Nếu Chỉ Để Huấn Luyện, Tại Sao Không Cùng Giám Sát Ream Và Ban Keun? (Trần Đông A)

Bài viết này là phần 2 / 2 trong loạt bài Từ Ream đến Ban Keun

Nếu các căn cứ tại Campuchia và Lào phục vụ những mục đích như đã công bố, hãy thương lượng những điều kiện để các nước liên quan có thể kiểm chứng điều đó. Quyền lợi an ninh của Việt Nam không thể tiếp tục phụ thuộc vào việc tin hay không tin những lời trấn an. 

Trần Đông A

1. Việt Nam không thể bảo đảm an ninh bằng tự kiềm chế một chiều 

Trung tâm hỗ trợ và huấn luyện chung Lào–Trung tại sân bay Ban Keun được khai trương ngày 29/9/2026. Theo thông tin được Laotian Times dẫn từ báo Quân đội Nhân dân Lào và Bộ Quốc phòng Trung Quốc, cơ sở này hỗ trợ đào tạo phi công Lào, hoạt động cùng Học viện Hàng không hữu nghị Lào–Trung. Bắc Kinh khẳng định cơ sở không nhằm vào bên thứ ba. Tuy nhiên, những thông số quan trọng về nhân sự, máy bay và phạm vi hoạt động chưa được công bố đầy đủ (1). 

Trước đó, tháng 4/2025, trung tâm hậu cần và huấn luyện chung Campuchia–Trung Quốc tại Ream cũng đã ra mắt. Cần gọi đúng cả chức năng hậu cần: nếu chỉ tranh luận về “huấn luyện”, chúng ta có thể bỏ qua chính khả năng tiếp tế, bảo dưỡng và hỗ trợ hoạt động quân sự mà tên gọi chính thức đã bao hàm. (2) 

Vấn đề của Việt Nam, vì vậy không thể dừng ở câu hỏi có tin những lời giải thích ấy hay không. Câu hỏi cần đặt ra là: Hà Nội có thể thương lượng với các bên liên quan những bảo đảm an ninh nào, với nội dung cụ thể và khả năng kiểm chứng đến đâu? 

Việt Nam đã công khai chính sách “bốn không” từ nhiều năm nay, trong đó có việc không để cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác. Nhưng chính sách của Việt Nam không tự động ràng buộc Lào và Campuchia. Muốn có nghĩa vụ chung, phải thương lượng thành thỏa thuận. Bản thân chính sách quốc phòng Việt Nam cũng dành khả năng phát triển những quan hệ quốc phòng cần thiết, với mức độ thích hợp tùy diễn biến tình hình. (3) 

Sự tự kiềm chế chỉ phát huy giá trị khi đi cùng năng lực bảo vệ mình và những điều kiện giúp các bên dự liệu hành vi của nhau. Không thể lấy cam kết đơn phương làm bằng chứng rằng môi trường xung quanh cũng sẽ tự kiềm chế tương ứng. 

Tình đoàn kết ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia có chiều sâu lịch sử. Tuy nhiên, ký ức chung không thay thế được việc xác định lợi ích trong hiện tại. Tôn trọng quyền tự chủ của láng giềng và yêu cầu họ tính đến an ninh của Việt Nam là hai việc có thể, và cần, được thực hiện đồng thời. 

2. Chưa thể coi mọi việc đã an bài 

Ream và Ban Keun tạo thêm những câu hỏi an ninh đáng quan tâm ở phía tây và tây nam Việt Nam. Nhưng từ sự xuất hiện của các cơ sở ấy đến kết luận một vòng vây quân sự đã hoàn tất vẫn là khoảng cách cần được kiểm chứng. 

Một cảng có khả năng tiếp nhận tàu lớn chưa tự nó chứng minh đã có kế hoạch tiến công. Một cơ sở hàng không có người nước ngoài tham gia huấn luyện chưa đồng nghĩa với một lực lượng tác chiến thường trực đã sẵn sàng. Ngược lại, tên gọi “huấn luyện” cũng không bảo đảm rằng chức năng sẽ mãi chỉ nằm trong những giới hạn ban đầu. 

Điều cần đánh giá là quyền sử dụng thực tế: ai quyết định hoạt động, lực lượng nào được hiện diện, trang bị nào được đưa vào, cơ sở có thể hỗ trợ những nhiệm vụ gì và việc thay đổi chức năng chịu sự ràng buộc nào. 

Tại Ream, hai tàu Nhật Bản đã cập căn cứ tháng 4/2025 sau đợt nâng cấp do Trung Quốc tài trợ. Đó là một dữ kiện cần ghi nhận khi xem xét tuyên bố về “tính mở” của căn cứ. Tuy nhiên, một chuyến thăm chưa trả lời được toàn bộ câu hỏi về quyền tiếp cận lâu dài, cơ cấu chỉ huy hay chức năng của từng khu vực. (4) 

Từ phía Việt Nam, việc Phú Quốc chuẩn bị phục vụ APEC 2027 có thể tăng kết nối kinh tế và sự chú ý quốc tế. Nhưng một sự kiện ngoại giao, dù quan trọng, cũng không tạo ra nghĩa vụ phòng thủ cho các nền kinh tế tham dự. Sự hiện diện thương mại phải được đánh giá đúng giá trị của nó; an ninh vẫn cần những bộ công cụ đánh giá riêng. (5) 

3. Đồng giám sát phải kiểm chứng được điều gì? 

Một hướng đáng thăm dò là hai thỏa thuận riêng, cùng dựa trên một bộ nguyên tắc: một thỏa thuận cho Ream, một thỏa thuận cho Ban Keun. Mỗi nước chủ nhà có chủ quyền, quan hệ đối ngoại và điều kiện an ninh riêng; không thể mặc nhiên gộp họ vào một cơ chế. 

Ở đây, “đồng giám sát” được hiểu là cùng kiểm chứng các nghĩa vụ đã thỏa thuận. Cơ chế ấy không trao cho Việt Nam quyền quản lý căn cứ của láng giềng. Hiện cũng không thể coi Hà Nội đã có quyền thanh sát: quyền tiếp cận chỉ phát sinh nếu được các bên chấp thuận. 

Trước hết, phải xác định đối tượng của cam kết. Cụm từ “không nhằm vào nước thứ ba” quá rộng nếu không được chuyển thành những điều có thể quan sát. Chẳng hạn: không sử dụng cơ sở để chuẩn bị hoặc tiến hành hoạt động vũ lực chống bên tham gia thỏa thuận; xác định giới hạn đối với lực lượng nước ngoài, kho vũ khí và việc chuyển sang chức năng tác chiến; quy định thủ tục khi có đề nghị thay đổi những giới hạn ấy. 

Đây là nội dung đề xuất để thương lượng, chưa phải mô tả những nghĩa vụ mà các bên hiện đã công nhận. 

Một cơ chế tối thiểu cần sáu cấu phần. 

Thứ nhất, công khai chức năng và phạm vi. Cần xác định khu vực nào thuộc cơ chế, những hoạt động nào được phép và trách nhiệm của nước chủ nhà. Nếu chỉ kiểm chứng một khu vực nhỏ trong khi hoạt động liên quan có thể dịch chuyển sang công trình liền kề, cơ chế sẽ mất ý nghĩa. 

Thứ hai, khai báo ban đầu. Các bên cung cấp những thông tin đã thống nhất về nhân sự nước ngoài, nhóm phương tiện chủ yếu, cơ cấu chỉ huy và quyền sử dụng cơ sở. Cần phân biệt người hướng dẫn luân phiên với đơn vị được duy trì liên tục, đồng thời tránh để việc thay nhân sự định kỳ che khuất một sự hiện diện nhân sự thường xuyên. 

Thứ ba, thông báo trước. Diễn tập vượt ngưỡng đã định, tăng đáng kể quân số, đưa vào nhóm trang bị mới hoặc thay đổi chức năng phải được thông báo theo thời hạn cụ thể. Những từ như “lớn”, “đáng kể” phải có tiêu chí trong phụ lục kỹ thuật. 

Thứ tư, kiểm chứng tại chỗ. Cần có chuyến kiểm tra định kỳ và thủ tục kiểm tra bổ sung khi xuất hiện nghi vấn có căn cứ. Thỏa thuận phải quy định thời hạn trả lời, phạm vi tiếp cận, cách bảo vệ bí mật quân sự và biện pháp kiểm chứng thay thế tại những khu vực nhạy cảm. 

Bảo vệ bí mật là yêu cầu chính đáng. Nhưng nếu mọi thông tin quyết định đều được miễn tiếp cận mà không có cách đối chiếu thay thế, kiểm chứng sẽ chỉ còn hình thức bề ngoài. 

Thứ năm, xử lý bất đồng. Đường dây nóng phải đi cùng nghĩa vụ giải thích, thời hạn khắc phục và thủ tục ghi nhận việc trì hoãn hoặc từ chối tiếp cận. Cũng cần quy định việc sửa đổi, đình chỉ và rút khỏi thỏa thuận, để cơ chế không biến mất đúng lúc căng thẳng gia tăng. 

Thứ sáu, thông tin cho xã hội. Có thể giữ kín chi tiết quân sự nhạy cảm, nhưng đồng thời công bố kết luận về mức độ tuân thủ, những vấn đề chưa giải quyết và tình trạng thực hiện kiến nghị. 

Một chuyến tham quan được bố trí sẵn có giá trị ngoại giao. Nó không đủ thay thế quyền kiểm chứng theo thỏa thuận. Khác biệt nằm ở khả năng đặt câu hỏi, đối chiếu khai báo và yêu cầu làm rõ khi phát hiện điều bất thường. 

4. Ai tham gia, và vì sao họ chấp nhận? 

Điểm khởi đầu có thể là hai nhóm ba bên: Campuchia–Trung Quốc–Việt Nam và Lào–Trung Quốc–Việt Nam. 

Nước chủ nhà tham gia vì cơ sở nằm trên lãnh thổ của mình. Trung Quốc tham gia vì các nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến nhân sự, phương tiện và hoạt động hợp tác của họ. Việt Nam tham gia với tư cách nước láng giềng đề nghị được giải quyết những quan ngại an ninh cụ thể. 

Thái Lan có thể được mời nếu các bên thấy cần thiết và đồng thuận. Chuyên gia từ một nước ASEAN được cùng chấp nhận có thể hỗ trợ kỹ thuật. Không nhất thiết bắt đầu bằng một cơ chế đông thành viên; điều cần ưu tiên là nhiệm vụ rõ ràng và quyền tiếp cận có thực chất. 

Trở ngại lớn nhất là động cơ chấp nhận. Lào và Campuchia có thể lo ngại chủ quyền bị soi xét; Trung Quốc có thể không muốn tạo tiền lệ kiểm chứng hoạt động quân sự ở nước ngoài. Một đề xuất khả thi phải giải đáp được những lo ngại ấy. 

Với nước chủ nhà, cơ chế là cơ hội chứng minh họ giữ quyền quyết định và hợp tác quốc phòng không làm phương hại láng giềng. Với Trung Quốc, đó là cách củng cố độ tin cậy của những tuyên bố đã công bố. Với Việt Nam, lợi ích là giảm bất định và phát hiện sớm thay đổi. 

Hà Nội cũng nên sẵn sàng bàn về những biện pháp minh bạch tương xứng đối với các quan ngại chính đáng của đối tác. Có đi có lại không nhất thiết đồng nghĩa với mở cửa mọi cơ sở quân sự: phạm vi phải gắn với từng nguy cơ cụ thể và được thương lượng cân đối. 

Các bên cần đồng thuận khi thiết lập cơ chế. Tuy nhiên, báo cáo kỹ thuật về việc tuân thủ không nên phải được nhất trí từng câu mới được lưu hành. Có thể cho mỗi bên quyền phản hồi và đính kèm ý kiến khác biệt, trong khi vẫn giữ nguyên kết quả quan sát. Nếu bên bị yêu cầu giải trình có thể chặn mọi kết luận bất lợi, giám sát sẽ mất chức năng. 

Lộ trình nên đi từ tham vấn kín, trao đổi thông tin ban đầu, đến thỏa thuận thí điểm có thời hạn và đánh giá lại. Không cần đợi thống nhất mọi vấn đề chiến lược mới bắt đầu một bước giảm rủi ro. 

5. Học cách kiểm chứng từ những tiền lệ khác biệt 

Văn kiện Vienna 2011 của OSCE kết hợp trao đổi thông tin quân sự, thông báo một số hoạt động, quan sát, kiểm tra và thăm đánh giá. Bài học có thể tham khảo là cách nối khai báo với quyền đối chiếu: thông tin chỉ hữu ích khi có thủ tục xem xét nó có phù hợp thực tế hay không. Đây là khuôn khổ cam kết chính trị giữa các nước tham gia OSCE, với phạm vi và ngưỡng áp dụng riêng; không thể đem nguyên mẫu đặt vào Đông Nam Á. Sự tồn tại của nó cũng không có nghĩa kiểm chứng tự đủ sức ngăn xung đột khi ý chí tuân thủ suy giảm. (6) 

