Bên Hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê
(“Người đi tìm hình của nước”, Chế Lan Viên)
Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ
Đó là lúc lòng người chán nản khi những nỗ lực độc lập bị Thực dân Pháp dập tắt và khung cảnh Hồ Gươm, trong ý nghĩa “chuyện vua Lê”, trông thực là thảm hại. Nhưng khung cảnh ấy, trong ý nghĩa ấy, giữa những ngày này, còn thảm hại hơn bởi sự nhiễu loạn ở việc “thực dân” không hề rõ ràng là kẻ thù bên ngoài còn “chuyện vua Lê” thì bị hoàn toàn nhấn chìm bởi sự ồn ào quanh “Khải hoàn môn” mà, theo tôi, phải gọi là “Thủ dâm môn”. [1]
Không có gì quá đáng khi gọi “thủ dâm” bởi đó là sự hành lạc chính trị nảy sinh từ những ẩn ức bất lực. Người ta thủ dâm là để thả mình trong dục lạc còn những nhà cai trị nội-thực-dân này thì lại muốn lên mây với một tâm cảm rụt rè, tìm sướng trong kiểm duyệt, đòi sướng nhưng lại lấm la lấm lét nhìn về phương Bắc với ánh mắt thận trọng, e dè.
Nói đến khải hoàn môn thì phải nói đến Arc de Triomphe ở Paris, là một trong những điểm hút khách du lịch hàng đầu của nước Pháp. Được xây dựng theo lệnh của Napoleon Bonaparte vào năm 1806 sau chiến thắng vang dội tại Austerlitz vào cuối năm 1805 khi quân Pháp đánh tan tác Liên quân Áo-Nga dẫu bị áp đảo hoàn toàn về quân số, tuy nhiên, do những biến động lịch sử nên mất ba mươi năm sau mới có thể hoàn tất và, lúc này, khải hoàn môn không chỉ khắc tên để vinh danh những đoàn quân làm nên chiến thắng Austerlitz mà là những người lính đã bỏ mình cho nước Pháp, từ những cuộc chiến của Napoleon đến những cuộc chiến của chính quyền Cách Mạng với Phổ, với Áo, nghĩa là, trong ngôn ngữ chính thống của chúng ta, vòng nguyệt quế đã được quàng lên ngực của “cách mạng” , và cả của “ngụy”. [2]
Nhưng Đế quốc La Mã mới là nơi khai sinh nên khải hoàn môn mà, theo giới khảo cổ học, cần rạch ròi hai thứ loại. Đầu tiên là triumph arch, thực sự là “khải hoàn môn” với đoàn quân hát khúc ca chiến thắng trở về và, memorial hay honorary arch, được các bậc quân vương dựng nên chỉ để vinh danh chính mình hay, nghĩa là là tự sướng mà, mới nhất, là “Trump môn”.
Đó là Arch de Trump, hỗn danh mà báo chí Mỹ dành cho United States Triumphal Arch do Donald Trump, một kẻ đã trốn lính và đang thua một cuộc chiến vô nghĩa tại Iran, đưa ra vào năm 2025. Cao rao rằng “Khải hoàn môn” dưng trên hòn đảo giữa sông Potomac ở Thủ đô Washington là để “kỷ niệm 250 năm nền độc lập” nhưng thực chất, theo giới phân tích Mỹ và qua hỗn danh trên, Trump chỉ nhắm đến việc vinh danh chính mình qua việc gắn cái tên mình một cột mốc của lịch sử quốc gia, bằng bê tông, bằng đá. [3]
Kể ra thì cũng có chút xíu liên quan nào đó – tỷ như Trump International Hung Yen trên đất Hưng Yên, hiện được xem là nơi “tụ khí” của bộ máy cai trị – chúng ta cũng khó mà kết luận rằng “Hồ Gươm môn” ở Hà Nội được gợi hứng từ “Trump môn”. Nhưng chúng ta có thể quả quyết rằng nó, có được dựng lên, cũng chẳng có đoàn quân chiến thắng nào chính danh bước qua với khúc hát khải hoàn, bằng những chiến thắng rõ ràng, với những đối thủ rõ ràng.
Sẽ không có khúc hát “khải hoàn” nào thực sự ý nghĩa sau những cuộc chiến tương tàn. Sau hơn nửa thế kỷ kết thúc cuộc chiến với cảnh, nói theo cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn”, mà vẫn phung phí tài nguyên rất cần cho bệnh viện và trường học vào “khải hoàn môn” thì, hóa ra, những lời lẽ như “hòa giải” hay “anh em một nhà” không chỉ là một sáo ngữ rỗng tuếch mà, thậm chí, còn là trò mồi chài rẻ tiền, cho một thứ cạm bẫy rẻ tiền.
Quan trọng hơn, chiến thắng quân sự nào cũng chỉ thực sự ý nghĩa khi tạo đà để đất nước ngửng mặt lên với sự phát triển cao hơn trong ý nghĩa đồng đại, đạt đến vị thế mạnh mẽ hơn trong mối quan hệ tương liên với láng giềng, với cộng đồng quốc tế. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua mà đất nước lại kém xa những láng giềng ngày nào từng lạch đạnh sau lưng mình, vẫn ngửa tay ăn mày viện trợ, vẫn tiếp tục xem con người như là hàng hóa hay công cụ lao động để xuất khẩu, cái ý nghĩa “khải hoàn” hâm lại này càng thêm chua chát, mỉa mai.
Nhưng nếu bỏ qua cuộc nội chiến tương tàn thì, liệu, “Khải hoàn môn” kia có thể nào vinh danh những đoàn quân đã giữ vững biên cương khi tổ quốc bị xâm lược vào năm 1979? Nó có dám khắc tên những đia danh và những đoàn quân đã gánh chịu bao nhiêu là mất mát trong cuộc chiến kéo dài gần mười năm sau đó, từ mặt trận Vị Xuyên, từ thất bại đau đớn ở Lão Sơn đến thất bại vô lý ở Gạc Ma hay không?
Câu trả lời, theo chính sách “tự kiểm duyệt” như thể là những nhà tu chính trị trong cách ứng xử với phương Bắc bao năm qua, là KHÔNG, tuyệt đối KHÔNG. “Khải hoàn môn” này, do đó, càng giống “Trump môn” khi không dám vinh danh những người lính ngã xuống hay trở về, lành lặn hay đầy thương tích, mà chỉ phục vụ bọn đầu cơ chính trị với cái bụng đẫy đà, chỉ nhắm đến việc hâm nóng quá khứ để bảo chứng hiện tại và để bấu vào tương lai. Bất an với những di sản bằng bia miệng thì gồng mình bằng bia đá, cái ý đồ bám víu tương lai mà, diễn dịch từ ý tưởng của Victor Hugo, là hoàn toàn vô duyên và… phản động.
Trong Notre Dame de Paris, tác phẩm mang tên một công trình kiến trúc nổi tiếng chủ yếu bằng đá, Victor Hugo đã cho thấy nguồn cơn của trạng thái bất an này. Trong phần hai của chương 5, mang tên “Cái này sẽ giết cái kia”, nhà văn sống gần trọn thế kỷ 19 nhấn mạnh đến nỗi sợ mà phát minh của Johannes Gutenberg vào giữa thế kỷ 15 mang lại cho những lớp lang quyền lực thời ấy: kỹ thuật in sẽ giết chết nghệ thuật kiến trúc, sách vở sẽ giết chết những lâu đài, báo chí sẽ đánh gục sự độc tôn của giáo quyền, nền văn minh nào cũng bắt đầu bằng thần quyền và kết thúc bằng một nền dân chủ.
Nhưng “nghệ thuật kiến trúc”, ở đây, phải hiểu là thứ nghệ thuật vừa hoành tráng vừa tỉ mỉ của nền kiến trúc cổ điển hay tiền cổ điển bởi nó, như một khái niệm nghệ thuật chung, có bao giờ chịu chết? Vấn đề là, trong lịch sử nhân lọai, và trong cái nhìn “dĩ Âu vi trung” của Hugo, mãi cho đến thế kỷ 15 kiến trúc vẫn đảm nhiệm vai trò của “sách” khi những công trình bằng đá vẫn là phương cách chính yếu nhất mà con người có thể để lưu truyền tư tưởng.
Khi ý thức được sự hạn chế hay độ quá tải ở trí nhớ của mình, con người mới tìm cách lưu dấu trên mặt đất và, do đó, những đài tưởng niệm dựng lên đều trở thành dấu ấn của từng thời đại hay từng thế hệ. Đầu tiên chỉ đơn giản là những đống đá và nghệ thuật kiến trúc cũng bắt đầu như là chữ viết. Khi lật một tảng đá đứng lên thì con người đã cho nó vai trò của một thứ chữ cái, như là thứ chữ tượng hình của người Ai Cập. Khi xếp những tảng đá đó đứng kề bên hay nằm chồng lên nhau, họ đã tạo nên những “âm tiết” của đá. Và khi những khối đá ấy liên kết với nhau để tạo nên một hình thể trọn vẹn nào đó, như những mộ đá của người Celt chẳng hạn, con người đã tạo nên những từ trọn nghĩa bằng đá. Dần dà, họ tiến tới những cấu trúc phức tạp hơn với những từ ghép, những cụm từ, những câu hoàn hảo và cuối cùng là những pho sách bằng đá với những lâu đài, những đền đài tưởng niệm hay những thánh đường vĩ đại.
Nhưng rồi cái máy in của Gutenberg ra đời. Khi có thể dễ dàng phô bày ý tưởng hay lưu lại dấu vết của mình trên trang sách bằng giấy, con người đâu nhất thiết phải cực nhọc với những “cuốn sách” tráng lệ nhưng cực kỳ tốn kém bằng đá như là Notre Dame de Paris? Nếu, nói theo Hugo, “Nền văn minh nào cũng bắt đầu bằng thần quyền và kết thúc bằng một nền dân chủ”, thì nền dân chủ trí tuệ của “văn minh giấy” theo sự ra đời của cái máy in đã đánh dấu chấm hết cho “văn minh đá” với những đền đài tráng lệ.
Như thế, sẽ không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi ý đồ về “Khải hoàn môn” chỉ hình thành sau những quyết định mang tính tàn sát với sách, với báo chí. Khi những tác giả hay nhà xuất bản bị đấu tố, bị truy tố hay bị vô hiệu hóa thì có nghĩa là, nói theo Victor Hugo, “nền văn minh giấy” của dân chủ trí tuệ đã bị hạ bệ. Và khi những nhà cai trị vung vít tài nguyên vào cái “Khải hoàn môn” gây tranh cãi, họ đã thực sự khôi phục lại “văn minh đá”.
Việc phung phí tài nguyên cho “văn minh đá” hay “văn minh bê tông” như những “khải hoàn môn” vô duyên trên cái cù lao ở giữa sông Potomac hay bên Hồ Gươm, do đó, chỉ đều là những gắng gượng ngược chiều của những nhà cai trị lơ láo, bất an.
Có bất an về sự chính danh thì mới lơ láo trước viễn tượng sẽ bị đời sau quên lãng. Có sợ đời sau quên lãng thì mới gồng lên gia cố bằng đá, bằng bê tông và đây, thực chất, mới là động cơ chính của những công trình “kỷ niệm” vô duyên và phản động. Chúng vô duyên vì chẳng dựng lên chẳng cho “đoàn quân chiến thắng” nào. Chúng phản động khi hoàn toàn trái với xu thế của thời đại. Và chúng, như đã nói, chỉ là một trò thủ dâm của bọn làm chính trị bất lực và bần tiện.
Tệ hơn, “Khải hoàn môn” ở Hồ Gươm còn là trò thủ dâm kỳ quặc của một thể chế chính trị kỳ quái. Nó đe nẹt nhân dân về “thế lực thù địch” nhưng hèn, không dám nhận diện rõ ràng kẻ thù địch thực sự, kẻ vẫn đang đe dọa, đang đòi nuốt chửng hay ít ra là gặm sống tổ quốc cha ông để lại. Nó luôn luôn chơi trò tự sướng nhưng cũng luôn luôn hoang mang, sợ sệt. Với nhân dân thì nó vênh mặt như người chiến thắng nhưng, với kẻ thù – dù là kẻ thù mà cha ông đã hào hùng làm người chiến thắng trong lịch sử kéo dài hàng chục thế kỷ – thì lại gằm mặt xuống mà tự kiểm duyệt lấy mình.
Nếu đó chỉ là những ý nghĩa lịch sử thì, trên phương diện kiến trúc, Hồ Gươm vốn đã bị làm với cái “máy chém” bằng bê tông rồi, chẳng lẽ những nhà cai trị nội-thực-dân chuyên làm xấu tổ quốc này còn muốn cân bằng sự xấu xí trong một cảnh quan lịch sử của thủ đô với một cái cùm hay cái kẹp, cũng bằng bê tông? [4]
Chú thích:
Câu hỏi hiện nay không chỉ là tên ông Trump có được phép xuất hiện…
Giáo sư Trần Phương, đương nhiệm Chủ tịch Hội Khoa Học & Kinh Tế Việt…
Tuần qua nhiều nơi trên nước Mỹ đã tổ chức lễ tưởng niệm 25 năm…
Vì sao những năng lực từng giúp một dân tộc sống sót đôi khi lại…
Suốt mấy chục năm qua, chống ngập vẫn chỉ dừng lại ở những lời nói…
Cuộc bầu cử tuần qua ở bang Sachsen-Anhalt tạo ra một cuộc địa chấn ở…