Hơn nửa thế kỷ sau ngày chiến tranh kết thúc, Việt Nam đã đi một chặng đường dài trong khôi phục đất nước, hội nhập quốc tế và cải thiện đời sống nhân dân. Nhưng thời gian tự nó không chữa lành mọi vết thương. Bom mìn còn sót lại, di chứng chất độc hóa học, những phần mộ chưa tìm thấy, những gia đình từng bị chia cắt và số phận của những người mang thương tật suốt đời vẫn nhắc rằng hậu quả chiến tranh không chấm dứt vào ngày tiếng súng ngừng vang.
Trong số những con người ấy có các thương phế binh thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa. Hầu hết nay đã ở tuổi rất cao; nhiều người bị khuyết tật nặng, mất sức lao động, bệnh tật kéo dài và sống trong hoàn cảnh khó khăn. Số người còn lại không nhiều và tiếp tục giảm theo thời gian. Vì vậy, câu hỏi cần đặt ra là Nhà nước hôm nay sẽ ứng xử ra sao trước những công dân già yếu đang mang trên thân thể hậu quả của một cuộc chiến đã lùi xa hơn năm mươi năm.
Một chính sách trợ giúp nhân đạo đối với họ không đòi hỏi phải viết lại lịch sử. Điều cần thiết là nên có một cơ chế an sinh phù hợp, dựa theo tuổi tác, thương tật, bệnh tật và hoàn cảnh sống hiện tại. Nếu được thiết kế thận trọng, minh bạch và đúng pháp luật, đó sẽ là một bước đi vừa nhân đạo, vừa thiết thực, vừa có ý nghĩa biểu tượng sâu sắc đối với tiến trình hòa giải, hòa hợp.
Chiến tranh tạo ra những ranh giới chính trị, nhưng thương tật và tuổi già không còn mang màu sắc của chiến tuyến. Một người mất chân, mất tay, mù lòa hoặc mang di chứng chiến tranh suốt đời, hiện vẫn phải đối diện với những nhu cầu rất cụ thể: thuốc men, bảo hiểm y tế, dụng cụ trợ giúp, phục hồi chức năng, chỗ ở và một mức sống tối thiểu. Trước những nhu cầu ấy, cách tiếp cận hợp lý nhất không phải là tiếp tục truy xét họ, mà là xác định xã hội hôm nay có thể làm gì để không một công dân già yếu nào bị bỏ lại trong cảnh khốn khó.
Đây không phải là sự lẫn lộn giữa lịch sử và nhân đạo. Lịch sử cần được nghiên cứu trung thực, với đầy đủ bối cảnh, nguyên nhân và trách nhiệm của các bên. Nhưng chính vì không phủ nhận lịch sử nên chúng ta càng phải nhận thấy một sự thật khác: nhiều cá nhân bị cuốn vào chiến tranh trong những hoàn cảnh họ không thể tự lựa chọn hoàn toàn. Sau hơn nửa thế kỷ, việc trợ giúp những người còn sống không làm thay đổi kết luận về quá khứ; nó chỉ cho thấy năng lực đạo lý và sự tự tin của Nhà nước trong hiện tại.
Bên cạnh việc chúng ta đã dành những nguồn lực đáng kể để chăm sóc người có công với cách mạng, vẫn tồn tại một khoảng trống nhân đạo: đó là một số thương phế binh VNCH, dù là công dân Việt Nam, vẫn chưa tiếp cận được đầy đủ các chính sách an sinh phù hợp với tình trạng thương tật và tuổi già; trong nhiều năm, phần lớn sự trợ giúp dành cho họ đến từ gia đình, tôn giáo, hội đoàn hoặc các hoạt động thiện nguyện.
Thiện nguyện tư nhân rất đáng quý, nhưng không thể thay thế trách nhiệm bảo đảm an sinh của Nhà nước. Sự hỗ trợ tùy thuộc vào lòng hảo tâm thường thiếu ổn định, không đồng đều giữa các địa phương và khó đáp ứng các nhu cầu y tế dài hạn. Khi một vấn đề đã tồn tại qua nhiều thập niên và liên quan đến một nhóm công dân đặc biệt dễ bị tổn thương, việc Nhà nước chủ động khảo sát, xác định nhu cầu và thiết lập một cơ chế trợ giúp tối thiểu là điều nên được đặt ra nghiêm túc.