Lực lượng và Quan sát viên đa quốc gia tại Sinai, gọi tắt là MFO, giám sát các điều khoản an ninh trong hòa ước Ai Cập–Israel. Theo mô tả nhiệm vụ chính thức, cơ chế có kiểm chứng định kỳ ít nhất hai lần mỗi tháng, trừ khi các bên thỏa thuận khác, và kiểm chứng bổ sung trong vòng 48 giờ sau khi nhận yêu cầu từ một bên. Điều đáng học là mối liên hệ giữa giới hạn lực lượng, quyền kiểm chứng và thời hạn phản ứng. Tuy nhiên, MFO dựa trên một hòa ước và những thỏa thuận riêng, không phải quyền can thiệp tự động của cộng đồng quốc tế. Ream và Ban Keun cần cơ sở đồng thuận của chính mình. (7) 

Hai tiền lệ không cung cấp một “chiếc ô” có sẵn cho Việt Nam. Chúng cho thấy một hướng thiết kế: quy định hành vi trước, tổ chức kiểm chứng sau, rồi gắn phát hiện với trách nhiệm giải trình. Không thể yêu cầu đoàn chuyên gia xác nhận một cơ sở “vô hại” nếu các bên chưa thống nhất thế nào là hành vi vượt giới hạn. 

6. Nếu bị từ chối, Hà Nội vẫn phải hành động 

Cần dữ liệu khả năng đề nghị không được chấp nhận, hoặc chỉ được đáp lại bằng những chuyến thăm mang tính biểu tượng. Từ chối kiểm chứng không tự nó chứng minh ý định tiến công. Nhưng sự bất định còn lại phải được tính vào đánh giá rủi ro và quyết định phòng thủ. 

Trước hết, Việt Nam cần liên tục đối chiếu dữ liệu công khai, ảnh vệ tinh thương mại và thông tin từ các kênh ngoại giao, quốc phòng hợp pháp. Mọi đánh giá nên phân biệt điều đã xác nhận, điều có khả năng và điều chưa biết. Công khai có căn cứ sẽ thuyết phục hơn cả im lặng lẫn báo động thiếu chứng cứ. 

Thứ hai, tiếp tục tham vấn với Lào, Campuchia và các đối tác ASEAN về những thay đổi có thể ảnh hưởng an ninh khu vực. Nếu chưa đạt được thỏa thuận đầy đủ, vẫn có thể đề nghị từng phần: thông báo diễn tập, đầu mối liên lạc, trao đổi dữ liệu hoặc quan sát hoạt động cụ thể. 

Thứ ba, củng cố năng lực phòng thủ và khả năng duy trì hoạt động của các hạ tầng thiết yếu trước những biến động từ nhiều hướng. Ngoại giao kiểm chứng chỉ đáng tin khi đi cùng năng lực tự bảo vệ; nó không thể gánh toàn bộ nhiệm vụ quốc phòng. 

Thứ tư, tạo thêm lựa chọn kinh tế và hợp tác thiết thực cho Lào, Campuchia. Những dự án đáng tin cậy về kết nối, thương mại, đào tạo và sinh kế giúp láng giềng có thêm khả năng tự chủ. Cách tiếp cận ấy đòi hỏi Việt Nam xem họ là đối tác có lợi ích riêng và thực hiện tốt chính những cam kết của mình. 

Cuối cùng là trách nhiệm xuyên nhiệm kỳ. Tuyên bố về xây dựng “Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam–Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược” đã được công bố từ tháng 12/2023, dưới thời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Không thể quy mọi lựa chọn cho một nhiệm kỳ sau đó; cũng không thể từ một tuyên bố chính trị suy ra đã tồn tại bảo đảm quân sự cụ thể. (8) 

Câu hỏi cần đặt ra với các thế hệ lãnh đạo là: những biến đổi trong môi trường an ninh đã được dự liệu đến đâu, quan ngại đã được nêu như thế nào và kết quả xử lý nào có thể báo cáo trước Quốc hội, trước nhân dân? 

Người dân không cần biết mọi chi tiết tác chiến. Nhưng họ có quyền được biết những biến động lớn liên quan đến an ninh đất nước đang được đánh giá và ứng phó trên cơ sở nào. 

Đề xuất đồng giám sát có thể sẽ gặp nhiều trở lực. Giá trị trước mắt của nó là đưa vấn đề ra khỏi thế lựa chọn giữa tin và nghi ngờ, để bước vào thương lượng về nghĩa vụ, quyền tiếp cận và trách nhiệm giải trình. 

Trần Đông A

Tham khảo: 

Từ Ream đến Ban Keun

Từ Ream Đến Ban Keun: Cảnh Báo Việc Chưa Cho Dân Biết Tình Hình (Bình Nguyên)

About the author