốn chung cho tương lai. 

Sau năm 1975, lịch sử lại tạo ra một không gian Việt Nam khác trong cộng đồng toàn cầu: người Việt ở nước ngoài. 

Nếu chỉ nhìn giá trị của cộng đồng này qua lượng kiều hối gửi về mỗi năm, ta mới thấy phần đóng góp dễ đo nhất. Qua nhiều thập niên, cộng đồng người Việt ở nước ngoài còn tích lũy tri thức, kinh nghiệm kinh doanh, chuyên môn khoa học–công nghệ, kinh nghiệm quản trị và các mạng lưới nghề nghiệp tại nhiều trung tâm phát triển lớn trên thế giới. 

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy cộng đồng hải ngoại có thể chuyển giao nhiều hơn tiền bạc: tri thức, công nghệ, quan hệ và kinh nghiệm thể chế. Ngay tại Việt Nam, một dự án khoa học–công nghệ được Ngân hàng Thế giới hỗ trợ đã thu hút hơn một trăm chuyên gia nước ngoài, trong đó có các chuyên gia người Việt ở nước ngoài, đồng thời tạo ra nhiều hoạt động chuyển giao công nghệ với các viện và trường đại học trong nước. Những khuyến nghị phát triển gần đây cũng tiếp tục xem sự tham gia của chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài vào đại học và nghiên cứu trong nước như một nguồn lực quốc gia quan trọng. 

Nhưng cũng như câu chuyện Bắc–Nam, vấn đề không đơn giản là “mời người tài trở về”. Một nhà khoa học trở về mà thiếu tự chủ nghiên cứu thì khó phát huy năng lực. Một doanh nhân mang theo kinh nghiệm quốc tế nhưng gặp luật chơi thiếu ổn định sẽ phải tiêu hao năng lượng để thích nghi với luật chơi. Một chuyên gia được mời tư vấn nhưng chỉ được phép nói những điều người mời muốn nghe thì tri thức quốc tế cuối cùng chỉ còn là đồ trang trí. 

Câu hỏi về người Việt ở nước ngoài vì thế lại quay về câu hỏi căn bản: một xã hội có đủ rộng để dung chứa những loại năng lực khác nhau hay không? 

Nhìn như vậy, vấn đề lớn hơn cả hòa giải Bắc–Nam. Việt Nam thế kỷ XXI đồng thời tồn tại trong và ngoài biên giới quốc gia, trong những ký ức khác nhau, những hệ thống giáo dục khác nhau và những mạng lưới nghề nghiệp trải khắp thế giới. 

Nhiệm vụ không phải là làm cho mọi người Việt Nam suy nghĩ giống nhau. 

Nếu phải giống nhau rồi mới có thể hợp tác, cái giá của đoàn kết sẽ là sự nghèo đi của chính cộng đồng. 

Thách thức lớn hơn là làm sao những người khác nhau vẫn có thể cùng tạo ra giá trị chung. 

Từ con người chuyển sang kinh tế, chúng ta lại gặp chính vấn đề ấy. Việt Nam có vị trí địa lý đặc biệt, nằm cạnh Trung Quốc và gần những tuyến thương mại lớn của châu Á; có quan hệ kinh tế sâu rộng với nhiều trung tâm lớn, thu hút lượng đáng kể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và ngày càng tham gia sâu vào các chuỗi sản xuất toàn cầu. 

Nhưng trước hết, đó mới là những điều kiện. Chúng chưa phải năng lực. 

Một nhà máy đặt trên lãnh thổ Việt Nam không có nghĩa công nghệ của nhà máy ấy thuộc về Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu lớn không tự động cho biết doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị. Có khoáng sản dưới lòng đất không có nghĩa đã có một nền công nghiệp vật liệu. Có vị trí được các cường quốc coi trọng không đồng nghĩa với có tự chủ chiến lược. 

Các đánh giá gần đây của Ngân hàng Thế giới về con đường tiến tới thu nhập cao của Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh năng lực nghiên cứu, liên kết đại học–doanh nghiệp, thương mại hóa công nghệ, phát triển nhân tài và những dòng lưu chuyển tri thức linh hoạt hơn. 

Nói cách khác, vấn đề đang chuyển dần từ có thêm nguồn lực sang làm được gì với những nguồn lực đã có. 

Có thể cô đọng sự phân biệt ấy như sau: 

  • Tài nguyên chưa phải năng lực;
  • FDI chưa phải năng lực;
  • Vị trí địa lý chưa phải năng lực;
  • Quan hệ với các cường quốc cũng chưa phải năng lực.

Chúng chỉ trở thành sức mạnh khi xã hội có khả năng chuyển hóa chúng thành tri thức, công nghệ, kỹ năng, giá trị gia tăng và cuối cùng là nhiều lựa chọn hơn cho chính mình. 

Từ đây có thể trở lại paradigm mà tác giả đã hình thành từ nhiều năm trước. Hệ hình P&DOWN – Partnership, Democratization, Organizing, Wisdom, Networking – ban đầu được hình dung như một cách suy nghĩ về những năng lực Việt Nam cần có. Tân Đạo Việt không cần lặp lại nguyên dạng hệ hình ấy. Nhưng hạt nhân của nó có thể được tái cấu trúc thành năm năng lực phục vụ việc kiến tạo tương lai Việt Nam — 5K. 

Kết hợp với “đối tác” trước hết là khả năng tạo sức mạnh từ hợp tác và khác biệt. Một xã hội chỉ huy động được những người giống nhau sẽ luôn sử dụng ít hơn tổng năng lực mà nó thực sự có. Kết hợp vì vậy không chỉ là hợp tác quốc tế. Đó còn là khả năng để nhà nước và xã hội, khoa học và doanh nghiệp, người trong nước và người Việt ở nước ngoài, những con người mang các ký ức lịch sử khác nhau có thể cùng làm việc. 

