Tổng quát
Tôi tin rằng, không phải một vài trăm hay một vài triệu người, mà là hàng tỷ người trên thế giới đều biết đến tội ác của cộng sản đối với nhân loại nói chung, và dân tộc Việt Nam nói riêng. Tội ác như thế nào ? Nội dung này chỉ là sự cố gắng dựng lại một góc nhỏ “chân dung tội ác” của ông Hồ Chí Minh, và tiếp nối bởi các nhóm Đảng cộng sản Việt Nam đàn em của ông, từ bản chất độc tài toàn trị, họ tạo ra tội ác để buộc người dân đem hạnh phúc lại cho họ, như nhận định của Đức Đạt Lại Lạt Ma của Tây Tạng.

Xin mời đọc nhận định về tội ác của cộng sản từ một vài giới lãnh đạo chính trị, lãnh đạo tôn giáo, và nhà văn nhà thơ trên thế giới :
Ông George W. Bush, Tổng thống Hoa Kỳ. Ngày 12/6/2007, chủ tọa lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm Nạn Nhân cộng sản (Victims of Communism Memorial) tại Washington DC, trong diễn văn có đoạn : “… Từ nay, oan hồn của khoảng 100 triệu nạn nhân cộng sản, được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ, vì chế độ cộng sản đã lấy đi mạng sống của khoảng 100 triệu đàn ông đàn bà và trẻ con vô tội”.
Tác giả Stéphane Courtois, trong quyển “Livre Noir du Communisme” (Sách đen về chủ nghĩa cộng sản), có đoạn : “… Vượt trên mức độ tội ác cá nhân, các chế độ cộng sản củng cố quyền hành bằng cách nâng việc tàn sát quần chúng lên hàng chính sách cai trị… Sau đó, sự đàn áp thường ngày, sự kiểm duyệt mọi trao đổi tin tức, kiểm soát xuất nhập biên giới, trục xuất người ly khai… những ký ức về khủng bố tiếp tục đặt người dân trong tình trạng sợ hãi. Các quốc gia cộng sản đều trong qui luật này”.
Tác giả Rudolph J. Rummel : Trong quyển “Death by Government” (Chết do chánh phủ), cung cấp vài con số nạn nhân bị chánh phủ của họ giết chết : (1) Liên Xô 61.911.000 người. (2) Cộng sản Trung Hoa 35.236.000 người. (3) Quân phiệt Nhật 5.964.000 người. (4) Khmer đỏ 2.035.000 người. (5) Thổ Nhĩ Kỳ 1.883.000 người. (6) Cộng sản Việt Nam 1.670.000 người. (7) Cộng sản Ba Lan 1.585.000 người. (8) Cộng sản Nam Tư 1.072.000 người.
Ông Mikhail Gorbachev, Tổng bí thư cuối cùng của Đảng cộng sản Liên Xô, cũng là Chủ tịch cộng sản quốc tế : “Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày nay tôi phải đau buồn mà nói rằng, cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo”.
Ông Boris Yeltsin, Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa liên bang Nga : “Anh có thể xây ngai vàng bằng lưỡi lê, nhưng anh không thể ngồi lâu trên đó. Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”.
Ông Dmitri Medvedev, khi là Tổng thống Cộng hòa liên bang Nga : “…Chế độ cầm quyền ở Liên Xô khi trước, không thể diễn tả bằng cách nào khác hơn là một chế độ độc tài toàn trị..”..
Bà Angela Merkel, Thủ tướng Cộng hòa liên bang Đức : “Cộng sản đã làm cho người dân trở thành gian dối”.
Đức Đạt Lại Lạt Ma :
- 1) Người cộng sản làm cách mạng không phải đem lại hạnh phúc cho người dân, mà người cộng sàn làm cách mạng để buộc người dân đem hạnh phúc đến cho họ.
- 2) Cộng sản là loài cỏ dại mọc trên hoang tàn của chiến tranh, và là loài trùng độc sinh sôi nẩy nở trên rác rưởi của cuộc đời.
- 3) Cộng sản sinh ra từ nghèo đói và ngu dốt, lớn lên bằng dối trá và bạo lực, và sẽ chết trong sự khinh bỉ và nguyền rủa của nhân loại.
Nguồn gốc của tội ác 1922-1932
(Nguồn : Ông Tôn Thất Thiện. Ottawa, 2004)
Đệ Tam quốc tế do ông Lenin thành lập năm 1919 sau khi cướp chánh quyền ở Nga. Năm 1920, đại hội quốc tế cộng sản quy định 21 điều kiện cho các đảng cộng sản hội viên. Ủy ban Chấp hành Đệ Tam quốc tế (Executive Committee of the Communist International – ECCI), từ 10 đến 12 ủy viên, mỗi đảng lớn được hai ghế, các đảng nhỏ chỉ có quyền tham khảo chớ không có ghế. Liên Xô đương nhiên chiếm 5 ghế, cùng với chức Chủ tịch Ủy ban Chấp hành, vì Liên Xô là quốc gia tiếp nhận tổ chức. Trên Ủy ban Chấp hành là một Chủ tịch Đoàn, và Chủ tịch của Chủ tịch Đoàn có quyền hạn rộng lớn mà ông Lenin nắm giữ từ năm 1920 đến năm 1924, sau đó là ông Stalin. Dưới đây là 7 điều, liên quan trực tiếp đến các đảng hội viên :

Điều 9. “Liên hệ giữa các đảng hội viên với các cơ quan trung ương của Đệ Tam quốc tế, theo nguyên tắc thống nhất và kỷ luật vô sản. ECCI là cấp trên, các đảng hội viên là cấp dưới. ECCI có quyền đòi một đảng hội viên trục xuất một nhóm, hay một đảng viên vi phạm kỷ luật, hoặc trục xuất một đảng vi phạm quyết định của Đại Hội Đệ Tam quốc tế”.
Điều 12 : “Tất cả các đảng thuộc Đệ Tam quốc tế phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Điều 15 : “Các đảng phải lập chương trình thích ứng với điều kiện của nước, và đúng với những quyết nghị của Đệ Tam quốc tế”.
Điều 16 : “Tất cả quyết nghị của các đại hội thế giới Đệ Tam quốc tế, cùng các quyết nghị của Ủy ban Chấp hành của Đệ Tam quốc tế, đều ràng buộc các đảng hội viên thi hành”.
Điều 17 : “Các đảng hội viên, chỉ là những chi bộ của Đệ Tam quốc tế, vì Đệ Tam quốc tế không phải là một tập hợp của những chi bộ quốc gia, mà là một tổ chức quốc tế thống nhất”.

Điều 21. “Đảng hội viên nào phủ nhận các điều kiện và Cương Lĩnh của Đệ Tam quốc tế, sẽ bị loại khỏi Đệ Tam quốc tế”.
Điều 30 : “Các cán bộ lãnh đạo của một đảng hội viên chỉ được từ chức nếu được phép của ECCI, sự chấp thuận của Ủy ban Chấp hành Trung Ương của Đảng đó không đủ. Để kiểm soát chặt chẽ, thỉnh thoảng Đệ Tam quốc tế gởi phái viên đến dự đại hội của các đảng hội viên”.
Ông Lênin giải thích rằng, Đệ Tam quốc tế là “một đội quân vô sản quốc tế” mà nhiệm vụ là “thực hiện cách mạng vô sản quốc tế, thiết lập một Cộng hòa Xô Viết quốc tế”.
40 năm sau đó, trong đại hội cộng sản quốc tế tháng 11/1960, lãnh đạo Đệ Tam quốc tế là ông Nikita Khrushchev (Nga) tuyên bố : “Khi một đảng cộng sản tham gia vào cộng sản quốc tế -tức Liên Xô- phải chấp nhận Liên Xô là quốc gia số một -tức lãnh đạo- Người cộng sản và giai cấp công nhân, sẽ đấu tranh để đạt tới mục tiêu vĩ đại là chủ nghĩa cộng sản thống trị thế giới”.

Tháng 1/1961, khi đến thăm thủ đô Austria (Áo quốc), ông Khroutchev trả lời báo chí, trong đó có câu : “Đời vắn quá, không biết tôi còn sống để vui mừng khi cộng sản quốc tế thống trị thế giới này hay không ?”
***
Nguyễn Tất Thành rời Việt Nam năm 1911 sang Pháp dưới tên Văn Ba.
Tháng 12/1912, ông sang Hoa Kỳ với tên Paul Tất Thành.
Cuối năm 1913, ông sang nước Anh làm nghề cào tuyết.
Cuối năm 1917, ông trở lại Pháp làm nghề chụp hình. Từ năm 1919, ông dùng tên Nguyễn Ái Quốc.
Năm 1920, ông dự đại hội đảng Xã hội Pháp, và sau đó ông là thành viên trong nhóm sáng lập Đảng cộng sản Pháp. Từ đó, ông là người cộng sản.
Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc sang Nga dự Đại hội quốc tế cộng sản lần 4, nhờ vậy mà ông được gặp ông Lenine, và từ đó ông trở thành thành viên trong Ban Đông Nam Á của quốc tế cộng sản.
Tháng 6/1923, ông vào học trường đại học Lao Động cộng sản Phương Đông, đào tạo về chủ nghĩa Marx, về tuyên truyền, và khởi nghĩa võ trang.
Năm 1924, trong Đại hội lần thứ 5 quốc tế cộng sản, ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu với tên Lý Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chánh phủ Liên Xô bên cạnh chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch.
Ngày 3/2/1930, ông Nguyễn Ái Quốc thành lập Đảng cộng sản Đông Dương tại Hong Kong. Năm 1931, Nguyễn Ái Quốc dưới tên Tống Văn Sơ, bị nhà cầm quyền Hong Kong bắt giam.
Ngày 9/8/1932, báo L’Humanité của Pháp loan tin : “Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù Hong Kong, đồng thời tố cáo thực dân Pháp cùng với thực dân Anh ám sát người lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương”. Sau đó, có những nguồn tin cho rằng sự kiện đó chỉ là ngụy trang, vì ông Nguyễn Ái Quốc vẫn còn sống… Nhưng không có tài liệu nào phủ nhận hay xác nhận bản tin bên dưới nói rằng Nguyễn Ái Quốc đã chết. Thôi thì, cho dù Đảng cộng sản Việt Nam là Nguyễn Ái Quốc còn sống, hay đã chết và có người bí mật thay thế Nguyễn Ái Quốc, thì ông Hồ Chí Minh và tiếp nối bởi các nhóm Đảng cộng sản Việt Nam gây ra vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam. (Nguồn : Wikipedia).
DanLamBao. Một văn kiện quan trọng của Đảng cộng sản thừa nhận rằng nhận vật Nguyễn Ái Quốc “đã bị ám sát vào giữa năm 1932 tại Hồng Kông”. Sự kiện này được viết rất rõ trong tập 4, văn kiện đảng toàn tập, tại bài “Kỷ niệm ba năm ngày thành lập Đảng cộng sản Đông Dương” : “Đảng cộng sản Đông Dương vừa được thống nhất vào đêm trước của cuộc bãi công có tính chất khởi nghĩa của các phu đồn điền Phú Riềng, bởi ba nhóm cộng sản của Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ, dưới sự lãnh đạo của người sáng lập của nó là đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã bị ám sát vào giữa năm 1932 trong nhà tù địa ngục của Hồng Công”.
Tác giả đã viết ra văn kiện trên là ông Hà Huy Tập, Tổng bí thư đời thứ 3 của Đảng cộng sản Việt Nam, nhiệm kỳ 1937-1938. Đến năm 1941, ông Hà Huy Tập bị Pháp bắt và bị xử bắn. Tài liệu này đang trong kho lưu trữ trung ương đảng và được <website báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam> đăng tải ngày 10/6/2003. Trang web <dangcongsan.vn> là cơ quan ngôn luận chính thức của trung ương Đảng cộng sản Việt Nam. Tổng biên tập tờ báo này là ông Đào Ngọc Dũng, sinh năm 1956, cựu ủy viên ban biên tập báo Nhân Dân.
Thử đi tìm sự thật, “Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành hay Hồ Tập Chương -cũng là Hồ Quang- gốc Tàu ? Dưới đây là năm nguồn tin có kết luận giống nhau :
Nguồn tin 1. Theo Giáo sư Sử học Hồ Tuấn Hùng ở Đài Loan, Hồ Chí Minh tên thật là Hồ Tập Chương, người dân tộc Hẹ, sinh năm 1901 tại Đài Loan, trong cùng một gia tộc với tác giả quyển Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo. Giáo sư Hồ Tuấn Hùng xác nhận, theo các tài liệu trong văn khố của nhà cầm quyền Anh ở Hong Kong, Tống Văn Sơ (bí danh của Nguyễn Tất Thành lúc hoạt động tại Hong Kong) sau khi bị Cảnh sát Hong Kong bắt giữ năm 1931, đã được chữa trị bệnh lao phổi trầm trọng trong một bệnh viện bài lao, và đã chết năm 1932. Nguyễn Tất Thành đã mắc bệnh lao phổi lúc ở Paris (1917-1923). Về mặt y học, bệnh lao phổi vào thập niên 1930 không chữa trị được vì phương Tây chưa có thuốc trụ sinh Streptomycin. Mãi đến ngày 19/10/1943, Sinh viên Cao học Albert Schatz, thành viên một nhóm nghiên cứu y học của Hoa Kỳ dưới quyền điều khiến của Bác sĩ Selman Abraham Waksman, mới khám phá ra thuốc Streptomycin. Đến năm 1946, thuốc Steptomycin mới được đem ra thí nghiệm trên lâm sàng đế chữa trị bệnh lao phối.