Thời gian dành cho quyết định này không còn nhiều. Nếu tiếp tục trì hoãn, vấn đề sẽ dần khép lại không phải vì đã được giải quyết thỏa đáng, mà vì những người liên quan lần lượt qua đời. Đó có thể là một sự khép lại về mặt sinh học, nhưng không phải là sự khép lại về đạo lý. Một chính sách đến quá muộn sẽ không còn cơ hội chạm tới những người mà nó đáng lẽ phải nâng đỡ.
Đại đoàn kết toàn dân tộc từ lâu đã được xác định là một đường lối chiến lược. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã nêu rõ yêu cầu xóa bỏ mặc cảm, định kiến và phân biệt đối xử do quá khứ hoặc thành phần giai cấp để lại; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm và tin cậy lẫn nhau; đồng thời “giải quyết có tình, có lý và trên cơ sở đạo lý Việt Nam các vấn đề nhân đạo do lịch sử để lại”. Kết luận số 12-KL/TW năm 2021 tiếp tục nhấn mạnh việc củng cố khối đại đoàn kết và phát huy mọi nguồn lực của người Việt Nam ở khắp nơi.
Những định hướng ấy không nên chỉ được hiểu trong phạm vi thu hút kiều hối, đầu tư hay tri thức của kiều bào. Hòa hợp dân tộc không thể chỉ là lời mời gọi những người có khả năng đóng góp nguồn lực; nó còn phải được thể hiện trong cách đất nước đối xử với những người yếu thế nhất, kể cả những người từng thuộc phía bên kia của cuộc chiến. Một chính sách chỉ hướng đến người thành đạt sẽ tạo ra sự hội nhập về lợi ích; một chính sách biết nâng đỡ cả người đau yếu mới có thể tạo ra sự hòa hợp về lòng người.
Trong hơn hai mươi năm thực hiện Nghị quyết 36, nhiều rào cản đối với người Việt Nam ở nước ngoài dần được tháo gỡ; các chính sách về quốc tịch, cư trú, đầu tư, nhà ở và đi lại từng bước cởi mở hơn. Thực tiễn đó chứng minh rằng việc giảm bớt mặc cảm quá khứ không làm suy yếu Nhà nước, trái lại có thể mở rộng niềm tin và huy động thêm nguồn lực cho phát triển. Bài học ấy hoàn toàn có thể được vận dụng vào một lĩnh vực còn dè dặt hơn: xử lý những vấn đề nhân đạo gắn với các cá nhân từng phục vụ trong quân lực VNCH.
Đại đoàn kết sẽ khó trở thành sức mạnh thực chất nếu một số phận lịch sử vẫn bị đặt ra ngoài tầm quan tâm chỉ vì căn cước của họ trong quá khứ. Sau năm mươi năm, một quốc gia đủ vững mạnh có thể phân biệt rõ giữa việc giữ nguyên cách đánh giá lịch sử với việc bảo vệ phẩm giá của mọi công dân. Sự phân biệt ấy không làm mờ ranh giới chính trị; nó làm sáng rõ ranh giới giữa trách nhiệm lịch sử và lòng nhân ái.
Hơn nữa, hòa giải không chỉ là yêu cầu đối với người Việt ở nước ngoài. Phần khó khăn nhất của hòa giải nằm ngay trong nước, nơi ký ức chiến tranh vẫn hiện diện trong gia đình, cộng đồng và cách gọi tên nhau. Một biện pháp trợ giúp nhân đạo sẽ mang thông điệp rằng, Nhà nước không để quá khứ trở thành lý do cho sự loại trừ vô thời hạn. Giá trị chính trị lớn nhất của chính sách này chính là khả năng tạo dựng niềm tin: niềm tin rằng kêu gọi “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” được chuyển hóa thành hành động cụ thể.
Trở ngại thường được nêu ra là hệ thống pháp luật hiện hành không xếp thương phế binh VNCH vào diện người có công với cách mạng. Nhận định đó đúng, nhưng không đồng nghĩa với việc Nhà nước không có cơ sở pháp lý để trợ giúp họ.
