1. Đảng cộng sản Việt Nam trong quy luật : Thành (Trần Đan Tâm)

Lời giới thiệu : Thành – Trụ – Hoại – Diệt là một quy luật vật lý của vũ trụ cho thấy mọi vật có khối lượng và mọi hiện tượng cân đo đong đếm được trong vũ trụ đều bị chi phối qua 4 thời kỳ : xuất hiện là Thành, phát triển là Trụ, hư nát là Hoại và mất đi là Diệt. Quy luật nầy là một định luật khoa học chứ không phải là một quy luật riêng biệt của Phật giáo, được áp dụng cho mọi loại vật chất và hiện tượng trong vũ trụ hiện tại của nhân loại.

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc (1948)

Tuyên ngôn phổ cập về Nhân quyền không hề mất đi tính thời sự kể từ ngày nó được Đại hội đồng Liên hiệp quốc công bố và thông qua vào năm 1948. Tầm nhìn xa và quyết tâm phi thường của các tác giả của nó đã tạo ra một tài liệu lần đầu tiên liệt kê ra các quyền và tự do bất khả xâm phạm mà tất cả mọi người phải được hưởng trên cơ sở bình đẳng.
Ngày nay được dịch ra hơn 360 ngôn ngữ, Tuyên ngôn là tài liệu được dịch nhiều nhất trên thế giới, chứng minh tính phổ quát của cả nội dung và phạm vi của nó. Bây giờ nó là tiêu chuẩn để đo lường sự công bằng và bất công. Nó là nền tảng của một tương lai công bằng và nhân phẩm cho tất cả mọi người, đồng thời mang đến cho mọi người trên khắp thế giới một vũ khí mạnh mẽ chống lại sự áp bức, sự miễn tội và các cuộc tấn công vào nhân phẩm.
Cam kết của LHQ đối với nhân quyền được khắc ghi trong Hiến chương Liên hiệp quốc. Cộng đồng quốc tế có nhiệm vụ bảo vệ và đảm bảo sự tôn trọng các quyền này. Chúng ta phải đảm bảo rằng những người có quyền bị đe dọa nhiều nhất biết rằng Tuyên ngôn này tồn tại và nó tồn tại vì họ. Mỗi người chúng ta phải thực hiện phần việc của mình để đảm bảo rằng các quyền phổ quát mà nó đặt ra sẽ trở thành hiện thực cụ thể trong cuộc sống của tất cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em ở khắp thế giới.
BAN Ki-moon
Tổng thư ký LHQ (2015)

Người Thượng trên Tây Nguyên : tìm một giải pháp hội nhập (Nguyễn Văn Huy – Song Chi)

Cuộc phỏng vấn được thực hiện với Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huy – một người quan tâm đến các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam, đặc biệt là người Hoa, người Chăm, người Thượng và người Khmer. Là chuyên viên tài chánh và hành chánh trong các cơ quan công và tư của Pháp, từng là giảng viên phụ trách bộ môn dân tộc học vùng Đông Nam Á tại Đại học Denis Diderot, Paris 7 (1995-2000). Hiện tại sống ở Paris, Pháp và là chủ nhiệm trang Thông Luận điện tử.

Nhìn lại vấn đề người Thượng (Nguyễn Văn Huy)

Bài 6: Nhìn lại vấn đề người Thượng Sau những cuộc xuống đường rầm rộ của người Thượng trên cao nguyên miền Trung từ đầu tháng 2/2001, phong trào chống đối vẫn còn tiếp diễn. Tình trạng căng thẳng kéo dài trong suốt tháng 3 mà cao điếm là ngày 12/3/2001, hơn 10.000 người Rhadé đã đến biểu tình trước trụ sở ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc và thành phố Buôn Ma Thuột yêu cầu chính quyền Việt Nam tôn trọng nhân quyền, tự do tín ngưỡng và trả lại đất đai của họ đã bị người Kinh chiếm hữu. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự bất mãn của người Thượng trên cao nguyên sẽ thuyên giảm. Về phía chính quyền cộng sản, thay vì đầu tư vào một giải pháp ôn hòa để giải quyết vấn đề họ đã chọn biện pháp đối đầu cứng…