Nguồn tin 2. Căn cứ một bài viết của Huỳnh Tâm tựa đề “Đảng cộng sản Việt Nam”. Theo đó thì phiên bản của Tình báo Trung Quốc đăng trên <Blog danlambaovn>, một số tài liệu của Tình báo Trung Quốc hiện còn lưu trữ tại hai cơ quan Tình báo ở Hoa Nam và Bắc Kinh đã dược giải mã. Các tài liệu đã giải mã, đặc biệt là Sổ Tay của Đặng Bình Ánh, xác nhận nhân vật đã được Đảng cộng sản Trung Hoa gởi đến căn cứ Pác Bó năm 1940 là Hồ Tâp Chương, mang bí danh Hồ chí Minh từ năm 1932. Hồ Tập Chương là một điệp viên của Trung Quốc có năng khiếu về tinh báo và biết nói nhiều thứ tiếng : Hẹ, Quảng Đông, Quan Thoại, Nhựt, Nga, Pháp và Việt. Tuy nhiên, Hồ Tập Chương viết và nói tiếng Việt và tiếng Pháp còn nhiều sai lầm vì mới học. Tiếng Hẹ có âm thanh gần giống tiếng Việt và tiếng Quảng Đông. Nếu so sánh chữ viết trên lá đơn đề ngày 11/9/1911 của Nguyễn Tất Thành xin nhập học Trường Thuộc Địa của Pháp với chữ viết của Hồ Chí Minh trên nhiều văn bản, nhứt là bản di chúc của ông ta, mọi người đều nhận thấy có một sự khác biệt nổi bật. Viết tiếng Việt không rành, Hồ Chí Minh cầm bút sắt hay bút bi như cách viết chữ Hán (cầm bút lông).
Tác giả Huỳnh Tâm còn tìm thấy một tài liệu hiện còn lưu trữ tại Học viện Quân sự Tình báo Bắc Kinh ghi rõ như sau : “Hồ Tập Chương thay mặt Đảng cộng sản Đông Dương tham dự quốc khánh của Trung Quốc ngày 1/10/1950 đã tuyên bố như sau : “Từ ngày có đảng ta khai hóa được nhược tiểu chư hầu Việt Nam đến với trào lưu nghĩa vụ cộng sản quốc tế, nay kính dâng lên đảng tùy nghi sử dụng cơ sở cộng sản Đông Dương. Mao Chủ tịch muôn năm”.
Nguồn tin 3. Trung Quốc chánh thức xác định Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Thiếu tá Hồ Quang, của Quân đội nhân dân Trung Hoa, từng phục vụ trong Đệ Bát Lộ Quân đồn trú và hoạt động tại tỉnh Quảng Tây.
Nguồn tin 4. Năm 2015, Cục Văn thư và Lưu trữ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xác nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là Thiếu tá Hồ Quang của quân đội Trung Quốc.
Nguồn tin 5. Trong một bài viết tháng 1/1949 với tựa đề “Đảng ta” dưới bút danh Trần Thắng Lợi, Hồ Chí Minh đã viết như sau : “Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong số 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi -tức Hồ chí Minh- nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và Trịnh Đình Cữu, đồng chí Tán Anh (Lê Tán Anh) và vài đồng chí nữa đã oanh liệt hy sinh cho đảng và cho dân tộc lâu trước cách mạng tháng 8”. Bài viết nầy đã được đăng trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5 (Nguồn : Wikipedia).
Tóm tắt : Đảng cộng sản Việt Nam là một Chi bộ của Đệ Tam quốc tế, và phải thi hành lệnh của tổ chức này thực hiện mục tiêu của ông Lenin – Stalin, là “thiết lập một Cộng hòa Xô Viết trên toàn thế giới”. Từ khi Trung Quốc chiếm Trung Hoa lục địa năm 1949, thì Đảng cộng sản Việt Nam trở thành đàn em của Trung Quốc. Cho dù Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành hay Hồ Tập Chương (cũng là Hồ Quang) gốc Tàu, thì tội ác mà lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam -cũng gọi là Việt Cộng- gây ra cho dân tộc Việt Nam và tổ quốc Việt Nam là không thể nào chối cãi.