Khai mở là khả năng giải phóng những sáng kiến đang bị giữ lại trong con người. “Dân chủ hóa” đòi hỏi không gian cho phản biện, thử nghiệm và cả những ý tưởng chưa được số đông chấp nhận. Khai mở không bảo đảm mọi ý tưởng mới đều đúng; nhưng nó cho xã hội nhiều cơ hội hơn để tìm ra cái đúng và loại bỏ cái sai. 

Kiến tạo là “khả năng tổ chức” biến ý tưởng thành hiện thực. Việt Nam không thiếu những lời kêu gọi hấp dẫn, những mục tiêu lớn hay những cá nhân có sáng kiến. Khoảng trống thường nằm giữa ý tưởng và tổ chức, giữa nghị quyết và thực thi, giữa mô hình thí điểm và khả năng nhân rộng. Kiến tạo là năng lực biến cái có thể thành cái có thật. 

Khôn ngoan (minh triết) khác với thông minh. Một người rất thông minh vẫn có thể lựa chọn sai nếu không nhìn thấy hậu quả dài hạn, không hiểu giới hạn tri thức của mình hoặc không biết đặt lợi ích riêng trong tương quan với lợi ích cộng đồng. Một quốc gia cũng vậy. Công nghệ, của cải và quyền lực càng lớn thì càng cần sự khôn ngoan. Năng lực thiếu phán đoán đôi khi chỉ giúp người ta đi nhanh hơn trên một con đường sai. 

Cuối cùng là “Kết nối”: networking người với người, địa phương với quốc gia, Việt Nam với thế giới, tri thức với nhu cầu thực tế, quá khứ với tương lai. Trong một thế giới ngày càng vận hành bằng mạng lưới, đứng ngoài mạng lưới có thể đồng nghĩa với mất cơ hội; nhưng chỉ tham gia ở những mắt xích có giá trị thấp nhất cũng chưa phải tận dụng được lợi ích của kết nối. 

Năm chữ K ấy không phải năm bậc của một chiếc thang, càng không phải một công thức phát triển. Chúng có thể nâng đỡ nhưng cũng có thể kiềm chế lẫn nhau. 

Kết nối thiếu Khôn ngoan có thể tạo thêm lệ thuộc. Kiến tạo thiếu Khai mở có thể thực hiện rất hiệu quả một lựa chọn sai. Khai mở mà thiếu năng lực Kiến tạo có thể dừng lại ở tranh luận. Kết hợp mà thiếu những nguyên tắc chung có thể chỉ còn là sự dàn xếp lợi ích. 

Điều quan trọng vì thế không nằm ở từng chữ K riêng lẻ, mà ở khả năng cộng hưởng giữa chúng. 

Đến đây có thể trở lại câu hỏi đầu tiên: người Việt có thiếu năng lực không? 

Một câu trả lời thận trọng hơn có lẽ là: trong những môi trường khác nhau, người Việt nhiều lần chứng minh rằng họ không thiếu khả năng. Điều Việt Nam còn phải xây dựng là những điều kiện để các năng lực ấy không triệt tiêu nhau, không phải tồn tại cô lập và có thể trở thành tài sản chung của quốc gia. 

Đó không thể là công việc của một thế hệ, càng không thể phó thác cho vài cá nhân xuất chúng. Không quốc gia nào có thể đặt tương lai dài hạn của mình vào hy vọng rằng lúc nào cũng may mắn tìm được những nhà lãnh đạo kiệt xuất. 

Năng lực chỉ trở nên bền vững khi kết quả tốt không còn hoàn toàn phụ thuộc vào người tình cờ đứng trên đỉnh quyền lực, mà được nuôi dưỡng bởi những luật lệ và thiết chế cho phép những người có năng lực ở nhiều vị trí khác nhau cùng đóng góp cho lợi ích chung. 

Có lẽ chính ở đây hiện ra ranh giới giữa một đất nước có người tài và một đất nước có năng lực chung. 

26. CHUẨN BỊ CHO MỘT TƯƠNG LAI CHƯA ĐƯỢC ĐẶT TÊN

Nhưng ngay cả khi một xã hội có thể phát triển năng lực của mình, vẫn còn một câu hỏi khó hơn: năng lực để làm gì, nếu không ai biết chắc thế giới vài chục năm nữa sẽ ra sao? 

Trong phần lớn lịch sử hiện đại, phát triển thường được hình dung như một hành trình có thể vạch tương đối rõ: công nghiệp hóa, đô thị hóa, phổ cập giáo dục, tích lũy vốn, tăng năng suất rồi chuyển từ lao động giản đơn sang các ngành có giá trị cao hơn. 

Những bước ấy vẫn chưa mất hết ý nghĩa. Nhưng thế kỷ XXI đang khiến khoảng cách giữa các bậc thang – thậm chí hình dáng của chính chiếc thang – ngày càng khó dự báo. 

Biến đổi khí hậu, già hóa dân số, cạnh tranh giữa các cường quốc, phân mảnh thương mại, công nghệ sinh học, tự động hóa và đặc biệt là trí tuệ nhân tạo đang vận động với những tốc độ khác nhau nhưng tác động lẫn nhau. Một quốc gia có thể xây dựng chiến lược cho một thế giới mà chỉ mười năm sau, một số giả định nền tảng của chiến lược ấy đã thay đổi. 

Bởi vậy, chuẩn bị cho tương lai không thể chỉ có nghĩa là dự báo đúng tương lai. 

Năng lực sâu hơn là vẫn có thể sống và hành động khi dự báo của chúng ta sai. 

Điều đó làm thay đổi chính cách hiểu về hoạch định. Một kế hoạch tốt không phải tấm bản đồ bắt tương lai phải đi theo những con đường đã vẽ. Nó phải có khả năng tự cập nhật khi địa hình thay đổi. 

Một nền giáo dục tốt không thể chỉ đào tạo con người cho những nghề đang tồn tại. Nó phải giúp họ có khả năng học lại khi nghề nghiệp thay đổi. Một nền kinh tế có sức chống chịu không thể chỉ được tối ưu hóa cho những điều kiện thuận lợi; nó phải có khả năng đổi nhà cung cấp, công nghệ và phương thức tổ chức khi những mối liên kết quen thuộc bị đứt gãy. 

