
Theo Hiệp định Genève ngày 20/7/1954, lực lượng quân sự của mỗi bên tham gia cuộc chiến Đông Dương 1945-1955, sẽ rút khỏi lãnh thổ của phía bên kia.
Quốc gia Việt Nam, rồi trở thành Việt Nam Cộng Hòa. Các đơn vị quân đội Việt Nam cùng với quân đội Liên Hiệp Pháp, rút toàn bộ xuống dưới vĩ tuyến 17. Trong cùng thời gian, thực hiện kế hoạch vận chuyển gần 1.000.000 đồng bào của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa di tản vào nước Việt Nam Cộng Hòa định cư sinh sống.
Trong khi lãnh đạo Việt Minh là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thi hành Hiệp định Genève như thế này :
“Năm 1954, theo ủy viên Sherwood Lett, đại diện Canada trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến gồm Ấn Độ – Ba Lan – Canada, khi tập trung quân đội Việt Minh và các loại cán bộ dưới vĩ tuyến 17 chuyển về nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (trên vĩ tuyến 17), ông Hồ Chí Minh ra lệnh chỉ rút quân chánh qui lên phía bắc vĩ tuyến 17, còn lực lượng vũ trang và cán bộ chính trị khoảng 8.000 người được “bố trí ở lại” (trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa). Một số cán bộ và chiến sĩ lực lượng vũ trang dày dạn kinh nghiệm được chọn lọc để thâm nhập vào tổ chức quân sự và dân sự của địch (Việt Nam Cộng Hòa), phải nắm lực lượng vũ trang giáo phái để sẵn sàng cho chiến tranh sau đó. Tất cả vũ khí phải chôn giấu để chuẩn bị cho cuộc chiến kế tiếp. Trung ương Đảng đã cử nhiều cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường về miền Nam, chuẩn bị lãnh đạo phong trào hoặc hoạt động trong hàng ngũ đối phương”.
(trích trong Wikipedia)
***
Ngày 7/7/1954, ông Ngô Đình Diệm nhận chức Thủ tướng Việt Nam. Tháng 1/1955, Thủ tướng tuyên bố tẩy chay bầu cử mà Hiệp định Genève ngày 20/7/1954 qui định sau hai năm, với lý do :
“Người dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa không được tự do khi bỏ phiếu. Cùng lúc, lực lượng của họ còn giấu lại trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, sẽ uy hiếp cử trị bỏ phiếu cho họ. Như vậy, chẳng những cử tri của cộng sản Việt Nam không được tự do sử dụng lá phiếu theo ý họ, trong khi một phần cử tri nông thôn Việt Nam Cộng Hòa cũng không được tự do bỏ phiếu vì bị cộng sản Việt Nam nằm vùng uy hiếp. Nói chung là không công bằng”.
***
Ngày 20/12/1960, ông Hồ Chí Minh tổ chức Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam tại căn cứ Dương Minh Châu, trong cánh rừng phía bắc của tỉnh Tây Ninh sát biên giới với Cam Bốt. Nhóm lãnh đạo gồm : Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, và Huỳnh Tấn Phát. Năm 1961, có thêm Nguyễn Văn Linh, Ung Ngọc Ky, Lê Thanh, và Nguyễn Hữu Thọ.
Nhiệm vụ của tổ chức là đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ-Diệm. Bên cạnh Mặt Trận là Trung Ương Cục Miền Nam -còn gọi là Cục R – đại diện cho Đảng cộng sản trá hình dưới tên gọi đảng Lao Động Việt Nam, hoạt động bí mật từ đó đến năm 1969 mới công khai.
Nửa đêm 28/1/1960, quân cộng sản đột kích vào doanh trại Trung Đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 Bộ binh tại Trãng Sụp, 6 cây số phía bắc tỉnh lỵ Tây Ninh. Lúc ấy, tôi là Trung úy, Trưởng ban Hành quân/Phòng 3/Sư đoàn 21 Bộ binh, đồn trú tại Bến Kéo tỉnh Tây Ninh. Trời sáng hẳn thì chúng rút về biên giới Việt Nam – Cam Bốt. Cuộc hành quân truy kích đến sát biên giới, Sư đoàn 21 chúng tôi thu hồi lại một xe vũ khí, trong số 2 xe bị cộng sản chiếm, đồng thời thu được một số tài liệu. Trong số đó có tài liệu về chiến dịch Đồng Khởi, mà cuộc đột kích này là trận mở màn của chiến dịch Đồng Khởi, chuyển từ hoạt động kinh tài sang chiến tranh quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
Kết quả của chiến dịch này gây thiệt hại không đáng kể, nhưng nó đánh dấu lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (cộng sản), bắt đầu chiến tranh trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa để nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam theo lệnh của cộng sản quốc tế, sau khi nhuộm đỏ một nửa lãnh thổ phía bắc trên dải đất có dạng hình cong chữ S. Từ đó, chiến tranh xảy ra khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, với những trận đánh gia tăng dần lên, từ cấp Trung đội, Đại đội, Tiểu đoàn, Trung đoàn, Sư đoàn từ giữa những năm 1960. Vì vậy mà cuối năm 1965, quân đồng minh Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam với mục đích tiếp tay ngăn chặn quân cộng sản. Lần lượt được tăng cường thêm bởi quân đội Thái Lan, Đại Hàn, Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan đến Việt Nam (Lúc đó tôi là Trung úy, Trưởng ban Hành quân Phòng 3 Sư đoàn 21 Bộ binh, và tôi có tường thuật trong quyển trong hồi ký Đôi Dòng Ghi Nhớ của tôi).