Hiến pháp 2013 thiết lập hai trụ cột chính sách khác nhau. Điều 67 quy định chính sách ưu đãi đối với người có công với nước. Trong khi đó, Điều 34 xác nhận quyền được bảo đảm an sinh xã hội và Điều 59 quy định trách nhiệm phát triển hệ thống an sinh, trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người hoàn cảnh khó khăn. Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 cùng các văn bản hướng dẫn xác định đối tượng của chế độ người có công; còn Luật Người cao tuổi, Luật Người khuyết tật, pháp luật về bảo hiểm y tế và các quy định về trợ giúp xã hội tạo ra khuôn khổ dành cho những người yếu thế.
Hai hệ thống này có căn cứ và mục tiêu khác nhau. Chính sách người có công thể hiện sự ghi nhận và đãi ngộ của Nhà nước đối với những người được pháp luật xác định có công với cách mạng. Chính sách an sinh nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của công dân dựa trên hoàn cảnh hiện tại. Vì vậy, trợ giúp nhân đạo cho thương phế binh VNCH không nhất thiết, và cũng không thể, được thiết kế như liên quan đến khái niệm người có công.
Cách tiếp cận phù hợp hơn là xây dựng một chương trình trợ giúp có thời hạn hoặc một cơ chế bổ sung trong hệ thống an sinh, với tiêu chí chính là tuổi cao, mức độ khuyết tật, tình trạng sức khỏe, thu nhập, điều kiện nhà ở và khả năng tự chăm sóc. Yếu tố từng là thương phế binh VNCH chỉ giúp xác định nguồn gốc của thương tật và phạm vi khảo sát; quyền lợi cụ thể phải dựa trên nhu cầu xã hội hiện tại. Nhờ đó, chính sách vừa nhận diện đúng nhóm người chịu hậu quả chiến tranh, vừa tránh biến trợ giúp nhân đạo thành sự khơi lại lý lịch trong quá khứ.
Một cơ chế như vậy có thể bao gồm một số nội dung thiết thực: rà soát và cấp bảo hiểm y tế cho những người chưa được bao phủ; khám sức khỏe định kỳ; hỗ trợ dụng cụ chỉnh hình và phương tiện trợ giúp; phục hồi chức năng; trợ cấp sinh hoạt đối với trường hợp đặc biệt khó khăn; hỗ trợ người chăm sóc đối với người khuyết tật nặng; và trợ giúp mai táng khi qua đời. Đối với gia đình, chính sách không cần tạo ra quyền lợi kế thừa kéo dài, nhưng có thể xem xét hỗ trợ người trực tiếp chăm sóc hoặc hộ gia đình đang gánh chi phí y tế đặc biệt lớn.
Nguồn lực thực hiện cũng không nhất thiết hoàn toàn dựa vào ngân sách trung ương. Nhà nước có thể thiết kế một chương trình phối hợp giữa ngân sách bảo trợ xã hội, chính quyền địa phương, các quỹ bảo trợ, tổ chức xã hội, tôn giáo và đóng góp tự nguyện của người Việt Nam trong và ngoài nước. Tuy nhiên, sự tham gia của xã hội chỉ nên bổ sung chứ không thay thế vai trò bảo đảm, điều phối và giám sát của Nhà nước. Trách nhiệm công phải là phần lõi để quyền tiếp cận không phụ thuộc vào quan hệ cá nhân hay sự chú ý nhất thời của dư luận.
Việc sửa đổi hoặc bổ sung chính sách cần tuân thủ đầy đủ quy trình đánh giá tác động. Nhưng pháp quyền không nên được dùng như một lý do để trì hoãn vô thời hạn. Luật pháp là khuôn khổ để chuyển một yêu cầu nhân đạo thành chính sách công minh bạch và bình đẳng. Khi đã xác định có khoảng trống bảo vệ đối với một nhóm công dân, nhiệm vụ của hoạch định chính sách là tìm công cụ hợp pháp để lấp khoảng trống ấy.
Những vấn đề liên quan đến ký ức chiến tranh luôn nhạy cảm. Vì vậy, thay vì ban hành ngay một chế độ trên phạm vi toàn quốc khi chưa có đủ dữ liệu, Nhà nước có thể lựa chọn một lộ trình từng bước, có kiểm chứng và có sự tham gia của các bên liên quan.