***
Tội ác của Đảng cộng sản Việt Nam trong hơn 70 năm qua không thể nào sưu tầm đến mức khả dĩ cho là đủ, bởi những gì mà tôi sưu tầm được và tổng hợp trong tập tài liệu này, chỉ là những tội ác mà tôi nghĩ là rất nhiều người đã biết, nhưng chưa hẳn đã rõ. Tôi tin chắc rằng, còn vô số tội ác của Đảng cộng sản Việt Nam (= Việt Cộng) còn trong trí nhớ của rất nhiều người nhưng không có cơ hội truyền đạt đến những độc giả-thính giả muốn biết, vì lịch sử phải là sự thật và do chính những người trong cuộc của từng tội ác truyền đạt bằng lời viết, lời nói. Từ đó, những nhà viết sử sẽ sưu tầm, chọn lọc, phân tách, đánh giá, và tạo nên những dòng sử qua từng giai đoạn của đất mước.
Tài liệu mà tôi trích dẫn từ trong Wikipedia, từ các tác giả, cũng như trên báo chí xã hội chủ nghĩa, có tin xác thực, cũng có tin cần kiểm chứng lại nếu có cơ hội. Nhưng, dù sao thì tập tài liệu này cũng gợi lại cho quí độc giả đôi điều suy nghĩ về tội ác của Đảng cộng sản Việt Nam. Bởi, một xã hội tôn trọng con người, tôn trọng đạo nghĩa, luôn thích ứng với khoa học kỹ thuật trên đường phát triển từ tháng 4/1975 về trước, mà nay trở thành một xã hội suy đồi đạo đức, con người trở nên vô cảm, dối trá, và dối trá đến mức trở thành sự thật trong cuộc sống ngày nay trên quê hương Việt Nam. Bởi, Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam sử dụng hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa từ năm 1954 đến nay, vẫn tiếp tục đào tạo những thế hệ thần dân để tuân phục họ, vì vậy mà xã hội không có những thế hệ công dân để xây dựng và phát triển quốc gia theo nguyện vọng người dân.
Thảm trạng này vẫn chưa thấy “ánh sáng cuối đường hầm”, trong khi theo nội dung Biên bản hội nghị Thành Đô ngày 4/9/1990, và chi tiết hóa trong Biên bản giữa Tổng cục Tình báo Hoa Nam Trung Quốc với Tổng cục 2 Tình báo cộng sản Việt Nam sau đó, chỉ còn mấy tháng nữa là đến ngày 5/7/2020 là bước 1 (trong 3 bước) mà Việt Nam trở thành “quốc gia tự trị của Trung Quốc”. Bước 2 sẽ là từ 5/7/2040 Việt Nam là quốc gia thuộc trị của Trung Quốc, và bước 3 là từ 5/7/2060 hai chữ Việt Nam biến mất, thay vào đó là “tỉnh lỵ tỉnh Âu Lạc”.
Cho dù Đảng cộng sản Việt Nam có phản bác cách nào đi nữa, thì những sự thật về tội ác 1945-1990 là họ thi hành lệnh Đệ Tam quốc tế biến Việt Nam thành quốc gia vô sản trong một thế giới vô sản, và tội ác 1990-2019 cho thấy Đảng cộng sản Việt Nam chuẩn bị nhẹ nhàng êm thấm theo khuôn vàng thước ngọc 16 chữ vàng là “ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện”, do Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đề ra cho Tổng bí thư cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu. Rõ ràng, đây là sự xác định tư tưởng chỉ đạo của Trung Quốc mà Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu vui mừng đón nhận, và “16 chữ vàng” có ghi trong bản Tuyên bố chung hồi tháng 2 năm 1999.
Tháng 11/2000, khi ông Nông Đức Mạnh, Tổng bí thư mới của Đảng cộng sản Việt Nam sang thăm Trung Quốc, ông Giang Trạch Dân lập lại “16 chữ vàng là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước“, và ông Mạnh vui vẽ chấp nhận.
Ngày 19/7/2005, khi hội kiến với ông Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Quốc Vụ Viện Trung Quốc, Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đức Lương khẳng định rằng : “Nhà nước và nhân dân Việt Nam, rất coi trọng mối quan hệ truyền thống với Trung Quốc và sẽ làm hết sức mình để thực hiện phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt” (hết trích).
Vậy là, lãnh đạo Trung Quốc giăng ra cái bẫy, và Đảng cộng sản Việt Nam vui vẽ chui vào đó để được Trung Quốc gọi là đúng hướng. Và mỗi khi họ thấy sai hướng, thì họ vội vàng bay sang Hà Nội dạy cho Đảng cộng sản Việt Nam bài học đúng hướng.
(Còn tiếp)


