
LTS – Cuốn phim tài liệu VIETNAM AU COEUR (Việt Nam trong tim tôi) sẽ ra mắt khán giả Câu lạc bộ YDA
tại rạp Grand Action (5, rue des Ecoles, 75005 Paris) 16g ngày thứ bảy 4.4.2026. Cuốn phim dành một
trường đoạn về cụ Lê Đình Kình và cuộc đấu tranh của làng Đồng Tâm chống lại sự cưỡng đoạt của
chính quyền và tập đoàn Viettel.
Các bạn Diễn Đàn hỏi tôi tại sao trong cuốn phim VIETNAM AU CŒUR vừa thực hiện, tôi đã dành cả một trường đoạn về cụ Lê Đình Kình, về thảm kịch làng Đồng Tâm ? Đơn giản, đó là một trải nghiệm cay đắng trong đời tôi với đất nước Việt Nam, và tôi chắc chắn nó sẽ được khắc ghi vào lịch sử Việt Nam như một sự kiện đau buồn, đồng thời cũng là tấm gương kiên định phi thường của người nông dân, qua bao thế kỷ, chưa hề khuất phục trước bạo quyền (bất luận là Việt Nam hay ngoại quốc), bền bỉ giữ gìn đất đai của mình.
Tôi đã nói và viết về Đồng Tâm, nhưng trong phim này, tôi muốn hình ảnh nói lên niềm đau, nỗi kinh ngạc và cơn phẫn nộ, vì hình ảnh nói thật và nói mạnh hơn ngôn từ, chữ nghĩa.
Như chính cụ Lê Đình Kình, vài phút trước khi bị bắn chết trên giường, đã nói để trấn an cụ bà : “ Đảng sẽ không làm vậy đâu, có pháp luật chứ…”. Không lạc quan như cụ Kình, nhưng tôi vẫn mong rằng trước sự kháng cự của nhân dân, chính quyền sẽ không phản ứng tàn bạo đến thế.
Duyên nợ của tôi với làng Đồng Tâm bắt đầu trong một cuộc họp bạn tại căn hộ của nhà văn Phạm Toàn, Hà Nội. Trong bữa ăn, câu chuyện xoáy quanh tệ nạn quốc gia của Việt Nam : việc trưng dụng, cưỡng đoạt phi pháp đất đai của nông dân, mà thủ phạm là những cán bộ tham nhũng móc nối với bọn đầu cơ. Các bạn đã nêu ra những vụ việc đã và đang xảy ra. Đó là lần đầu tiên tôi nghe nói tới làng Đồng Tâm : nông dân ở đây kiên quyết chống lại tập đoàn Viettel của quân đội và những nhóm lợi ích, họ khởi kiện từ năm 2013, nhưng chính quyền và tòa án cứ cù cưa, vụ công an dã chiến tấn công lần đầu hồi tháng tư 2017, đánh đập làm cụ Lê Đình Kình bị thương nặng (cụ trở thành tàn tật) rồi bắt giam cụ, khiến dân làng (nhất là những phụ nữ tay không) đã phản ứng bằng cách « cầm giữ » trong làng 38 cảnh sát dã chiến, bộ đội và nhân viên an ninh. Những lời hứa hão, những cam kết long trọng bị lật ngược bằng hảnh động của những cán bộ cao cấp của chính quyền Hà Nội, cơ quan tư pháp và tướng lĩnh quân đội.
Trong suốt những năm trước đó, tôi đã nghe nói về những vụ lừa đảo của bộ máy chính quyền, cướp đoạt đất đai và nhà cửa của người dân (Thủ Thiêm, vườn rau Lộc Hưng, cũng như ở Bình Dương, Dương Nội (gần Hà Nội), hay Tiên Lãng (Hải Phòng). Tôi nghĩ Đồng Tâm ở gần Hà Nội cũng sẽ là một vụ phản đối tương tự. Khi tôi hỏi các bạn có thể dẫn tôi đi thăm Đồng Tâm hay không, họ không từ chối, nhưng đã cảnh giác tôi là sẽ nguy hiểm. Công an đã vây bủa khoanh vùng. Từ khách sạn của tôi ở khu phố cổ Hà Nội, các bạn đã đi xe hơi đến đón tôi. Sau một vòng, tôi chuyển sang ngồi « xe ôm » ra một địa điểm ngoại thành, từ đó lại lên xe hơi, cuối cùng là cưỡi xe máy đến làng Đồng Tâm. Tại đây, khoảng hai chục người đứng đón tôi ở ngoài sân, và trong phòng, khoảng ba mươi người ngồi quây quần chung quanh cụ Lê Đình Kình. Chòm râu bạc như chòm râu Bác Hồ, cụ Kình tươi cười ngồi giữa những người thân. Một bạn nói đôi lời giới thiệu tôi, nhưng xem ra mọi người đã biết và đợi tôi. Suốt hơn một giờ, tôi cố gắng không để sót một hình ảnh, một lời nói nào của cụ, kể lại cuộc đấu tranh. Đầu óc minh mẫn, trí nhớ phi thường, không bỏ sót một tên người, một địa danh, cụ kể lại quá trình sự kiện đã dẫn tới tình trạng bế tắc hiện nay. Cụ nhắc lại diễn biến những quyết định pháp lý mâu thuẫn của chính quyền, nói qua về cuộc tấn công đã khiến cụ trở thành tàn tật. Hiển nhiên người đảng viên lão thành ấy được mọi người dân làng quý trọng, cụ đã bảo vệ lập trường của người dân một cách thông tuệ và kiên quyết. Nhưng càng nghe cụ nói, tôi càng thấy lo lắng và linh cảm những hậu quả không hay. Đối với chính quyền cấp cao, sự phản kháng của dân làng Đồng Tâm mang một chiều kích khác với nơi khác. Đây không phải là Lộc Hưng của những người Công giáo di cư mà người ta có thể dễ dàng chụp mũ chống chế độ. Ở Đồng Tâm, đông đảo quần chúng đoàn kết chung quanh một con người được mọi người quý trọng, có tâm có tài, cựu chiến binh, hơn 50 năm tuổi đảng. Họ không phải là một gia đình, hay vài gia đình câu kết lại. Họ đa số đều là đảng viên, lặp lại những khẩu hiệu của Đảng, những tuyên bố chống tham nhũng của Tổng bí thư Đảng cộng sản, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống tham nhũng. Chỉ có một cách duy nhất giải quyết bế tắc là áp dụng luật pháp nghiêm minh của một Nhà nước pháp quyền. Nhưng thứ luật mà chính quyền nêu ra xem ra là luật rừng của tập đoàn Viettel. Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn ngày 8 tháng 3 năm 2019, cũng như người dân làng, tôi vẫn mong rằng khả năng xấu nhất không thể xảy ra. Và khi chụp ảnh, tôi bắt tay bái biệt cụ Kình, tôi tâm niệm sẽ được gặp lại cụ.
Nhưng rất nhanh chóng, chính quyền đã đánh tan giấc mơ về một giải pháp khôn ngoan, hòa bình. Họ đã gửi ngay cho tôi một thông điệp khiến tôi càng thêm lo lắng. Khi tôi ra sân bay Nội Bài để rời Hà Nội, tôi được gọi tên qua loa « đến kiểm tra hành lý ». Người kiểm tra là ba cán bộ công an, một nữ hai nam. Hành lý là chuyến đi thăm Đồng Tâm của tôi. Họ rất lễ độ, gọi tôi bằng « bác », và nói gặp tôi theo chỉ thị của cấp trên. Người phụ nữ trẻ tuổi dẫn dắt cuộc nói chuyện nói chị ta biết là tôi đã quay phim cuộc phỏng vấn cụ Kình. Cũng thừa nhận là năm 2017 đã xảy ra vụ công an bạo hành quần chúng, song « bạo hành là do cả hai bên ». Tôi nói tôi rất phẫn nộ trước việc Đảng bạo hành một đảng viên cộng sản lão thành chỉ vì ông cụ bảo vệ ruộng đất của dân làng. Tôi nói đến Nhà nước pháp quyền. Tôi yêu cầu ghi âm những lời phản đối của tôi và chuyển tới cấp trên thì họ từ chối. Tôi nói nếu « bạo hành là do cả hai bên » thì cho tôi gặp một công an bị nông dân bạo hành, tôi sẽ phỏng vấn và cho vào phim. Người nữ công an nhận lời, nhưng sau đó yêu cầu của tôi không được thực hiện. Kết thúc cuộc đối thoại, một trong hai người nam chưa nói gì, đã chuyển cho tôi « thông điệp » sau đây, xưng hô vẫn là bác cháu lễ phép : « Bác cũng hiểu là nếu bác làm gì có hại tới uy tín của Đảng, bác sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả ». Lúc đó tôi mới hiểu rằng những lo lắng của tôi là có cơ sở.
Linh cảm như vậy nên một ngày sau khi về tới Paris, 8 tháng một 2020, tôi đã gửi một lá thư viết tay cho đại sứ Nguyễn Thiệp ở Paris. Sau đây là một trích đoạn : « …Không đi sâu vào việc xem xét các quy trình phức tạp và trái ngược nhau, cũng không suy xét giá trị các tuyên bố của những lãnh đạo và cán bộ thành phố, tôi chỉ xin nhấn mạnh về sự khẩn thiết phải đi tới một giải pháp công bằng, không bạo động, cho cuộc xung đột mang tính bùng nổ này. Làm sao tránh được đổ máu, một nguy cơ xem ra gần kề. Tháng ba năm ngoái, tôi đã gặp nhân dân Đồng Tâm, chăm chú nghe quan điểm những người lao động và tìm hiểu tình hình thực địa. Đó là những người dân hiền hòa, lương thiện, yêu đất nước như yêu chính mình. Tôi hiểu họ quyết tâm tự bảo vệ. … Tôi ủng hộ nhân dân Đồng Tâm… ».
Tôi không hề nhận được hồi âm. Sáng hôm sau, là cuộc tấn công tàn sát. Thật kinh hoàng. Trên màn hình của đài VTV1, là những cuộc thẩm vấn, những lời thú tội cưỡng ép, khuôn mặt xưng vù của hai người con trai cụ Kình, Lê Đình Công, Lê Đình Chức và người con gái nuôi Bùi Thị Nối. Tên tôi, Hồ Cương Quyết được công khai khẳng định là đồng lõa và tôi nhận được những lời đe dọa qua mạng. Sau đó tôi đã theo dõi phiên tòa được dàn dựng với 19 người bị bắt, các luật sư bị côn đồ xách nhiễu trên đường đi tới tòa án. Cuỗi cùng là bản án : tử hình cho hai người con trai, chung thân cho người cháu nội. Tru di tam tộc, theo đúng truyền thống phong kiến ở Trung Quốc và Việt Nam.
Những tuyên bố dối trá và mâu thuẫn của những tướng lĩnh, các cuộc điều tra độc lập bị nghiêm cấm, những đám tang bị công an kềm kẹp. Tôi còn theo dõi việc bắt bớ những người đi tìm sự thực và phát biểu, như nữ ký giả Phạm Đoan Trang và bản « báo cáo Đồng Tâm », bị kết án 9 năm tù giam, những người lên tiếng đoàn kết như gia đình bà Cấn Thị Thêu và hai con trai Phương và Tư, cả ba đều bị án nặng. Tất nhiên, người ta cấm đoán mọi cố gắng chi viện bà quả phụ và thân nhân mất hết các nguồn thu nhập : chị Nguyễn Thúy Hạnh kêu gọi quyên góp, gửi khoảng 20 000 đô la vào tài khoản Vietcombank. Đảng ra lệnh chặn tài khoản với lý do « tài trợ khủng bố », đến hôm nay, tài khoản này vẫn bị phong tỏa. Bà Hạnh bị sách nhiễu liên tục trước khi bị bắt giam và kết án ba năm tù (phần lớn thời gian này ở bệnh viện tâm thần). Tôi có thể liệt kê nhiều trường hợp khác, cho thấy giới lãnh đạo Đảng, công an và quân đội đã chuẩn bị kỹ càng một cuộc hành quân chống lại một làng xã hòa bình nhưng cứng đầu (người ta chuẩn bị cả lựu đạn, dao kéo, nông cụ, thùng xăng để trưng bày và báo chí nhà nước rêu rao là bằng chứng của những hành động khủng bố). Không những thế, có lẽ họ cũng dự kiến cuộc tấn công sẽ gây ra phản ứng phẫn nộ của dư luận và sáng kiến hỗ trợ gia đình nạn nhân, nên họ đã chuẩn bị việc bắt giam những nhà hoạt động dân chủ mà họ đã theo dõi từ trước.
Nhìn lại, có thể nói lá thư tôi gửi đại sứ Nguyễn Thiệp quả là ngây thơ, vì bản thân ông đại sứ cũng không thể làm được gì : mọi việc đã được cấp trên của ông quyết định rồi. Cho nên, mỗi lần câu chuyện Đồng Tâm được gợi ra, tôi lại nhớ tới cái nhìn tin cậy của Lê Đình Kình khi cụ gọi tôi bằng hai tiếng « đồng chí ». Tôi còn cảm thấy bàn tay mảnh khảnh của cụ nắm chặt tay tôi lúc chia tay, tôi tự trách mình bất lực, đã không ngăn chặn được sự việc. Tôi nghĩ tới lá cờ giải phóng mà tôi đã giương cao, nghĩ tới vết nhơ mới xảy ra này. Tôi cảm thấy bị phản bội, thóa mạ, ô nhục. Chính vì vậy mà mỗi lần ra bắc, tôi đặt hoa trước mộ cụ Kình, vào làng thăm cụ bà, nói đôi lời an ủi. Đó cũng là lý do tại sao bà có mặt trong cuốn phim, nói lên nỗi đau, kể lại sự thực về cái đêm hôm ấy tại ngôi nhà còn mang nhiều chứng tích. Bà có quyền nói, bà phải nói : đêm hôm ấy công an đã bịt chặt miệng bà trong lúc họ giết chồng bà, cướp đi con cháu bà.
André Menras / Hồ Cương Quyết
Nguồn: www.diendan.org
A propos du film VIETNAM AU COEUR
(Grand Action, samedi 4 avril 2026, Cinéma Grand Action
5, rue des Ecoles, 75005 Paris)
Retour à Đồng Tâm
Pourquoi avoir consacré une séquence de mon dernier film au drame de Đồng Tâm ? Parce que c’est un épisode amer de mon histoire avec le peuple vietnamien qui, j’en suis absolument certain, restera dans l’Histoire de ce pays, ineffaçable par les tristes vérités qu’elle révèle et par l’admirable résilience d’un peuple paysan qui, à travers les siècles n’a capitulé devant aucune force, étrangère ou intérieure pour défendre sa terre.
Parler et écrire, je l’avais déjà fait mais je voulais que l’image vienne documenter la douleur, la stupéfaction et l’énorme indignation car l’image parle plus vrai et plus fort que les mots.
Comme le vieux Lê Đình Kình disait pour rassurer sa femme quelques minutes avant d’être froidement abattu dans sa chambre : « Le Parti ne fera pas ça, il y a la loi… ». J’étais moins optimiste que lui mais je voulais quand même espérer que la réponse à cette action de résistance populaire ne serait pas aussi monstrueusement violente.
Mon histoire avec Đồng Tâm commence par une rencontre amicale chez l’écrivain Phạm Toàn à Hà Nội. Au cours du repas, la conversation tournait autour d’une des catastrophes nationales du Vietnam : la réquisition-confiscation illégale et violente des terres paysannes par des cadres et promoteurs corrompus. Nous évoquions de nombreux cas passés et présents. C’est là que j’ai entendu parler de Đồng Tâm pour la première fois. La détermination de résistance des paysans face à l’appareil du groupe militaire Viettel et autres groupes d’intérêt, la plainte déposée par les paysans dès 2013, les tergiversations troubles de la justice, le premier assaut du village par les policiers de combat en avril 2017, le tabassage du vieux Lê Đình Kình avec la grave blessure qui va le rendre infirme à vie et son arrestation. La capture par les villageois, surtout par des femmes non armées, de 38 policiers de combat, soldats et officiers, ainsi que d’autres membres des forces de sûreté. Les trahisons et promesses non tenues, les calomnies de la part des hautes autorités de Hà Nôi dont certains responsables du Parti, de l’appareil judiciaire, de généraux de l’armée.