Người Thượng (5) – Những nguyên nhân nổi dậy (Nguyễn Văn Huy)

Sự khinh miệt người Thượng phải chấm dứt, và chấm dứt càng sớm càng tốt, càng kéo dài chỉ có hại vì phản ứng của người Thượng rất khó lường trước. Tiêu cực thì họ rút vào rừng sâu sống biệt lập với người Kinh để rồi tuyệt tích ; tích cực thì họ sẽ dùng bạo lực để tiếng nói và chỗ đứng được tôn trọng. Nếu phản ứng thứ hai này được sử dụng, cụm từ “đại đoàn kết dân tộc” hay “dân tộc Việt Nam” mất hết nội dung, và hậu quả biết trước là một cộng đồng dân tộc yếu kém hơn bị tiêu diệt, về văn hóa lẫn thể chất.

Người Thượng (4) – Vẫn trên đường tìm chỗ đứng (Nguyễn Văn Huy)

Năm 1969, những đòi hỏi chính đáng của nhóm FULRO Thượng ôn hòa đều được thỏa mãn, người Thượng được quyền tham gia trực tiếp vào các sinh hoạt chính trị và đã cùng với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa xây dựng và bảo vệ miền Nam. Giai đoạn từ giữa tháng 10-1969 đến đầu tháng 3-1975 có lẽ là thời kỳ vàng son nhất của cộng đồng người Thượng từ khi được biết đến, nhưng thời gian đã quá ngắn ngủi để những dự án hội nhập người Thượng vào cộng đồng Việt Nam trở thành hiện thực. Hơn hai trăm ngàn trên tổng số một triệu người Thượng đã chết trong cuộc chiến. Sau ngày 30/4/1975, dưới chế độ cộng sản, phong trào FULRO, được dịp hồi sinh, đã tổ chức nhiều cuộc đánh phá chống lại chính quyền cộng sản và bị trấn áp trong bạo lực. Cho đến nay người Thượng vẫn còn trên đường đi tìm chỗ đứng.

Người Thượng (2) – Những phong trào phản kháng (Nguyễn Văn Huy)

Từ giữa thế kỷ 16 người Việt bắt đầu tiếp xúc giáo lý đạo công giáo, số người theo đạo càng ngày càng đông, nhiều họ đạo lớn được thành lập. Nhưng từ thế kỷ 19 trở về sau, đạo công giáo bị bách hại, phong trào tìm đường lên cao nguyên lánh nạn trở nên mạnh mẽ, cộng đồng người Thượng qua đó đã được biết đến.

Người Thượng (1) – Sự hình thành cộng đồng người Thượng trên cao nguyên miền Trung (Nguyễn Văn Huy)

“Thượng” là tên gọi chung những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung Việt Nam. Dân số người Thượng hiện nay trên 1,6 triệu người (tương đương với 1,9% dân số toàn quốc), được chia thành 19 nhóm khác nhau, đông nhất là các nhóm Bahnar, Sedang, Hré, Mnong, Stieng thuộc ngữ hệ Môn Khmer (Nam Á) và Djarai, Rhadé, Raglai thuộc ngữ hệ Malayo Polynésien (Nam Đảo).

“Những mảnh đời rách nát” – 1.3 Chúng tôi phải sống (Nguyễn Văn Huy và Phan Minh Hiển)

Trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả phần tiếp những bài viết về cô nhi, quả phụ và anh em thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, trong tuyển tập “Những mảnh đời rách nát” do Ngày Nay Houston xuất bản năm 1999. Một cách để nhớ tới Phan Minh Hiển.

“Những mảnh đời rách nát” – 1.2 Những Bóng Ma Trên Hè Phố (Nguyễn Văn Huy & Phan Minh Hiển)

Quê hương, hai tiếng thân thương ai trong chúng ta cũng đã một lần gọi đến. Bình thường hai tiếng gọi thân thương ấy không gợi lên trong ta một cảm xúc nào vì đang sống với nó. Giống như không khí, con người hít thở nó để sống mà không cảm nhận sự hiện hữu của nó trong từng mạch sống. Chỉ đến khi thiếu dưỡng khí chúng ta mới cảm thấy nó là cần thiết.

“Những mảnh đời rách nát” – 1.1 Có Một Niềm Tin (Nguyễn Văn Huy & Phan Minh Hiển)

Sau biến cố 30-4-1975, gia đình và bản thân tôi nói riêng và đại gia đình anh em phế binh nói chung sống những ngày đen tối. Vì bị chế độ mới xếp vào loại “thành phần xấu”, chúng tôi bị áp bức đủ điều. Nhà cửa của chúng tôi vốn đã không có gì bị cưỡng đoạt, thân thể không nguyên vẹn của chúng tôi cũng bị cưỡng chế và chịu đựng đủ mọi nhục hình. Một số anh em chúng tôi bị cưỡng bức đưa đi “tập trung cải tạo”.

“Những mảnh đời rách nát” – 1.0 Lời tựa (Nguyễn Văn Huy & Phan Minh Hiển)

Chúng tôi là những nạn nhân thiệt thòi nhất trong cái xã hội này, một xã hội mang tên xã hội chủ nghĩa nhưng bóc lột không ai bằng. Không những thế nó còn tàn ác hơn cả thú dữ, cảnh đánh đập, chửi bới người cùng khổ xảy ra hàng ngày và công khai. Chính quyền cộng sản đã không làm một cử chỉ gì giúp chúng tôi cải thiện cuộc sống mà còn tìm cách vùi dập, đàn áp không cho chúng tôi xuất hiện trước mắt người khác.

Cộng đồng người Hoa – …để hiểu và thông cảm lẫn nhau trong tiến trình xây dựng một tương lai chung (Nguyễn Văn Huy)

Từ trước đến nay, mỗi khi nhắc đến cộng đồng người Hoa tại Việt Nam người ta thường liên tưởng đến huyền thoại “Chú Hỏa”, một người Hoa di cư nghèo khó về sau đã trở thành giàu có nhờ may mắn và chịu khó làm việc. Người ta còn thêu dệt thêm nhiều chuyện kinh hồn khác quanh sinh hoạt của người Hoa như chuyện các thầy bùa, thầy ngải chuyên bắt cóc trinh nữ làm thần giữ của cho những gia đình Hoa giàu có, chuyện bắt cóc trẻ con làm xíu mại, chuyện tráo thịt chuột thay thịt heo, ăn óc khỉ v.v… Người bình dân thì truyền tai nhau những tin đồn về truyền thống sinh hoạt bí mật của người Hoa, cách thức làm giàu không lương thiện, làm hàng giả v.v… Tất cả những lập luận “dễ dàng” trên cho thấy một sự thiếu sót thông tin và thiếu thông cảm giữa người Hoa và người Việt.

Cộng đồng người Chăm – Bùng lên trước khi tàn lụi (Nguyễn Văn Huy)

Chiêm Thành trên danh nghĩa không còn được nhắc tới nữa, nhưng trong thực tế vương quốc Chiêm Thành đối với người Chăm vẫn tồn tại mặc dù đất đai bị thu hẹp. Sau này vào thời Nguyễn sơ, nhất là dưới thời Nguyễn Hoàng, vương quốc Chiêm Thành được nhìn nhận trở lại.

Cộng đồng người Chăm – Thời kỳ xung đột (Nguyễn Văn Huy)

Cũng do chưa bao giờ là một thế lực hùng mạnh có thể bành trướng sang Trung Hoa, người Việt thường tiến về phía Nam để tránh nạn khi có nội chiến, hay tìm đất mới để khai phá. Cuộc Nam tiến tuy không rầm rộ nhưng tiệm tiến này đã thu hẹp dần lãnh thổ của người Chiêm Thành, để rồi mất hẳn dưới thời Gia Long. Và cũng do vị trí địa dư đặc biệt, tranh chấp Bắc-Nam và nhu cầu thống nhất lãnh thổ và đất nước đã xảy từ thời vương quốc Chiêm Thành chứ không phải mới đây giữa người Việt Nam với nhau.