AI đang đẩy thách thức ấy tới giới hạn của trí tưởng tượng. 

Vấn đề không chỉ là máy móc ngày càng làm được những việc trước đây con người làm. Quan trọng hơn, tốc độ biến đổi công nghệ có thể vượt xa khả năng thích nghi của giáo dục, pháp luật, tổ chức lao động và những chuẩn mực đạo đức được tạo ra để điều chỉnh các sáng tạo mới cùng những hệ quả ngoài dự kiến của chúng. 

Khoảng cách ấy càng rộng, xã hội càng dễ rơi vào nghịch lý: nắm trong tay những công cụ cực kỳ mạnh nhưng chưa biết mình thực sự muốn dùng chúng để làm gì. 

Vì vậy, Việt Nam không thể chỉ hỏi cần bao nhiêu trung tâm dữ liệu, phải đào tạo bao nhiêu kỹ sư AI hay đang đứng thứ bao nhiêu trên bảng xếp hạng công nghệ. Những câu hỏi ấy cần thiết nhưng chưa đủ. 

Vấn đề còn phải hỏi: con người cần được chuẩn bị thế nào khi máy móc có thể đảm nhiệm một phần lao động trí óc? Giáo dục phải dạy gì khi tri thức có thể được truy xuất gần như tức thời? Ai chịu trách nhiệm khi ngày càng nhiều quyết định có sự tham gia của thuật toán? Và xã hội sẽ phân bổ cơ hội ra sao nếu năng suất tăng lên nhưng thành quả của năng suất ấy ngày càng tập trung vào một số ít người? 

Hôm nay chưa ai có câu trả lời đầy đủ. 

Chính vì thế, điều cần thiết không phải một giáo điều mới về AI, mà là năng lực học hỏi ngay trong khi tương lai đang hình thành. 

Năm năng lực nói trên có thể được vận dụng ở đây mà không biến thành một kiến trúc kinh tế–xã hội cứng nhắc. Xã hội phải kết nối với những trung tâm tri thức mới nhưng vẫn giữ được khả năng phán đoán độc lập và nhân bản; phải mở không gian thử nghiệm nhưng biết nhận diện rủi ro; phải kiến tạo đủ nhanh để không bị bỏ lại phía sau nhưng cũng đủ khôn ngoan để hiểu rằng làm được một việc không có nghĩa là nên làm việc ấy; và phải biết kết hợp nhiều nguồn tri thức, bởi không một thiết chế hay thế hệ nào có thể hiểu hết những thay đổi đang đến. 

Thế kỷ XX từng chứng kiến con người trao những quyền năng phán đoán khổng lồ cho các hệ tư tưởng tự nhận đã nắm được quy luật của lịch sử. 

Thế kỷ XXI không nên lặp lại sai lầm ấy dưới một hình thức mới: trao quyền phán quyết cuối cùng cho thuật toán chỉ vì nó xử lý được nhiều dữ liệu hơn con người. 

AI có thể trở thành một đối tác trí tuệ phi thường. Nó có thể mở rộng năng lực nghiên cứu, giáo dục, y tế, sản xuất và quản trị. Nhưng khả năng tính toán không đồng nghĩa với trách nhiệm đạo đức; cũng như biết được rất nhiều phương án không đồng nghĩa với biết một cộng đồng nên chọn phương án nào. 

Quyền phán quyết cuối cùng vì thế phải gắn với con người — không phải vì con người luôn sáng suốt, mà chính vì con người phải chịu trách nhiệm về thế giới mình tạo ra. 

Ở đây, khái niệm năng lực có thêm một tầng nghĩa. Năng lực cần cho tương lai không chỉ là khả năng làm được nhiều hơn. Nó còn là khả năng biết điều gì không nên làm; khả năng thay đổi khi điều mình tin không còn đúng; khả năng hợp tác với những người không giống mình; và khả năng giữ lại nhiều lựa chọn khi tương lai chưa thành hình. 

Theo nghĩa ấy, một xã hội mạnh không phải là xã hội biết chắc năm mươi năm nữa mình sẽ ở đâu. Không ai có thể biết điều đó. 

Đó là xã hội không tự khóa mình vào một khả năng duy nhất. 

Giáo dục giữ cho những khả năng mới còn có thể xuất hiện. Khoa học kiểm nghiệm những điều tưởng như chắc chắn. Pháp luật ngăn quyền lực tùy tiện đóng cánh cửa của người khác. Thị trường mở không gian cho thử nghiệm và sáng kiến nhưng cũng cần những giới hạn để quyền lực kinh tế không trở thành một thứ quyền lực không phải giải trình. Văn hóa và ký ức giúp cộng đồng không đánh mất mình trong khi thay đổi. Và những thiết chế có khả năng tự sửa sai giúp xã hội quay lại khi nhận ra con đường đang đi không còn phù hợp. 

Nhìn từ đó, năng lực cao nhất có lẽ không phải là khả năng chọn đúng con đường. 

Mà là khả năng tạo thêm những con đường có thể lựa chọn và bảo vệ quyền của xã hội được lựa chọn giữa những con đường ấy. 

Tân Đạo Việt vì thế không dự báo Việt Nam sẽ trở thành cái gì. Nó cũng không thể viết sẵn bản thiết kế cho những thế hệ chưa sinh ra. Tham vọng khiêm nhường hơn là đặt một câu hỏi: Việt Nam cần chuẩn bị những năng lực nào để khi tương lai đến khác với những gì hôm nay ta hình dung, người Việt vẫn không đánh mất quyền tự mình trả lời câu hỏi họ muốn trở thành ai? 

Đạo Việt phải được nuôi dưỡng từ những gì riêng có của người Việt — từ truyền thống đạo lý và niềm tự hào của một cộng đồng — để chuyển những phẩm chất ấy thành năng lực phù hợp và hữu ích cho hôm nay, rồi tiếp tục tái tạo năng lực ấy hết lần này đến lần khác trong tương lai. 

Đến đây, câu hỏi về năng lực đã đi tới giới hạn của nó. Phần còn lại trở về với câu hỏi đã âm thầm đi cùng toàn bộ khảo luận: nếu không có một con đường duy nhất được viết sẵn bởi định mệnh hay áp đặt bởi một hệ tư tưởng; nếu lịch sử không có sẵn tấm bản đồ cuối cùng; và nếu mỗi thế hệ đều phải tự chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình, thì liệu những con đường khác nhau vẫn có thể gặp nhau trong hòa hợp ở một chân trời chung? 

TỔNG KẾT CHUNG

“TÂN ĐẠO VIỆT: ĐỒNG QUY NHI THÙ ĐỒ”

Đi qua năm phần của Tân Đạo Việt, người đọc có quyền đặt câu hỏi: nếu có thể có một “Tân Đạo Việt”, liệu cũng có thể có một con đường mới của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay những cộng đồng khác? Và nếu mỗi dân tộc đều có thể tìm đường riêng, liệu Tân Đạo Việt cuối cùng có trở thành một thứ chính thống mới, khép kín trong tính địa phương của chính mình? 

Câu trả lời phải bắt đầu từ chính giới hạn của khảo luận này. 

Tân Đạo Việt không có tham vọng tìm ra một “chính thống mới” cho khu vực hay thế giới, càng không tự coi mình là con đường đã được định sẵn cho tương lai Việt Nam. Tân Đạo Việt đặt lại vấn đề về mọi niềm tin vào một “con đường duy nhất”. Bởi vậy, nếu cuối cùng chính nó lại tự nhận mình là “con đường duy nhất” cho Việt Nam, nó sẽ tự phủ định tiền đề của chính mình. 

Trần Quốc Vượng từng gợi ra một cách nhìn mà khảo luận này nhiều lần muốn trở lại: đặt “giọt Việt Nam” trong đại dương lịch sử nhân loại, đồng thời nhìn thấy đại dương ấy trong chính giọt Việt Nam. 

Hình ảnh ấy giúp tránh hai cực đoan. 

Một là coi Việt Nam đặc biệt đến mức kinh nghiệm và bài học của thế giới không còn ý nghĩa. Hai là coi Việt Nam chỉ như một quân cờ nhỏ trên bàn cờ các cường quốc, với số phận chủ yếu do những lực lượng bên ngoài quyết định. 

Cả hai đều làm nghèo lịch sử. 

Việt Nam chưa bao giờ tồn tại bên ngoài khu vực và thế giới. Phật giáo, Nho giáo, văn minh Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ, Công giáo, tư tưởng Khai sáng, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa Marx, kinh tế thị trường, Internet và giờ đây là trí tuệ nhân tạo — tất cả đã hoặc đang đi vào đời sống Việt Nam. 

Nhưng mỗi khi đi qua Việt Nam, chúng cũng được lựa chọn, biến đổi, thích nghi, chống lại hoặc Việt hóa. Cái từ bên ngoài đi vào trở thành một phần của bên trong; còn chính cái bên trong cũng không ngừng thay đổi qua những lần gặp gỡ với thế giới. 

Tân Đạo Việt vì vậy không đi tìm một “ngoại lệ Việt Nam”. Nó cũng không tìm một mô hình nước ngoài để Việt Nam sao chép. 

Điều nó tìm kiếm khiêm nhường hơn: đặt kinh nghiệm Việt Nam vào dòng lịch sử chung của nhân loại mà không từ bỏ quyền của người Việt được tự suy nghĩ và tự chịu trách nhiệm về tương lai của mình. 

Từ Chu kỳ đến Năng lực 

Nếu phải tìm một sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ khảo luận này, có lẽ đó không phải một học thuyết mà là một chuỗi câu hỏi. 

Chu kỳ bắt đầu từ nhận thức về tính hữu hạn. Không một trật tự lịch sử nào tồn tại mãi chỉ vì nó đã tồn tại lâu. Không một thiết chế nào đứng ngoài sự bào mòn của thời gian. Và không thế hệ nào có thể mặc nhiên coi hoàn cảnh mình đang sống là hình thái cuối cùng của lịch sử. 

Nhưng nhận ra tính hữu hạn của các trật tự lịch sử lại dẫn đến một câu hỏi khác: điều gì khiến một cộng đồng vẫn nhận ra mình sau chiến tranh, chia cắt, xâm lược, di cư và những biến đổi rất lớn về văn hóa, thể chế và đời sống thường nhật? 

Từ đó xuất hiện câu hỏi về Trường tồn. 

Nhưng trường tồn chưa đủ. Một cộng đồng có thể tồn tại rất lâu mà vẫn mang theo những giới hạn khiến các cuộc khủng hoảng cũ lặp lại dưới những hình thức mới. Sức bền vì thế phải chuyển thành khả năng nhìn lại mình, nghe những sự thật khó nghe, sống cùng những ký ức khác nhau và sửa những gì không còn hiệu quả. 

Đó là chuyển động từ Trường tồn đến Trưởng thành. 

Nhưng một cộng đồng trưởng thành không sống trong chân không. Nó tồn tại giữa các cường quốc, thị trường, mạng lưới công nghệ, dòng vốn, chuỗi cung ứng và những không gian văn minh ngày càng đan xen. Giữ mình không còn đồng nghĩa với khép mình; tự chủ không có nghĩa là đứng ngoài thế giới. 

Trưởng thành vì thế phải dẫn tới Khai mở. 

Và Khai mở vẫn có thể chỉ là một ước vọng nếu cộng đồng không có khả năng biến lựa chọn thành hành động. Vì vậy, khảo luận cuối cùng đi tới Năng lực: không chỉ là người tài, nguồn lực hay cơ hội, mà là những điều kiện để tài năng được sử dụng, nguồn lực được chuyển hóa, sai lầm được sửa chữa và những khả năng khác nhau có thể cộng hưởng. 

Nhìn như vậy, Chu kỳ – Trường tồn – Trưởng thành – Khai mở – Năng lực không phải năm bậc thang mà lịch sử bắt buộc phải lần lượt bước qua. 

Lịch sử không ngay ngắn đến thế. 

Một xã hội có thể trưởng thành ở lĩnh vực này nhưng thụt lùi ở lĩnh vực khác; rất mở với thị trường nhưng lại đóng cửa với tư tưởng; có năng lực tổ chức cực lớn nhưng năng lực tự sửa sai rất hạn chế. 

Năm khái niệm ấy chỉ là năm góc nhìn vào cùng một hệ vấn đề: 

Một cộng đồng làm thế nào vừa giữ được mình, vừa vượt qua chính mình để bước vào tương lai? 

Không con đường nào có quyền trở thành vĩnh viễn 

Một trong những cám dỗ lý tính lớn của thời hiện đại là niềm tin rằng lịch sử có một hướng đi tất yếu. Nếu đã khám phá được quy luật của lịch sử thì việc còn lại chỉ là xác định đúng con đường rồi kiên trì đi theo. 

Niềm tin ấy từng tạo ra sức mạnh phi thường. Nó giúp con người chịu đựng hy sinh, tổ chức những phong trào lớn và theo đuổi những mục tiêu vượt khỏi đời sống của một thế hệ. 

Nhưng thế kỷ XX cũng phơi bày “mặt trái của tấm huân chương”: khi một con đường được đồng nhất với chân lý lịch sử, quyền đặt câu hỏi về con đường ấy rất dễ bị coi thành chống lại chính lịch sử. 

Tân Đạo Việt bắt đầu từ một tiền đề khác: 

Không một thế hệ nào có quyền lựa chọn thay cho các thế hệ kế tiếp. 

Một lựa chọn có thể từng đúng trong một hoàn cảnh cụ thể nhưng không vì thế trở thành chân lý vĩnh viễn. Một thiết chế từng giúp xã hội vượt qua khủng hoảng có thể trở thành lực cản khi hoàn cảnh thay đổi. Một tư tưởng từng mở đường cho con người cũng có thể hóa thành giáo điều nếu nó không còn cho phép con người đặt câu hỏi về chính hệ tư tưởng ấy.  

Tự do sâu xa của một cộng đồng vì thế không chỉ nằm ở quyền lựa chọn giữa những khả năng đang có.  

Nó còn nằm ở khả năng không đóng kín tương lai, để những thế hệ sau vẫn có quyền tìm kiếm và lựa chọn những con đường mà hôm nay chúng ta chưa thể hình dung. 

Có lẽ đó là một trong những ý nghĩa sâu nhất của Khai mở: 

Không phải mở một cánh cửa để tất cả mọi người phải bước qua, mà là không khóa những cánh cửa mà các thế hệ tương lai có thể cần mở. 

Khi những tác nhân mới bước vào tương lai 

Câu hỏi ấy càng cấp thiết khi chúng ta bước vào một thế giới mà chính cấu trúc của lao động, tri thức và quyền lực đang thay đổi. 

Nhiều nền tảng của kinh tế học và chính trị hiện đại được xây dựng trong thời đại mà con người vẫn là chủ thể trung tâm của lao động trí óc, sáng tạo và ra quyết định. Máy móc có thể thay thế sức lực, nhưng phân tích, phán đoán và tạo ra tri thức về cơ bản vẫn thuộc về con người. 

AI đang dịch chuyển ranh giới ấy. 

Vấn đề không chỉ là AI sẽ xóa bao nhiêu việc làm hay tạo ra bao nhiêu nghề mới. Câu hỏi sâu hơn là: điều gì xảy ra với một xã hội khi năng lực tạo ra tri thức, phân tích thông tin và tham gia quyết định không còn thuộc riêng con người? 

Nếu năng suất trí tuệ tăng nhanh hơn nhiều so với khả năng tạo ra việc làm truyền thống, quan hệ giữa lao động và thu nhập sẽ thay đổi thế nào? Nếu ngày càng nhiều của cải được tạo ra với ngày càng ít lao động trực tiếp của con người, xã hội sẽ dựa vào nguyên tắc nào để phân phối cơ hội và thành quả? Nếu máy móc tạo câu trả lời nhanh hơn con người, giáo dục còn phải dạy điều gì? Và nếu thuật toán tham gia ngày càng sâu vào những quyết định ảnh hưởng đến đời sống con người, ai sẽ chịu trách nhiệm khi quyết định ấy sai? 

Hôm nay chưa ai có câu trả lời đầy đủ. 

Chính sự thiếu vắng câu trả lời ấy mới đáng suy nghĩ. 

Nó nhắc rằng tương lai sắp tới có thể không đơn giản là một phiên bản nhanh hơn, giàu hơn và nhiều công nghệ hơn của hiện tại. Một số tiền đề mà kinh tế học, khoa học chính trị và triết học hiện đại lâu nay coi là hiển nhiên có thể sẽ phải được xem xét lại. 

Và Tân Đạo Việt trở lại đúng điểm xuất phát của mình: không đi tìm một câu trả lời cuối cùng, mà chuẩn bị năng lực để tiếp tục đặt câu hỏi khi những câu trả lời cũ không còn đủ nữa. 

Chuẩn bị cho điều chưa biết 

Nếu lịch sử thực sự hữu hạn, câu hỏi nghiêm túc đối với bất kỳ xã hội nào không phải là trật tự hiện tại sẽ tồn tại được bao lâu. Không ai biết chắc điều đó. 

Câu hỏi quan trọng hơn là: 

Khi những gì hôm nay tưởng như cố định không còn cố định nữa, cộng đồng ấy đã chuẩn bị đủ để vẫn sống cùng nhau và kiến tạo một trật tự khác hay chưa? 