J’avais déjà appris au fil des années l’existence de ces vastes arnaques administratives où les braves gens étaient violemment dépouillés de leurs terres et de leurs maisons, comme à Saïgon (Thủ Thiêm, jardins de Lộc Hưng (vườn rau Lộc Hưng) , comme aussi dans la province de Bình Dương, comme à Dương Nội près de Hà Nội ou encore à Tiên Lãng, Hải Phòng. Je pensais que Đồng Tâm n’était qu’un nouveau foyer de résistance près de Hà Nội. Quand j’ai demandé à des amis s’ils pouvaient me conduire dans le village, ils n’ont pas hésité mais m’ont prévenu du danger. La police avait déjà tissé sa toile sur la zone. De mon hôtel des « 36 rues », une voiture est venue me prendre pour me conduire à une moto qui m’a laissé à un point de la banlieue où une autre voiture a pris le relai, puis j’enfourchais une dernière moto avant d’arriver au village. Là, dans la cour, une vingtaine de villageois attendaient et ,dans une grande salle, une trentaine d’autres étaient assis dont le vieux Lê Đình Kình. Tout sourire avec sa longue barbe blanche pareille à celle de l’oncle Hồ, il était entouré de sa famille. Un ami m’a présenté rapidement mais apparemment on me connaissait de nom et j’étais attendu. Pendant plus d’une heure, je me suis appliqué à ne pas perdre une image ni un mot du long récit que le patriarche a fait du conflit. Avec une grande lucidité et une énorme mémoire des dates, des lieux, des noms de personnes, le vieux Kình a exposé l’historique des évènements qui ont mené à la situation de blocage actuel. Il a cité avec précision les évolutions juridiques contradictoires de la part des autorités. Il a aussi évoqué la violente agression dont il a fait l’objet et l’infirmité qui s’en est suivi. De toute évidence, cet homme faisait l’objet du plus grand respect de la part des villageois et défendait le dossier commun avec intelligence et détermination. Mais en l’écoutant parler ainsi, l’inquiétude et un mauvais pressentiment montaient en moi.
Pour les hautes autorités, la résistance de Đồng Tâm prenait une autre dimension que dans les autres cas. Elle unissait un grand nombre de personnes organisées autour d’un homme à la respectabilité totale, compétent et surtout, ancien combattant, membre du Parti depuis plus d’un demi-siècle. Ils n’étaient pas une seule famille ou des familles dispersées. Ce n’étaient pas comme à Lộc Hưng des catholiques réfugiés du Nord que l’on pouvait facilement accuser d’hostilité au régime. Ils étaient pour la plupart membres du Parti et reprenaient ses mots d’ordre, ceux de son secrétaire général contre la corruption. Ils appelaient à la solidarité nationale contre la corruption ! Seul l’exercice équitable de la loi et du droit dans le cadre d’un Etat de droit pouvait débloquer la situation. Et la seule loi avancée par le régime semblait être celle du groupe Viettel. Cependant, au moment de mon interview le 8 mars 2019, je voulais bien croire comme les villageois que le pire, c’est-à-dire la violence extrême, ne paraissait pas envisageable et lorsque j’ai serré la main de M. Lê Đình Kình pour la photo souvenir, je pensais bien le revoir.
Mais les autorités ne m’ont pas laissé longtemps rêver à une issue sage et pacifique. Elle m’ont immédiatement fait passer un message fort qui a renforcé mon inquiétude. Lors de mon départ de Hanoi à l’aéroport de Nội Bài, on m’appelle au micro pour « contrôle des bagages ». Il s’agissait en fait de trois agents de la sécurité, une femme et deux hommes qui voulaient m’interroger sur ma visite à Đồng Tâm. Très polis et même gênés, ils m’ont donné du « Bác » en spécifiant qu’ils agissaient sur ordre supérieur. La jeune femme qui menait la discussion m’a signifié savoir que j’avais filmé le récit de Lê Đình Kình. Elle a reconnu qu’en 2017 il y avait eu des violences policières sur les villageois mais que celles -ci étaient « des deux côtés ». Je lui ai dit toute mon indignation envers la violence déchaînée par le Parti contre un vieux et fidèle communiste qui défend ses terres et celles de ses co-villageois. Je lui ai parlé de l’Etat de droit. Je lui ai demandé d’enregistrer mes paroles d’indignation pour ses chefs et elle a refusé. Quand je l’ai prise au mot en lui demandant de me présenter un policier victime selon elle, de violence, pour le faire parler dans mon film, elle a acquiescé mais ma demande est restée sans suite. En fin de dialogue, le message qu’ils avaient mission de me faire passer a été clairement formulé par un des deux hommes restés jusque-là silencieux. Toujours en me donnant du Bác : « Vous comprendrez bien que si ce que vous faites porte atteinte au prestige du Parti, vous devrez en accepter les conséquences. » J’ai compris à ce moment-là que mon inquiétude était fondée.
