
Tháng 2/1965, Trung tướng Nguyễn Khánh đang là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân, kiêm Thủ tướng, và là vị lãnh đạo Bộ Tổng Tư lệnh (trước đó là Bộ Tổng Tham mưu). Trung tướng Khánh là người rất xông xáo, nay đơn vị này mai đơn vị khác. Lúc ấy tôi là Thiếu tá, trong Văn phòng Tổng Tư lệnh, phụ trách các loại văn thư quân sự trình lên vị Tổng Tư lệnh. Mỗi lần đi bằng phi cơ, tôi được lệnh mang theo tất cả hồ sơ công văn của các phòng và các cơ quan trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh trình lên, để ông làm việc ngay trên phi cơ. Chiếc phi cơ C47 mà Không quân dành cho ông, có trang bị bàn viết, giường nằm, tủ lạnh nhỏ, và vài tiện nghi lặt vặt khác.
Thường khi như vậy, ngoài Trung tướng Khánh ra, còn có sĩ quan tùy viên, cận vệ, vài nhân viên an ninh, vài nhân viên truyền tin, và tôi. Đến thành phố nào đó là tôi tìm phi cơ khác của Không quân Việt Nam, Không quân Hoa Kỳ, hoặc Hàng không dân sự, để mang công văn trở về Bộ Tổng Tư lệnh hoàn lại các Phòng Sở. Việc bảo vệ số công văn này luôn được quan tâm đúng mức. Đây là nét đặc biệt của Trung tướng Nguyễn Khánh mà vị Tổng Tư lệnh trước ông là Đại tướng Trần Thiện Khiêm, và những vị sau ông là Trung tướng Trần Văn Minh, Trung tướng Nguyễn Hữu Có, và Đại tướng Cao Văn Viên, không có. Tôi không dám đoan chắc đó là điều tốt, nhưng rõ ràng là ông không để thời gian trống trong vai trò lãnh đạo của ông.
Ngày 16/02/1965, Trung tướng Khánh ra phi trường chậm hơn nửa tiếng đồng hồ, vì ông bận sắp xếp thành phần chánh phủ mới thành lập do ông Phan Huy Quát làm Thủ tướng. Điều này do chính Trung tướng Khánh nói với anh em chúng tôi trong khi phi cơ đang trên không trình Sài Gòn – Qui Nhơn.
Khi đến Qui Nhơn, tôi liên lạc với các cơ quan nhưng không có phi cơ về Sài Gòn nên tôi phải ở lại. Tình hình quân sự tại tỉnh Bình Định ngày càng xấu đi, đến nỗi đêm hôm đó mọi người phải ngủ tại hầm chiến đấu. Đó là khuyến cáo của Trung tá Lê Trung Tường, Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định. Tôi sang Bộ Chỉ huy 2 Tiếp vận ngủ nhờ hầm chiến đấu của Bộ Chỉ huy này. Lúc ấy, Thiếu tá Trương Bảy là Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy 2 Tiếp vận. (Về sau, Trung tá Tường là Chuẩn tướng quân đội, Thiếu tá Bảy là Chuẩn tướng Cảnh sát).
Sáng hôm sau, cả đoàn dùng trực thăng bay vào Nha Trang. Sau khi thăm Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt mà Chuẩn tướng Đoàn Văn Quảng đang là Tư lệnh, Trung tướng Khánh bay ngược ra Vũng Rô, nơi mà hôm trước Hải quân và Không quân Việt Nam Cộng Hòa đã bắn chìm chiếc tàu của quân cộng sản chở vũ khí từ ngoài Bắc xâm nhập vào. Nói cho đúng, chiếc tàu này bị Hạm đội 7 Hoa Kỳ phát giác và liên tục theo dõi, đến khi vào hải phận Việt Nam Cộng Hòa thì họ báo cho Bộ Tổng Tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa biết. Kết quả là tàu địch bị đánh chìm.
Khi trực thăng lượn nhiều vòng trên không phận Vũng Rô, tôi nhìn thấy dòng chảy của nhiên liệu từ chiếc tàu chìm phía dưới loang dài trên mặt biển, trong khi lực lượng Hải quân và Người nhái đang trục vớt vũ khí lên tàu. Cùng lúc, lực lượng của Quân đoàn II đang hành quân lục soát trong khu vực núi Đá Bia, lân cận Vũng Rô. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có, Tư lệnh Quân đoàn II tin rằng, trong khu vực này có thể có kho tồn trữ vũ khí của quân cộng sản. Chỉ trong ngày 17/2/1965, cả hai lực lượng dưới nước và trên bờ thu được hơn 1.000 khẩu súng đủ loại, tất cả hoàn toàn mới nguyên được bao bọc trong giấy dầu cẩn thận. Rõ ràng và chính xác là Đảng cộng sản Việt Nam từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, lén lút chuyển khối lượng vũ khí rất lớn vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, chuẩn bị cho những trận đánh quan trọng trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.
Khi trở về Bộ Tổng Tư lệnh, tôi có đọc “Phiếu trình” của Phòng 2/Bộ Tổng Tư lệnh. Theo nhận định của Phòng nhì/Bộ Tổng Tư lệnh thì hơn một năm qua, quân cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tìm mọi cách gia tăng vận chuyển đơn vị chính qui và vũ khí đạn dược vào lãnh thổ chúng ta bằng đường bộ dọc dãy Trường Sơn, và đường thủy dọc duyên hải từ bắc vào. Những lần trước, số vũ khí đạn dược tịch thu được ở cửa sông Bồ Đề tỉnh An Xuyên (Cà Mau), bờ biển Ba Động tỉnh Vĩnh Bình (Trà Vinh). Vụ Vũng Rô này là lần thứ 3 tịch thu được số lượng vũ khí quan trọng.
Khi chánh thức cầm quyền sau cuộc đảo chánh thành công, với một Thông điệp quan trọng, Trung tướng Khánh chánh thức lên tiếng kêu gọi các quốc gia đồng minh giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản, điều mà Tổng thống Ngô Đình Diệm đã không làm theo ý muốn của Hoa Kỳ. Nhìn theo góc độ quân sự, tôi nghĩ, cho dù Hoa Kỳ có cần thực hiện “chiến lược Domino” bằng cách thiết lập các căn cứ quân sự trên đất nước chúng ta hay không, thì sự hiện diện của quân bộ chiến Hoa Kỳ, trong một chừng mực nào đó thật sự là cần thiết.
Điều này cho thấy quân cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam, trái ngược với tuyên bố của họ khi thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là chống Mỹ – Diệm. Vì họ bắt đầu chiến tranh từ đầu năm 1960, và chiến tranh ngày càng ác liệt hơn, nên cuối năm 1965 quân đội ngoại quốc mới đến Việt Nam cùng chống quân cộng sản, đồng thời với oanh tạc cơ chiến lược thả bom phá hủy các kho dự trữ vũ khí đạn dược trên lãnh thổ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, với mục đích ngăn chặn tiếp tế cho lực lượng của họ trên đường Trường Sơn, và bên trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, bởi đây là cuộc “chiến tranh không cần thắng” đối với Hoa Kỳ. Đó là câu nói của Thống tướng Westmoreland – Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa – nói với Trung tướng Cao Văn Viên – Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – và Trung tướng Viên thuật lại trong buổi họp tham mưu hằng tuần ngay trong văn phòng của Trung tướng. Lúc ấy là tháng 3/1966, tôi là Trung tá, Chánh Văn phòng Tổng Tham mưu trưởng, trách nhiệm chuẩn bị họp tham mưu hằng tuần, nên tôi nghe câu đó…