Lịch sử Việt Nam nhiều lần phải trả giá khi thay đổi đến nhanh hơn khả năng chuẩn bị của đất nước. Những khoảng trống như vậy rất dễ được lấp bằng một mô hình nhập khẩu, một chân lý tuyệt đối mới, một cường quốc bảo trợ hoặc một nhóm người tự nhận rằng mình đã biết trước hướng đi của lịch sử. 

Tân Đạo Việt không thể viết trước hình hài của một Việt Nam tương lai. Làm như vậy chính là lặp lại điều khảo luận này muốn đặt thành vấn đề. 

Điều có thể làm là chuẩn bị những điều kiện để khi lịch sử mở ra những khả năng mới, người Việt không một lần nữa phải vội bám lấy một chân lý làm sẵn và trao tương lai của mình cho nó. 

Đó cũng là lý do câu hỏi về thể chế cuối cùng không thể tách khỏi câu hỏi về con người. Một trật tự thể chế tốt không phải là trật tự có thể bảo đảm rằng người lãnh đạo luôn sáng suốt. 

Quan trọng hơn là tương lai của cả cộng đồng không phải phụ thuộc vào sự sáng suốt của một vài cá nhân. 

Con người có thể sai. Người tài có thể sai. Số đông cũng có thể sai. 

Nhưng một xã hội còn giữ được nhiều nguồn tri thức, nhiều kênh phản biện và nhiều khả năng sửa sai thì ít nhất có cơ hội không sai quá lâu. 

Đồng quy nhi thù đồ 

Đến đây, một câu văn cổ có thể mang một ý nghĩa mới: 

Thiên hạ hà tư hà lự? Thiên hạ đồng quy nhi thù đồ, nhất trí nhi bách lự. 

Có thể hiểu gần nghĩa rằng: thiên hạ hà tất phải quá ưu tư? Đường đi có thể khác mà vẫn cùng hướng tới một nơi; trăm mối suy tư vẫn có thể gặp nhau ở một lẽ chung. 

Tinh thần ấy không có nghĩa mọi con đường đều đúng. 

Có những con đường dẫn đến nô dịch, bạo lực và hủy hoại phẩm giá con người. Những lựa chọn lịch sử phải được kiểm nghiệm bằng chứng cứ và phán xét qua hậu quả của chúng. “Thù đồ” — khác đường — không phải lời mời gọi chủ nghĩa tương đối, càng không phải cách xóa nhòa ranh giới đúng sai. 

*

LỜI CUỐI CỦA TÁC GIẢ:

Năm phần của khảo luận “Tân Đạo Việt: Đồng quy nhi thù đồ” tạm khép lại ở đây, sau nhiều tháng đón nhận những câu hỏi, phản biện, bình luận và suy ngẫm từ đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước. Trong mấy lời cuối này, tác giả không thể nhắc hết tên từng người. Chỉ xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả những ai đã đọc, góp ý, bổ sung và cùng tranh luận — kể cả những người không đồng tình với một số, hay nhiều, luận điểm của khảo luận. 

Chính những trao đổi ấy càng khiến tôi tin rằng việc suy nghĩ về và thúc đẩy một Tân Đạo Việt không nên dừng lại cùng khảo luận này. Trước sự hưởng ứng rộng rãi và mối quan tâm học thuật quý báu ấy, tôi mong sẽ tiếp tục theo đuổi chủ đề trong một khuôn khổ rộng hơn, với nhiều chứng cứ, đối thoại và nghiên cứu điển h hơn. Tôi cũng sẽ trở lại với bạn đọc khi Dự án Việt–Mỹ bước sang những chặng phát triển mới. 

Bởi vậy, những gì được trình bày ở đây chỉ nên được xem như một cuộc thăm dò — một bước thử đầu tiên trên hành trình tìm đường. 

Nhà vật lý thiên văn Trịnh Xuân Thuận từng chọn một hình ảnh rất đẹp làm nhan đề cho cuốn sách L’Infini dans la paume de la main — Cái vô hạn trong lòng bàn tay. Con người càng hiểu biết, càng nhận ra thế giới rộng lớn hơn những gì mình đã biết. 

Theo nghĩa ấy, ĐẠO không nhất thiết là một con đường đã được vạch sẵn, càng không phải một chân lý buộc tất cả mọi người phải cùng đi trên một lối. ĐẠO bắt đầu từ nhận thức rằng con người sống trong một trật tự tự nhiên và lịch sử lớn hơn chính mình — một trật tự mà ta có thể không ngừng khám phá, nhưng không bao giờ có thể tự nhận đã nắm giữ chân lý cuối cùng của nó. 

Nhưng nhận ra ĐẠO vẫn chưa đủ. 

Điều con người phải tự tìm lấy là ĐỨC: chúng ta sống với nhau như thế nào, tổ chức xã hội ra sao, sử dụng quyền lực, tri thức và công nghệ thế nào để những năng lực mới do chính mình tạo ra cuối cùng không quay lại thống trị con người. 

Câu hỏi ấy càng trở nên cấp thiết trong “thời đại AI”. 

Khi máy móc ngày càng có khả năng tính toán, học hỏi, sáng tạo và tham gia vào những quyết định từng chỉ thuộc về con người, vấn đề không còn đơn giản là AI sẽ trở nên mạnh đến đâu. Câu hỏi quan trọng hơn là: con người phải tổ chức xã hội như thế nào để vẫn giữ được vai trò chủ thể chịu trách nhiệm đối với thế giới mà chính mình đang tạo ra? 

Công nghệ có thể mở rộng năng lực của chúng ta. Nhưng công nghệ không thể trả lời thay con người rằng những năng lực ấy nên được dùng để làm gì và phục vụ ai. 

Có lẽ cũng chính từ đây Tân Đạo Việt phải tiếp tục cuộc tìm đường của mình. 

Không phải để tìm ra một con đường duy nhất mà Việt Nam bắt buộc phải đi, mà để góp phần chuẩn bị con người, thể chế và năng lực sao cho khi những con đường mới xuất hiện, người Việt vẫn giữ được tự do lựa chọn — lựa chọn những con đường có thể đem lại cho mình phẩm giá, thành đạt và hạnh phúc. 

Khảo luận dừng lại ở đây. 

Cuộc tìm đường thì chưa. 

Những con đường có thể khác nhau. 

Đồng quy nhi thù đồ. 

Nhưng đi những con đường khác nhau cũng không nhất thiết phải trở thành kẻ thù. 

Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh từng khác nhau sâu sắc về phương cách cứu nước. Lịch sử Việt Nam sau họ còn chứng kiến những bất đồng lớn hơn nhiều, có những bất đồng được giải quyết bằng chiến tranh và để lại vết thương qua nhiều thế hệ. 

Nhưng nếu lịch sử cuối cùng chỉ còn là cuộc tranh giành để chứng minh đường của mình đúng và đường của người khác sai, một dân tộc rất có thể thắng được quá khứ mà đánh mất tương lai. 

Cùng hướng về một chân trời chung vì vậy không có nghĩa tất cả phải đi tới cùng một mô hình chính trị, cùng một học thuyết hay cùng một quan niệm về đời sống tốt đẹp. 

Có thể còn một tầng sâu hơn để gặp nhau: phẩm giá con người; quyền của mỗi thế hệ được tham gia lựa chọn tương lai của mình; khả năng sống chung trong khác biệt; và trách nhiệm không trao số phận cộng đồng cho bất kỳ chân lý tuyệt đối nào. 

Nếu sau tất cả những lập luận của khảo luận này Tân Đạo Việt muốn giữ lại một ý tưởng, có lẽ đó là điều ấy. 

Lịch sử Việt Nam đã nhận nước từ rất nhiều nguồn. Có những dòng bắt đầu ngay trên mảnh đất này; có những dòng đến từ rất xa. Có dòng gặp nhau, có dòng tách nhánh, có dòng bị chặn và có dòng phải tự tìm một lối khác. 

Nhưng một dòng sông sống không cần biết trước từng khúc quanh của mình. 

Nó cần còn đủ nước để chảy, đủ rộng để nhận thêm những phụ lưu và đủ sức để không dừng lại trước những địa hình chưa từng gặp. 

Biển ở phía trước cũng không phải một điểm đến đã được vẽ sẵn trên bản đồ. 

Tân Đạo Việt vì vậy không phải tên của con đường Việt Nam bắt buộc phải đi. Nó chỉ là một lời mời gọi người Việt giữ lấy quyền tự tìm đường của mình — đủ trưởng thành để biết mình có thể sai, đủ khai mở để lắng nghe những tiếng nói khác mình, và đủ năng lực để không trao quyền lựa chọn tương lai cho người khác. 

NHỮNG CON ĐƯỜNG CÓ THỂ KHÁC NHAU. NHƯNG ĐỒNG QUY NHI THÙ ĐỒ! 

—– 

Phiên bản Anh ngữ của Kỳ 5 và Tổng kết chung: 

https://www.cauxroundtable.org/2026/09/30/part-v-from-building-capacity-to-shaping-the-future/

————— 

Tài liệu tham khảo cho PHẦN V và TỔNG KẾT KHẢO LUẬN  “TÂN ĐẠO VIỆT: ĐỒNG QUY NHI THÙ ĐỒ”