Trước hết, cần tiến hành một cuộc khảo sát độc lập, có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý an sinh, chính quyền địa phương, Hội Chữ thập đỏ, các cơ sở tôn giáo và tổ chức xã hội đã nhiều năm trợ giúp thương phế binh VNCH. Khảo sát phải trả lời được các câu hỏi cơ bản: còn bao nhiêu người; họ cư trú ở đâu; mức độ thương tật và khả năng lao động thế nào; bao nhiêu người chưa có bảo hiểm y tế; mức thu nhập, điều kiện nhà ở và nhu cầu chăm sóc ra sao. Dữ liệu phải được xác minh nhưng thủ tục không nên quá nặng nề, bởi nhiều hồ sơ quân ngũ hoặc y tế cũ có thể đã thất lạc.
Tiếp đó, có thể thí điểm tại một số địa phương có số lượng đối tượng tương đối lớn. Chương trình thí điểm nên tập trung vào ba nhu cầu cấp thiết nhất: bảo hiểm và chăm sóc y tế; phương tiện trợ giúp, phục hồi chức năng; trợ cấp đối với trường hợp nghèo hoặc không còn người chăm sóc. Sau một hoặc hai năm, kết quả cần được đánh giá công khai về số người thụ hưởng, chi phí, tác động xã hội, những vướng mắc pháp lý và mức độ hài lòng của người dân.
Tiêu chí thụ hưởng phải đơn giản, thống nhất và không mang tính ban ơn. Người được trợ giúp là công dân tiếp cận một chính sách xã hội, không phải người xin sự khoan dung. Cách dùng từ trong văn bản và trong quá trình thực hiện cần tôn trọng phẩm giá cá nhân, tránh gợi lại tâm thế thắng–thua. Chính ngôn ngữ hành chính cũng là một thước đo của hòa hợp dân tộc.
Quá trình xây dựng chính sách cần tham vấn đại diện người có công với cách mạng và gia đình họ, các thương phế binh VNCH còn sống, chuyên gia pháp luật, chuyên gia an sinh, nhà sử học, tổ chức xã hội và tôn giáo. Sự tham gia rộng rãi giúp giải tỏa lo ngại rằng chính sách nhân đạo sẽ làm giảm giá trị của chế độ người có công. Trên thực tế, hai chính sách bảo vệ hai giá trị khác nhau: một bên là sự ghi nhận công lao theo pháp luật; bên kia là bảo vệ phẩm giá và mức sống tối thiểu của con người. Thực hiện tốt chính sách thứ hai không hề làm suy yếu chính sách thứ nhất.
Minh bạch ngân sách và giám sát thực hiện cũng đặc biệt quan trọng. Do số người còn sống không nhiều và phần lớn đã cao tuổi, quy mô tài chính của chương trình có thể nằm trong khả năng cân đối. Nhưng dù ngân sách lớn hay nhỏ, danh mục hỗ trợ, tiêu chí xét duyệt và cơ chế khiếu nại phải rõ ràng. Điều cần tránh là một chính sách mang ý nghĩa hòa giải lại tạo thêm bất bình vì thủ tục tùy tiện hoặc thực hiện không đồng đều.
Kinh nghiệm nhiều quốc gia không có một mô hình hòa giải duy nhất. Đức đặt trọng tâm vào trách nhiệm pháp lý và bồi thường; Nam Phi kết hợp công khai sự thật với hòa giải; Hoa Kỳ sau Nội chiến trải qua quá trình dài và nhiều mâu thuẫn để tái lập cộng đồng chính trị. Việt Nam không cần sao chép bất kỳ mô hình nào. Bài học chung đáng tham khảo là hòa giải chỉ bền vững khi được thể chế hóa bằng luật pháp, chính sách và những hành động có thể kiểm chứng, chứ không dừng ở tuyên bố.
Có thể có ý kiến cho rằng, đất nước còn nhiều khó khăn, không nên thiết lập thêm một chương trình riêng. Đây là băn khoăn cần được tôn trọng. Bởi vậy, chính sách đề xuất phải dựa trên khảo sát nhu cầu, không tạo đặc quyền và không làm giảm nguồn lực dành cho người có công hay các nhóm bảo trợ xã hội khác. Nhưng công bằng không có nghĩa là đối xử giống nhau với mọi hoàn cảnh; công bằng đòi hỏi nhận diện đúng những tổn thương đặc thù và dành sự trợ giúp tương xứng.
Cũng có ý kiến lo ngại một bước đi như vậy có thể bị diễn giải thành sự thay đổi quan điểm lịch sử. Nỗi lo ấy chỉ xuất hiện khi chúng ta tiếp tục đồng nhất nhân đạo với công nhận chính trị. Một Nhà nước vững mạnh hoàn toàn có thể nói rõ: cách đánh giá lịch sử không thay đổi, chế độ người có công không thay đổi, nhưng mọi công dân già yếu và khuyết tật đều xứng đáng được bảo vệ. Chính sự rạch ròi ấy sẽ làm cho quyết định trở nên thuyết phục.
Điều quan trọng hơn cả là lợi ích quốc gia lâu dài. Hòa hợp dân tộc tạo ra niềm tin xã hội; niềm tin xã hội tạo ra khả năng hợp tác; và khả năng hợp tác là nguồn lực của phát triển. Đối với hàng triệu người Việt ở nước ngoài có gia đình gắn với miền Nam trước năm 1975, cách Nhà nước ứng xử với những thương phế binh còn lại sẽ là một tín hiệu mạnh hơn nhiều diễn văn. Nó cho thấy đất nước có thực sự sẵn sàng vượt qua tâm thế phân cách để xây dựng một cộng đồng tương lai hay chưa.
Một chính sách nhân đạo cũng có giá trị giáo dục đối với thế hệ trẻ. Nó giúp người trẻ hiểu rằng yêu nước không đồng nghĩa với kéo dài hận thù; tôn trọng những người đã hy sinh cho phía mình không buộc phải thờ ơ với nỗi đau của người phía khác; và sức mạnh của một quốc gia không chỉ thể hiện ở khả năng chiến thắng, mà còn ở khả năng chữa lành sau chiến thắng.
Trong truyền thống Việt Nam, “nghĩa tử là nghĩa tận”, “đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”; Nguyễn Trãi từng nói đến “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”. Những nguyên tắc đạo lý ấy chỉ thực sự sống động khi được chuyển thành cách ứng xử với những trường hợp cụ thể. Những thương phế binh VNCH còn sống nay đều đã bước vào đoạn cuối của cuộc đời. Họ không còn là một lực lượng chính trị, càng không thể là một thách thức đối với chế độ. Họ chỉ còn là những con người già yếu đang mang thương tích của lịch sử.
Vì vậy, đã đến lúc các cơ quan có thẩm quyền cần chủ động nghiên cứu và thí điểm một cơ chế trợ giúp nhân đạo dành cho họ và những gia đình đang trực tiếp chăm sóc họ. Cơ chế ấy cần nằm trong hệ thống an sinh xã hội, dựa trên nhu cầu thực tế, được thực hiện minh bạch và có đánh giá tác động đầy đủ.
Hơn năm mươi năm sau chiến tranh, hòa giải không còn có thể chỉ được đo bằng số người trở về thăm quê hương, lượng kiều hối hay số dự án đầu tư. Thước đo khó hơn, nhưng chân thực hơn, là cách chúng ta đối xử với những người không còn gì để đóng góp ngoài chính số phận đau đớn của họ. Chăm lo cho những con người ấy không phải là nhượng bộ quá khứ. Đó là cách một quốc gia tự tin khẳng định rằng tương lai chung lớn hơn mọi chia rẽ đã qua.
Nếu được thực hiện khi những người liên quan vẫn còn sống, một chính sách như vậy có thể chỉ là một khoản chi khiêm tốn trong ngân sách quốc gia. Nhưng trong lịch sử hòa giải và hòa hợp dân tộc, đó sẽ là một bước tiến lớn về chủ nghĩa nhân đạo.
Nhà báo Xuân Phong, từ Hà Nội
Tô Lâm nhìn Tập Hợp như là mối nguy lớn vì Tập Hợp có một…
Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận tam quyền phân lập. Nay, khi hai ghế…
Nhìn sơ qua cứ tưởng thực dân Pháp đàn áp cướp đất phá nhà dân…
Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) của Liên Hợp Quốc cảnh báo số người…
“Một ngày tỉnh dậy, mình phát hiện ra mình sắp trắng tay, không phải do…
Thủ tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết Định số 167/2007,…