Le lendemain de mon arrivée en France, le huit janvier 2020, j’ai envoyé, comme une prémonition, une lettre manuscrite avec accusé de réception à l’ambassadeur Nguyễn Thiệp à Paris. En voici un extrait « …Không đi sâu vào việc xem xét các quy trình phức tạp và trái ngược nhau,cũng không suy xét giá trị các tuyên bố của những lãnh đạo và cán bộ thành phố, tôi chỉ xin nhấn mạnh về sự khẩn thiết phải đi tới một giải pháp công bằng, không bạo động, cho cuộc xung đột mang tính bùng nổ này. Làm sao tránh được đổ máu, một nguy cơ xem ra gần kề. ắng ba năm ngoài, tôi đã gặp nhân dân Đồng Tâm, chăm chú nghe quan điểm những người lao động và tim hiểu tình hình thực địa. Đó là những người dân hiền hòa, lương thiện, yêu đất nước như yêu chính mình. Tôi hiểu họ quyết tâm tựbảo vệ. … Tôi ủng hộ nhân dân Đồng Tâm… »
Je n’ai jamais eu de réponse. Le lendemain matin, c’était l’assaut meurtrier. J’étais consterné. Les interrogatoires et les aveux forcés sur VTV1, les visages tuméfiés des deux fils du patriarche Lê Đình Công et Lê Đình Chức ainsi que de sa fille adoptive Bùi Thị Nối. Mon nom Hồ Cương Quyết a été cité publiquement comme complice et j’ai reçu des menaces de mort par internet. J’ai suivi ensuite le simulacre de procès des 19 personnes arrêtées, l’interdiction faite aux avocats de contacter les prévenus, le harcèlement de ces avocats dans la rue, dans leur trajet vers le tribunal par les voyous de la police…Finalement les sentences : mort pour les deux fils, perpétuité pour le petit fils. Comme dans la Chine impériale et le Vietnam féodal, l’élimination de trois générations de la même famille “Tru di tam tộc”… Les mensonges contradictoires de généraux, l’interdiction d’enquête indépendante, les obsèques sous haute surveillance. J’ai également suivi les arrestations de ceux qui ont essayé d’établir la vérité et de la dire comme la journaliste écrivaine
Phạm Đoan Trang avec son « Rapport Đồng Tâm », condamnée à 9 ans de prison, la solidarité paysanne de la famille de Cấn Thị Thêu et ses deux fils Phương et Tư, eux aussi condamnés à de lourdes peines. Bien sûr la solidarité venue de toutes parts pour soutenir la veuve et ses proches restés sans ressources a été empêchée : la militante Nguyễn Thúy Hạnh avait ouvert son compte à la Vietcombank pour héberger cet argent, environ 20000 dollars. Il a été bloqué sur ordre du Parti pour cause de « financement du terrorisme » et l’est encore aujourd’hui. Mme Hạnh a été harcelée puis arrêtée et condamnée à plus de 3 ans, peine qu’elle a dû effectuer essentiellement en hôpital psychiatrique. Je pourrais multiplier les exemples pour montrer que les dirigeants du Parti, de la police et de l’armée ont mûrement élaboré cette véritable opération militaire contre tout un village en résistance pacifique (malgré la mise en scène de grenades, de couteaux, d’instruments agricoles et autres bidons d’essence exposés comme trophées et preuves d’actions terroristes par les médias d’Etat). Tout se passait aussi comme s’ils avaient prévu de profiter de l’indignation et de la solidarité avec les victimes pour prétexter de nouvelles arrestations parmi les démocrates déjà ciblés.
Ma lettre à l’ambassadeur était bien naïve et lui-même ne pouvait pas grand-chose : tout était déjà décidé en haut lieu.
Alors, chaque fois que cette tragédie est évoquée, je revois le regard confiant du vieux Lê Đình Kình quand il m’appelait « đồng chí» . Je sens sa frêle main qui serre la mienne au moment du départ et je me dis que je n’ai pas été capable de trouver un écho assez fort pour arrêter tout ça. Je pense au drapeau de libération que j’ai porté haut et à cette nouvelle salissure. Et je me sens trahi, humilié, honteux. Voilà pourquoi à chacune de mes visites au Nord, je vais fleurir la tombe du patriarche, je vais rendre visite à sa veuve pour quelques mots de réconfort. Voilà pourquoi elle témoigne dans mon film, y raconte sa douleur, me montre la vérité du drame dont sa maison garde les traces. Pour qu’elle parle, elle, que la police a violemment bâillonnée tandis qu’elle lui volait son mari et ses fils.
André Menras – Hồ Cương Quyết