  1. Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa-văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998. Nguồn Việt Nam nền tảng cho cách nhìn một cộng đồng vừa có chiều sâu lịch sử riêng vừa nằm trong những không gian rộng hơn của khu vực và nhân loại; đặc biệt quan trọng cho chiếc cầu từ Trường tồn sang chủ thể kiến tạo.
  2. Trần Ngọc Vương, các công trình về “thực thể Việt”, lịch sử tư tưởng và con người Việt Nam. Tôi muốn giữ ông ở Part V vì câu hỏi không còn đơn thuần “Việt Nam tồn tại thế nào?” mà là thực thể lịch sử ấy sẽ trở thành cái gì trong một thời đại mới.
  3. Phan Châu Trinh, đặc biệt Đạo đức và luân lý Đông Tây và các trước tác về khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Đây là một tiền đề Việt Nam đặc biệt thích hợp cho TĐV: thay đổi quốc gia không chỉ bằng giành quyền lực mà bằng thay đổi năng lực của con người và xã hội.
  4. Nguyễn Mạnh Tường, Un Excommunié: Hanoi 1954–1991, procès d’un intellectuel. Một chứng ngôn quan trọng về trí thức, quyền nói sự thật và cái giá phải trả khi một hệ thống không đủ khả năng tiếp nhận phản biện. Nguồn này bổ trợ trực tiếp cho luận đề thể chế hóa năng lực tự sửa sai.
  5. Nguyễn Khắc Viện, các trước tác về Việt Nam, văn hóa và hiện đại hóa. Ông rất đáng có mặt ở đây như một tiếng nói từ miền Bắc, từng sống sâu trong cả hai không gian Việt–Pháp, Marxist nhưng không đóng kín trước nhu cầu tự xét lại; hữu ích cho chính tinh thần không phủ định sạch quá khứ để bắt đầu từ số không.
  6. Bùi Văn Nam Sơn, bài giảng và trao đổi về Jacques Lacan, đặc biệt phần giải thích Le Grand Autre, ham muốn và sinthome mà ta vừa sử dụng. Nguồn này chỉ đóng vai trò gợi mở triết học, không phải cơ sở cho một lý thuyết chính trị: chủ thể trưởng thành khi không còn đòi một thẩm quyền tuyệt đối cung cấp sẵn ý nghĩa cho mình.
  7. Hoàng Đức Nhã – Đinh Quang Anh Thái, Khát Vọng Chưa Thành. Đây là tiếng nói từ phía Việt Nam Cộng hòa/hải ngoại mà tôi muốn giữ trong danh sách để bibliography không tự tái tạo lịch sử một phía. Giá trị chính đối với Part V là kinh nghiệm về quốc gia, phụ thuộc cường quốc, thất bại, ký ức và những khát vọng chưa hoàn tất.
  8. Đinh Hoàng Thắng, công trình về hệ hình P&DOWN (“Bí Đao”). Đây phải là nguồn gốc được ghi nhận minh bạch cho Partnership – Democratization – Organizing – Wisdom – Networking. Trong TĐV, nó không được sử dụng như “công thức năm bước”, mà như một hệ quy chiếu về năng lực kiến tạo đã được hình thành từ trước khảo luận này.
  9. Karl R. Popper, The Open Society and Its Enemies, 1945. Quan trọng không phải để TĐV trở thành Popperian, mà cho nguyên tắc chống lại những học thuyết tự nhận đã nắm được quy luật cuối cùng của lịch sử và cho tinh thần thể chế phải cho phép nhận ra và sửa sai.
  10. Albert O. Hirschman, Exit, Voice, and Loyalty: Responses to Decline in Firms, Organizations, and States, Harvard University Press, 1970. Đặc biệt “đắt” cho §24: khi một tổ chức xuống cấp, ngoài exit còn có voice — khả năng lên tiếng từ bên trong để sửa đổi nó. Google Books
  11. Douglass C. North, Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, 1990. Tôi muốn đưa North vào thay vì thêm một tác giả thời thượng: thể chế nối quá khứ–hiện tại–tương lai, và lịch sử thể chế mang tính tích lũy chứ hiếm khi bắt đầu trên trang giấy trắng. Điều này rất gần với luận điểm của ta: cái mới không nhất thiết phải phá sạch cái cũ. Cambridge University Press
  12. Amartya Sen, Development as Freedom, Oxford University Press, 1999. Sen giúp Part V tránh đồng nhất phát triển với GDP hay sức mạnh quốc gia: phát triển cuối cùng phải mở rộng năng lực thực sự của con người để sống và lựa chọn. Đây là chiếc cầu đẹp giữa phát triển, tự do và “năng lực kiến tạo”.
  13. Václav Havel, The Power of the Powerless, 1978. Một nguồn Đông–Trung Âu rất hợp cho đoạn cuối về những xã hội bước ra khỏi một hệ thống ý thức hệ: chuyển đổi sâu xa không chỉ là thay người cầm quyền mà còn là khôi phục trách nhiệm của con người đối với sự thật và đời sống chung.
  14. Jacques Lacan, Écrits và các Séminaires, đặc biệt những phần liên quan đến désir, le Grand Autre và sinthome. Đây là nguồn gốc lý thuyết cho gợi ý mà ta tiếp nhận qua Bùi Văn Nam Sơn; nên có nguồn gốc bên cạnh nguồn diễn giải để tránh biến Lacan thành một ẩn dụ chính trị quá dễ dãi.
  15. Arnold J. Toynbee, A Study of History. Ta đã sử dụng Toynbee từ trước, nhưng ở Part V ông có một chức năng khác: văn minh không chỉ tồn tại vì chống chịu được thử thách mà còn tùy thuộc vào chất lượng của sự đáp ứng trước thử thách. Nó nối rất tự nhiên Trường tồn → Kiến tạo.
  16. Tô Văn Trường, “AI: Nỗi lo của thế giới giàu, cơ hội của Việt Nam?”, Bauxite Việt Nam, 2026. Một case study Việt Nam đương đại, không phải nguồn lý thuyết trung tâm. Điều ta thấy là nghịch lý: công nghệ có thể mở rộng năng lực nhưng cũng có thể tạo phụ thuộc mới; do đó năng lực sử dụng AI phải đi cùng khả năng làm chủ và phán đoán.
  17. Hannah Arendt, The Human Condition, University of Chicago Press, 1958. Tôi chủ ý  để tác giả đứng cuối bibliography. Arendt giúp ta đưa câu chuyện trở lại con người hành động trong một thế giới chung, thay vì kết thúc khảo luận bằng những trừu tượng như “dân tộc”, “thể chế” hay “công nghệ”. Tương lai cuối cùng vẫn được tạo nên bởi những con người có khả năng suy nghĩ, phán đoán và hành động cùng nhau.

Tân Đạo Việt

Tân Đạo Việt – Khai Mở: Một Việt Nam Chuyển Mình Trong Một Thế Giới Chuyển Đổi 
Việt Thắng

Việt Thắng

Thế Giới Đang Đối Mặt Với Một Cuộc Khủng Hoảng Lớn Về Tư Tưởng Chính Trị (Việt Hoàng)

Nguyên nhân chính của tình trạng khủng hoảng hiện nay là tư tưởng chính trị…

4 giờ

Mediapart – Một thí dụ điển hình về báo chí độc lập (Hoàng Quốc Dũng)

Tôi sống ở Pháp đã 36 năm. Trong suốt thời gian đó, tôi đã chứng…

8 giờ

Nghịch lý thế kỷ: Đánh đuổi tư bản để… xin được tư bản bóc lột? (Nhật Ký Yêu Nước)

Hơn nửa thế kỷ trước, hàng triệu sinh mạng đã ngã xuống trong những cuộc…

2 ngày

Emmanuel Macron và Tô Lâm (SBTN Phỏng Vấn Ông Nguyễn Gia Kiểng)

Phải nghĩ gì về bài diễn văn của tổng thống Pháp E. Macron? Đó chủ…

2 ngày

Chào Huy Đức: Anh Thấy Gì Khi Từ Nhà Tù Nhỏ Ra Nhà Tù Lớn?

Trại mới rộng bằng một đất nước. Không có tường bao, có biển, có núi,…

2 ngày

Tự Do: Tài Sản Của Tạo Hóa Và Cái Giá Của Kẻ Đem Bán Nó (Nhật Ngôn)

Tự do, trước hết là quyền hiển nhiên mà Tạo Hóa đã ban tặng cho…

2 ngày