Một “kỷ nguyên mới”, nếu thực sự mới, có lẽ không nên chỉ khác thời đại trước ở tốc độ xây dựng, quy mô công trình hay mức độ tập trung của quyền lực. Nó còn phải khác ở cách quyền lực đối thoại với xã hội…
Bình Nguyên
Có những bức tượng người ta đi qua mỗi ngày rồi không còn nhìn thấy nữa.
Không phải vì chúng không đáng nhìn, mà bởi chúng ở đó quá lâu. Lâu đến mức trở thành một phần của cảnh vật, như hàng cây, mái phố, mặt hồ. Chỉ đến khi có người nói rằng ngày mai nó sẽ được chuyển đi, người ta mới giật mình nhận ra: hóa ra trong cái vật thể tưởng như vô tri ấy có một phần ký ức của mình.
Cụm tượng “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” bên đền Bà Kiệu, cạnh Hồ Gươm, có lẽ thuộc về những trường hợp như thế [1].
Nó không phải một cổ vật nghìn năm. Cũng không phải một công trình hoàn mỹ đến mức không thể bàn chuyện di chuyển. Cụm tượng được dựng năm 1984, tưởng niệm những chiến sĩ và người dân Hà Nội trong 60 ngày đêm chiến đấu cuối năm 1946, đầu năm 1947. Nhưng hơn bốn mươi năm đứng ở một trong những không gian đặc biệt nhất của Hà Nội đủ để một công trình vượt ra ngoài tuổi đời vật chất của nó.
Nó bắt đầu có một đời sống khác: đời sống trong ký ức cộng đồng.
Bởi vậy, cuộc tranh luận những tuần qua ở Hà Nội về chủ trương di dời cụm tượng có lẽ không nên giản lược thành câu hỏi giữ hay chuyển.
Chính quyền Hà Nội có những lý lẽ quy hoạch của mình. Các cơ quan chức năng cũng cho biết đã tham khảo ý kiến chuyên môn và dự kiến đưa cụm tượng về một địa điểm gắn với lực lượng vũ trang Thủ đô. Xét thuần túy về hành chính, đây có thể chỉ là một quyết định sắp đặt lại không gian. Nhưng thành phố không chỉ được tạo nên bằng quy hoạch. Thành phố còn được tạo nên bằng ký ức [2].
Nhà sử học Dương Trung Quốc, một người gắn bó lâu năm với lịch sử Hà Nội, khi tham gia cuộc tranh luận đã giúp gợi ra một điều đáng suy nghĩ: giá trị của một tượng đài không chỉ nằm trong bản thân tác phẩm mà còn trong mối quan hệ giữa nó với không gian lịch sử chung quanh [3].
Đó chính là điểm dễ bị bỏ quên khi nhìn một thành phố chủ yếu qua bản đồ quy hoạch. Một bức tượng có thể di chuyển. Một công trình có thể tháo dỡ rồi dựng lại. Về kỹ thuật, thậm chí có thể làm rất nhanh.
Nhưng ký ức không có bánh xe.
Người Hà Nội đi ngang đền Bà Kiệu suốt bốn mươi năm đã quen nhìn thấy những chiến sĩ mặc trấn thủ “Quyết tử” ở đó. Khách phương xa đến Hồ Gươm nhìn thấy họ ở đó. Những thế hệ trẻ được nghe kể về Hà Nội mùa đông 1946 cũng gặp biểu tượng ấy ở đó.
Đến một lúc nào đấy, vị trí trở thành một phần của tác phẩm. Và đđấy cũng chính là lý do một quyết định tưởng không lớn lại gây nên một cuộc tranh luận lớn.
Có lẽ câu chuyện bức tượng đã chạm vào một tâm trạng rộng hơn đang tồn tại trong xã hội Việt Nam: quá nhiều thứ đang thay đổi trong một thời gian quá ngắn.
Bộ máy thay đổi. Cấp hành chính thay đổi. Địa giới thay đổi. Tên gọi thay đổi. Trụ sở thay đổi. Những đại dự án được khởi động. Không gian đô thị được quy hoạch lại. Những cấu trúc tồn tại hàng chục năm bỗng được yêu cầu sắp xếp theo một trật tự mới.
Mỗi quyết định riêng lẻ có thể đều có lý do.
Một bộ máy cồng kềnh cần được tinh giản. Một cơ chế trì trệ cần được cải cách. Một thành phố lớn cần được quy hoạch lại. Một đất nước muốn phát triển không thể lấy hai chữ “truyền thống” làm lý do để giữ nguyên mọi thứ.
Không ai có thể bước vào tương lai bằng cách bảo quản nguyên trạng quá khứ. Nhưng vấn đề không chỉ là có thay đổi hay không.
Còn một câu hỏi khác thường khó đo đếm hơn: Thay đổi với tốc độ nào?
Đó có lẽ là một trong những vấn đề đáng suy nghĩ nhất khi Việt Nam bước vào cái được gọi là “kỷ nguyên mới”, hay “kỷ nguyên vươn mình”.
Quyền lực có tốc độ của quyền lực. Một nghị quyết có thể được thông qua trong một phiên họp. Một cơ quan có thể sáp nhập trong vài tháng. Một địa giới có thể được vẽ lại trên bản đồ. Một tượng đài có thể được tháo dỡ trong vài ngày.
Nhưng xã hội có tốc độ của xã hội. Và ký ức có tốc độ riêng của ký ức. Nó cần thời gian để con người hiểu vì sao một điều quen thuộc phải thay đổi; cần đối thoại để một quyết định hành chính trở thành một lựa chọn được cộng đồng chia sẻ; đôi khi còn cần cả sự chậm rãi — thứ dường như ngày càng xa xỉ trong những thời đại say mê tốc độ.
Một chính quyền có thể trả giá vì cải cách quá chậm.
Nhưng cũng có thể phải trả một cái giá khác khi thay đổi quá nhiều thứ cùng lúc, quá nhanh và với quá ít thời gian dành cho sự đồng thuận. Có lẽ vì thế mà câu chuyện “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” vượt ra ngoài số phận một cụm tượng [4].
Nó xuất hiện đúng lúc Việt Nam đang được thúc giục phải bước khỏi một giai đoạn cũ để đi vào một thời đại mới. Người đứng đầu hệ thống chính trị nhiều lần nói tới “kỷ nguyên mới”, “kỷ nguyên vươn mình”. Một khát vọng như vậy tự nó không có gì đáng phản đối. Một dân tộc không thể sống mãi bằng những chiến công của quá khứ.
Nhưng bước sang một kỷ nguyên mới không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc làm cho những dấu tích của kỷ nguyên trước trở nên xa lạ.
Thậm chí điều ngược lại mới đúng. Một xã hội càng tự tin về tương lai càng có khả năng bình thản với quá khứ của mình.
Paris không cần phá Khải Hoàn Môn để chứng minh nước Pháp đã đi qua thời Napoléon. Berlin không cần xóa mọi dấu vết của những thế kỷ đầy đổ vỡ để trở thành thủ đô của một nước Đức hiện đại. Những thành phố có chiều sâu thường không được xây dựng bằng cách thay lớp lịch sử này bằng lớp lịch sử khác, mà bằng cách để các lớp lịch sử cùng tồn tại và trò chuyện với nhau.
Hà Nội càng cần sự bình thản ấy.
Đây là thành phố mà chỉ cần đào xuống một lớp đất đã có thể gặp một thời đại khác. Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh rồi Hà Nội đã chồng lên nhau qua gần một nghìn năm. Nếu mỗi triều đại mới đều muốn xóa sạch dấu vết của triều đại trước, có lẽ hôm nay chúng ta chẳng còn bao nhiêu Hà Nội để mà yêu.
Bởi thế, có lẽ không nên vội suy diễn rằng phía sau việc di dời một tượng đài nhất thiết phải có một dụng ý chính trị lớn.
Trong dư luận có thể xuất hiện những câu hỏi về khác biệt quan điểm giữa các cơ quan, thậm chí giữa những thiết chế quyền lực. Cũng có người có thể đặt câu hỏi liệu tâm thế kiến tạo một “kỷ nguyên mới” có đang kéo theo nhu cầu sắp đặt lại những biểu tượng gắn với một thời đại cũ hay không.
Những câu hỏi ấy có quyền tồn tại. Nhưng khi chưa có bằng chứng, chúng nên dừng lại ở câu hỏi. Điều đã nhìn thấy rõ hơn lại đơn giản hơn nhiều: xã hội đang phản ứng trước tốc độ của sự thay đổi.Và một chính quyền muốn cải cách thành công cần biết lắng nghe cả những phản ứng t ưởng như nhỏ ấy.
Bởi quản trị không chỉ là khả năng ban hành một quyết định đúng. Quản trị còn là khả năng hiểu một quyết định đúng được đưa ra vào lúc nào, với tốc độ nào và bằng cách nào để xã hội có thể đi cùng nó.
Đôi khi chậm lại một chút không phải là bảo thủ. Đó có thể là sự trưởng thành của quyền lực.
Cũng như giữ lại một bức tượng không có nghĩa là từ chối tương lai. Và nếu cuối cùng có những lý do thật sự thuyết phục để phải chuyển nó, xã hội vẫn xứng đáng được nghe những lý do ấy đầy đủ, được tranh luận, được thuyết phục và được tham gia vào việc quyết định một phần ký ức chung của mình sẽ đi đâu [5].
Một “kỷ nguyên mới”, nếu thực sự mới, có lẽ không nên chỉ khác thời đại trước ở tốc độ xây dựng, quy mô công trình hay mức độ tập trung của quyền lực. Nó còn phải khác ở cách quyền lực đối thoại với xã hội.
Rồi một ngày nào đó, cụm tượng “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” có thể vẫn đứng bên đền Bà Kiệu. Cũng có thể nó sẽ được đặt ở một nơi khác.
Nhưng câu chuyện mà nó để lại lúc này đã vượt khỏi đá và đồng. Nó nhắc chúng ta rằng một đất nước có thể cần chạy rất nhanh để bắt kịp thế giới.
Nhưng đừng bắt ký ức phải chạy theo!
Tùy bút của Bình Nguyên
Tham khảo:
Trong gian phòng khách sạn, nhà báo quay cảnh Xiao Lu gặp cô dâu tên…
Romania là nước mà người Việt Nam chúng ta cần quan sát kỹ. Trước đây…
Trước đó, bà đã cầm khẩu hiệu tuần hành trên các con phố gần các…
Ngày 7/9/2026, hơn 1500 nghệ sĩ, KOL, KOC, nhà sáng tạo nội dung, chuyên gia,…
Nếu lễ tưởng niệm trở thành nơi người ta tranh luận xem ai được quyền…
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng…