
Phần 1
Tác giả là một giáo chức được lịnh nhập ngũ khi chiến tranh bước vào giai đoạn khốc liệt. Ngày 8/3/1965 hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng, mở đầu sự can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ với mục tiêu giúp chấm dứt chiến tranh Việt Nam đã kéo dài từ cuối năm 1946 khi ông Hồ Chí Minh phát động Toàn quốc kháng chiến.
Tháng 3 năm sau (1966) tôi (tác giả) được gọi theo học khóa 22 Sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Sau khi mãn khóa huấn luyện về quân sự và quân báo, tôi được thuyên chuyển về Trung tâm Khai thác Tài liệu Hỗn hợp (Combined Document Exploitation Center viết tắc là CDEC). Đây là cơ quan hỗn hợp Việt Mỹ trực thuộc J2/MAC-V được Hoa Kỳ thành lập năm 1966, để khai thác và nghiên cứu tài liệu Cộng sản, phục vụ cuộc chiến. Nhờ môi trường CDEC, tôi có dịp nghiên cứu cuộc chiến đau thương của dân tộc khi được quân đội bố trí làm công tác nghiên cứu chiến tranh Việt Nam.
Biến cố 30/4/1975 là bước ngoặt lớn của lịch sử đất nước thời cận đại, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã buông súng, chấm dứt cuộc chiến huynh đệ tương tàn…Nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn giữa Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Campuchia (Khmer Đỏ). Sự kiện này xuất phát từ mối bất đồng giữa Hà Nội và Bắc Kinh về chủ trương của hai nước sau khi Hiệp định Paris 1973 ra đời.
Trung Quốc khuyến cáo Việt Nam tạm ngưng chiến, hãy “thư giãn” một thời gian, để Miền Nam Việt Nam, Campuchia và Lào được trung lập. Ông Lê Duẩn bác bỏ đề nghị này, ông cho rằng Việt Nam đã kiên trì chiến đấu chống Mỹ, nay quân xâm lược đã rút khỏi miền Nam, ông sẽ thực hiện mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng xã hội chủ nghĩa. Ông lên án Trung Quốc đã phản bội Cách mạng Việt Nam, hợp tác với Mỹ để trung lập hóa miền Nam Việt Nam là chủ trương của Hoa Kỳ.
Mối xung đột này làm gãy đỗ tình “đồng chí” giữa hai đảng cộng sản Việt – Trung đã kéo dài gần một phần tử thế kỷ. Ngày 18/1/1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay sau đó ông Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh cầu viện Mao Trạch Đông yểm trợ lực lượng Việt Minh kháng chiến chống Pháp. Lúc bấy giờ Pháp đã trao trả độc lập cho Việt Nam qua hiệp ước Élysée ngày 8/3/1949 và yểm trợ Quốc gia Việt Nam thuộc khối Liên hiệp Pháp trong cuộc chiến chống Việt Minh Cộng sản. Còn Mao thì cho rằng: An Nam vốn là thuộc quốc của Trung Hoa đã bị thực dân Pháp cưỡng chiếm hồi giữa thế kỷ trước, nay là cơ hội giúp ông thu hồi lãnh thổ đã mất.
Cuộc xung đột Quốc Cộng ở Việt Nam với sự can dự của Pháp và Trung Cộng, có nguy cơ đưa đến chiến tranh lớn, do đó các cường quốc đã gặp nhau tại hội nghị Genève 1954 để tìm giải pháp chấm dứt cuộc chiến này. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không phải là hội viên Liên Hiệp Quốc nhưng nhờ can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến, nên được mời tham dự hội nghị với 4 Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc là Anh, Pháp, Hoa Kỳ và Liên Xô.
Lần đầu tiên tham dự một hội nghị quốc tế vì mục tiên hòa bình, Trung Quốc đã tế nhị bày tỏ sự tôn trọng đối với các cường quốc, họ cử thủ tướng làm trưởng đoàn, thay vì bộ trưởng Ngoại giao như đại biểu các nước khác. Tháng 6/1954, trong khi tham dự hội nghị Genève, Thủ tướng Chu Ân Lai tranh thủ thời gian đi thăm hai quốc gia trung lập Á Phi -Ấn Độ và Nam Dương. Ông muốn chứng tỏ Trung Quốc đang hướng về các nước Á Phi trung lập, các quốc gia này mới giành được độc lập sau Thế chiến II, họ có xu hướng đứng ngoài cuộc xung đột giữa hai cường lực Liên Xô và Hoa Kỳ.
Thủ tướng Chu Ân Lai đề ra “Năm nguyên tắc sống chung hòa bình” được xem là đường lối đối ngoại của Trung Quốc. Nhờ chủ trương ngoại giao khôn khéo, bốn Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo An đã thỏa thuận với Trung Quốc chấm dứt chiến tranh Đông Dương bằng giải pháp chia nhau ảnh hưởng ba nước ở đây. Hai vương quốc Cam Bốt và Lào trung lập theo chủ trương của Trung Quốc. Việt Nam vì là nơi xảy ra cuộc xung đột Quốc Cộng nên tạm thời bị chia cắt ở vĩ tuyến 17, hai miền Nam Bắc thuộc ảnh hưởng của Hoa Kỳ và Liên Xô. Tháng 4/1955 Chu Ân Lai tham dự hội nghị đầu tiên các nước Á Phi được triệu tập ở Bandung (Nam Dương). Tại đây, năm nguyên tắc sống chung hòa bình của Bắc Kinh được 29 nước Á Phi thừa nhận.
Năm 1960 Hà Nội phát động cuộc chiến giải phóng Miền Nam mà họ gọi là thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Bắc Việt xử dụng lãnh thổ Nam Lào xây dựng đường mòn Hồ Chí Minh để vận chuyển người và vũ khí vào chiến trường miền Nam. Các cường lực lại gặp nhau tại hội nghị Genève năm 1962 về Lào, để tái xác nhận quy chế trung lập của Lào nhưng Hà Nội vẫn tiếp tục xâm phạm nền trung lập của Lào. Sau đó họ lại xâm phạm nền trung lập của Cam Bốt, xây dựng căn cứ địa ở đây để làm bàn đạp tấn công miền Nam Việt Nam.
Nam Việt Nam là khu vực ảnh hưởng của Hoa Kỳ đã được các cường quốc phân chia hồi năm 1954, nay ông Hồ Chí Minh nêu ra nghĩa vụ dân tộc, phát động chiến tranh giải phóng Miền Nam để thống nhất đất nước.Trong khi đó, lãnh tụ Liên Xô -Khruschev chủ trương “chung sống hòa bình” với Mỹ, nhưng công khai ủng hộ Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến đấu vì nghĩa vụ dân tộc. Liên Xô tin tưởng ông Hồ Chí Minh có thừa khả năng động viên lòng yêu nước của nhân dân, sẽ đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi Đông Dương và Đông Nam Á.
Hành động của Khruschev là sự thách thức đối với Mỹ bắt buộc họ phải can thiệp như họ đã từng làm khi Cộng sản Bắc Triều Tiên đưa quân xâm chiếm Nam Triều Tiên hồi năm 1950. Mỹ đã can thiệp để bảo vệ phần đất ảnh hưởng của mình, sau đó Hồng quân Trung Quốc nhảy vào cuộc chiến đối đầu với Hoa Kỳ. Lần này Hoa Kỳ cũng phải đưa quân vào Nam Việt Nam để bảo vệ khu vực ảnh hưởng của mình nhưng do dự vì sợ phải đối đầu với Trung Cộng một lần thứ hai.
Đối với Trung Cộng, năm 1950 nhờ can thiệp vào chiến tranh Đông Dương, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dù mới ra đời chưa đầy 5 năm, nhưng được các cường quốc mời tham dự hội nghị Genève 1954. Nay ông Hồ Chí Minh phát động cuộc chiến giải phóng Miền Nam, đây là cơ hội Trung Cộng sẽ lợi dụng nhằm tranh thủ Mỹ giúp họ tạo uy thế lớn trên chính trường quốc tế. Do đó khi Hà Nội gây chiến ở miền Nam Việt Nam, Mao Trạch Đông đã khuyến khích Mỹ nhảy vào cuộc chiến để Trung Quốc có cơ hội đảm nhận vai trò lớn trong việc mang lại hòa bình cho thế giới.
Tháng Giêng năm 1965 Mao đã nhắn khéo Washington qua người bạn lâu đời là nhà báo Mỹ Edgar Snow: “Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng, chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu. Đánh nhau ngoài biên giới của mình là phạm tội ác”.
Được Trung Quốc bất đèn xanh, Hoa Kỳ không còn sợ một trận Triều Tiên thứ hai, đầu tháng 3/1965 họ đưa quân chiến đấu đến Nam Việt Nam. Liên Xô kêu gọi các nước xã hội chủ nghĩa thống nhất hành động, thành lập “Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ”…Nhưng Bắc Kinh bác bỏ đề nghị của Liên Xô trong đó có việc xây dựng sân bay và lập cầu không vận xuyên qua lãnh thổ Trung Quốc để vận chuyển vũ khí giúp Bắc Việt. Bắc Kinh thuyết phục Hà Nội tách rời khỏi quỹ đạo Liên Xô, đừng để cuộc chiến giải phóng miền Nam Việt Nam bị đồng hóa với cuộc tranh giành ảnh hưởng của hai siêu cường Nga Mỹ. Mao Trạch Đông lợi dụng sự can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam để giương lá cờ chống bá quyền, bảo vệ nền độc lập các nước dân tộc chủ nghĩa hay Thế giới thứ ba mà Trung Quốc tự nhận là người lãnh đạo.
Tại hội nghị Genève 1954 chấm dứt chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Trung Quốc đã tranh đấu để hai nước Cam Bốt và Lào được trung lập. Nay, trong cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai, nhiều nước trung lập và không liên kết đều có chủ trương trung lập Miền Nam Việt Nam để chấm dứt cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Liên Xô ở Việt Nam….Nhưng các thế lực này không có ảnh hưởng lớn như Trung Quốc. Bắc Kinh dựa vào khuynh hướng chung của các nước này được coi như thuộc Thế giới thứ ba, đề ra giải pháp trung lập miền Nam Việt Nam, sẽ giúp Mỹ chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Với chủ trương chống chủ nghĩa đế quốc của hai siêu cường, uy tín của Trung Quốc ngày càng mở rộng, từ 47 nước hồi đầu thập niên 1960, Bắc Kinh lần lần thiết lập bang giao với 117 nước trong những năm 1970. Về phần Mỹ, để nâng cao uy tín của Bắc Kinh trên chính trường thế giới, góp phần với Mỹ giải quyết chiến tranh Việt Nam, năm 1971 họ không dùng quyền phủ quyết, chấp nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) trong tổ chức Liên Hiệp Quốc theo quyết nghị 2758 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 25/10/1971.
Thay thế Trung Hoa Dân Quốc ở Liên Hiệp Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đương nhiên trở thành Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo An, ngang hàng với Liên Xô và Hoa Kỳ. Vô hình trung, Hoa Kỳ đã giúp Trung Quốc thực hiện chiến lược “tam phân thiên hạ” như thời Tam Quốc. Ngày nay họ sẽ chuyển đổi cục diện thế giới từ thế “lưỡng cực” (Hoa Kỳ – Liên Xô) từ sau Thế chiến II trở thành thế “tam cực” (Hoa Kỳ-Liên Xô-Trung Quốc). Đó là thế “ba chân vạc”, ba cường lực tôn trọng lẫn nhau, không đối đầu, chung sống hòa bình, mở ra một thời kỳ hòa hoãn, hợp tác và chấm dứt chiến tranh Việt Nam.
Cuối tháng Hai năm sau -1972, tổng thống Nixon đến Bắc Kinh gặp Mao. sau đó đến Moscow gặp lãnh tụ Liên Xô Breznhev để thảo luận việc bình thường hóa mối quan hệ Đông Tây, dựa trên cơ sở: ba cường lực thế giới chấp nhận nguyên tắc bất can thiệp, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc. Đó là giải pháp công bằng giúp các cường quốc rút khỏi các địa bàn tranh chấp, tạo bầu không khí hiểu biết lẫn nhau để phát triển mối dây thân hữu, các bên đều có lợi.
Kết quả của việc bình thường hóa quan hệ Đông Tây là Hiệp định chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/1/1973. Đây là một hiệp ước hòa bình trong danh dự, không làm mất thể diện bất cứ bên nào trong cuộc chiến. Công việc miền Nam Việt Nam do chính quyền hai bên ở đây giải quyết, không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Tháng 6 năm 1973, thủ tướng Chu Ân Lai đến Hà Nội, ông nhắc lại những lời đã nói với Lê Duẩn và thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy tháng trước khi họ đến Bắc Kinh: “Trong một thời gian chưa thể dứt khoát là 5 năm hay 10 năm, Việt Nam và Đông Dương nghỉ ngơi được thì càng tốt; tranh thủ thời gian đó, nhân dân miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia thực hiện hòa bình trung lập một thời gian”. Trung Quốc hứa sẽ tiếp tục viện trợ cho Hà Nội một ngân khoản lớn trong 5 năm để tái thiết đất nước sau chiến tranh.
Miền Nam Việt Nam trung lập là giải pháp của Trung Quốc nhằm giúp Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh Việt Nam, cũng có nghĩa là chấm dứt sự xung đột giữa Hoa Kỳ với Liên Xô. Hai bên chấm dứt đối đầu, mở ra một kỷ nguyên mới hòa bình, hợp tác, hai bên đều có lợi. Mục tiêu của Hoa Kỳ sau Hiệp định Paris 1973 là các nước Đông Dương sẽ là những quốc gia độc lập, trung lập như 5 nước ASEAN lúc bấy giờ.
Cộng sản Việt Nam đã chiến đấu suốt 20 năm, kháng chiến chống Pháp để giành độc lập, chống Mỹ để thống nhất đất nước và mục tiêu cuối cùng là xây dựng xã hội chủ nghĩa. Họ không thể chấp nhận giải pháp trung lập miền Nam, nên ông Lê Duẩn khước từ khuyến cáo của Chu Ân Lai. Ông quyết tâm giải phóng miền Nam, sau khi Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam.
Tiên liệu mối xung đột mới giữa Hà Nội và Bắc Kinh, nên Hoa Kỳ tìm cách sớm chấm dứt sự can dự ở Việt Nam để chiến tranh Việt Nam bước vào một bước ngoặt mới: Cộng sản Việt Nam đối đầu với đàn anh Trung Cộng. Ngày 29/6/1973, Quốc hội Mỹ thông qua dự luật chuẩn chi viện trợ cho nước ngoài, kèm theo một Tu chính án quan trọng của hai Thượng nghị sĩ Clifford K. Case và Frank Church. Đạo luật qui định: “Không có một kinh phí nào cho việc yểm trợ trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động của Mỹ trên lãnh thổ, trên không hoặc ngoài bờ biển Cam Bốt, Lào, Bắc và Nam Việt Nam. Sau ngày 15/8/1973 không có kinh phí nào được cấp trước đây theo bất cứ đạo luật nào khác có thể được chi cho mục đích như vậy”.
Năm tháng sau, ngày 7/11/1973 Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật về quyền Chiến tranh: “Cấm tổng thống Hoa Kỳ đưa Quân lực Mỹ đi chiến đấu ở nước ngoài hơn 60 ngày, nếu không được Quốc hội cho phép”. Thượng nghị sĩ Frank Church còn giải thích rõ: “Oanh tạc trở lại hay lấy bất cứ hành động gây chiến nào khác tại Đông Dương mà không được sự chấp nhận trước của Quốc hội sẽ là vi phạm luật pháp và tạo ra một hoàn cảnh có thể đưa tới sự truy tố”.
Tu chính án Case-Church, theo nhận xét của tướng Westmoreland -nguyên Tư lịnh Quân lực Mỹ ở Việt Nam từ 1964 đến 1968 thì “Hoa Kỳ đã bật đèn xanh cho Bắc Việt và là dấu hiệu bỏ rơi Miền Nam Việt Nam”.Trước viễn cảnh này, tháng Giêng năm 1974 Trung Quốc liền chớp thời cơ đánh chiếm đảo Hoàng Sa từ nay Việt Nam Cộng Hòa, trước khi Hà Nội cưỡng chiếm miền Nam, đưa Việt Nam vào quỹ đạo Liên Xô.
Quốc hội Mỹ, ngoài việc trói tay tổng thống Nixon và áp lực ông từ chức vì vụ Watergate, họ còn giảm dần viện trợ cho miền Nam tự do. Ngày 15/11/1973 Hạ Viện ấn định mức viện trợ quân sự tối đa cho Việt Nam Cộng Hòa là 1126 triệu đô la so với tài khóa trước là 2270 triệu, nhưng khi chung quyết, Quốc hội lại cắt giảm thêm chỉ còn 900 triệu đô la. Đến tháng 8/1974, sau khi tổng thống Nixon từ chức, Quốc hội Mỹ lại cắt giảm quân viện cho Việt Nam Cộng Hòa tài khóa 1975 chỉ còn 700 triệu đô la thay vì 1 tỉ mà tổng thống Nixon đã ký mấy ngày trước đó, nhưng khi chung quyết chỉ còn 600 triệu đô la.
Vì quân viện của Mỹ giảm quá nhiều, bắt buộc tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải rút bỏ phân nửa lãnh thổ phía Bắc của Việt Nam Cộng Hòa tử giữa tháng 3 năm 1975. Hậu quả, chỉ trong vòng hơn nửa tháng sau đó, 5 sư đoàn bộ binh, các đơn vị không quân, hải quân và toàn bộ lực lượng địa phương quân, nghĩa quân và nhiều đơn vị tổng trừ bị, tổng cộng trên 270 ngàn quân đã tan rã. Một tỉ đô la vũ khí đạn dược, 5 thành phố và 16 tỉnh lọt vào tay Cộng quân vì sự rút quân không có kế hoạch của tổng thống Thiệu.
Với thắng lợi bất ngờ này, Hà Nội quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh “giải phóng Sài Gòn”. Ngoài các đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam, Hà Nội còn điều động thêm 4 quân đoàn tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Giữa tháng 4/1975 Cộng quân đã tiến đến Xuân Lộc, cửa ngõ phía Bắc Sài Gòn. Ngày 21/4/1975 tổng thống Thiệu từ chức, ngày 23/4 tại Đại Học Tulane (New Orleans) tổng thống Gerald Ford tuyên bố: “Hôm nay, nước Mỹ có thể lấy lại niềm tự hào đã có trước ở Việt Nam. Nhưng điều đó không thể đạt được bằng cách chiến đấu trở lại một cuộc chiến mà Hoa Kỳ coi như đã xong rồi”. (Today, America can regain the sense of pride that existed before Vietnam. But it cannot be achieved by refighting a war that is finished as far as America is concerned”.
Chiến tranh Việt Nam đối với Hoa Kỳ đã chính thức kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi đại sứ Martin chấp hành mệnh lệnh của Washington lên trực thăng trên nóc Toà Đại sứ Mỹ rời Sài Gòn. Và cuộc chiến bảo vệ miền Nam Tự do của người lính Cộng Hòa cũng chấm dứt khi đại tướng Dương Văn Minh -tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa ra lịnh binh sĩ ngưng chiến đấu, mời Chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (Mặt trận Giải Phóng Miền Nam) vào Sài Gòn để ông bàn giao chính quyền nhưng bất thành. Cuối cùng, ông chịu nhục, tuyên bố miền Nam đầu hàng để chấm dứt chiến tranh, đất nước thống nhất.
**********
Phần 2
Sau ngày 30/4/1975 một chương mới của lịch sử đã mở ra với Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba giữa các nước cộng sản, báo hiệu ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản đã gần kề. Chiến tranh Đông Dương lần này xuất phát từ sự xung đột giữa hai đảng Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Campuchia (Khmer Đỏ) do Pol Pot làm tổng bí thư. Mối xung đột này đã manh nha từ hơn một thập niên trước, khi Hà Nội sử dụng đất Cam Bốt làm căn cứ địa để làm bàn đạp tấn công Việt Nam Cộng Hòa. Trong thời gian này, Hà Nội đã xâm phạm nặng nề chủ quyền xứ Chùa Tháp, giúp người dân Khmer xây dựng chính quyền và lực lượng vũ trang thân Việt Nam.
Sự xung đột càng phát triển mạnh sau khi Hiệp định Paris 1973 ra đời, chính quyền Nixon sử dụng B52 dội bom các căn cứ địa của Khmer Đỏ để áp lực Pol Pot ngồi vào bàn đàm phán với Cộng Hòa Khmer dưới sự lãnh đạo của tổng thống Lon Nol được Mỹ ủng hộ, để chấm dứt chiến tranh ở Campuchia như ở Miền Nam Việt Nam và Lào.
Pol Pot tố cáo Hà Nội đã phản bội Cách mạng Campuchia, thỏa hiệp với Mỹ chấm dứt chiến tranh Việt Nam, tạo cơ hội để Mỹ dùng vũ lực tiêu diệt Lực lượng Giải phóng Dân tộc Campuchia do Khmer Đỏ lãnh đạo. Hoa Kỳ đã oanh tạc Campuchia trong 6 tháng liền kể từ khi hiệp định Paris được ký kết cho đến ngày 15/8/1973, là thời hạn cuối cùng mà chính quyền Nixon phải chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Đông Dương theo lịnh của Quốc hội.
Vào thời điểm này, Hà Nội khước từ đề nghị của Chu Ân Lai để Campuchia, Lào và Miền Nam Việt Nam được trung lập, nên Bắc Kinh ra sức ủng hộ Pol Pot củng cố lực lượng tiến đến bao vây Phnom Penh, đồng thời yêu cầu bộ đội Cộng sản Việt Nam phải rút khỏi Campuchia.
Ngày 1/4/1975 tổng thống Lon Nol từ chức và xuất ngoại. Ngày 17/4/1975 Hoa Kỳ chính thức chấm dứt sự can dự ở Cam Bốt, Pol Pot tiến vào Phnom Penh, xóa bỏ Cộng hòa Khmer, thành lập nhà nước Campuchia Dân chủ. Hai tuần sau, những gì xảy ra ở Phnom Penh đã tiếp diễn ờ Sài Gòn với sự cáo chung của Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30/4/1975.
Mười ngày sau, Khmer Đỏ bắt đầu gây hấn với Việt Nam, ngày 10/5/1975 họ đánh chiếm đảo Thổ Chu, mở đầu chiến tranh ở biên giới Tây Nam giữa Việt Nam và Campuchia. Sau đó, Hà Nội gia nhập khối COMECON do Liên Xô lãnh đạo, đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đầu tháng 11/1978 ông Lê Duẩn đến Moscow ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác với Liên Xô để đương đầu với “Tập đoàn phản động Bắc Kinh đang hình thành một liên minh với chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai phát xít, chĩa mũi nhọn vào hệ thống xã hội chủ nghĩa”. Đó là tuyên bố của Tổng bí thư Lê Duẩn trong lễ ký hiệp ước Xô Việt ngày 3/11/1978 với Brezhnev.
Dựa vào hiệp ước này, hai tháng sau vào mùa Giáng sinh 1978, Hà Nội xua quân vào Phnom Penh lấy cớ giúp nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, xóa bỏ nhà nước Campuchia Dân chủ được Bắc Kinh hậu thuẫn.
Hành động trên khiến Bắc Kinh quyết định thiết lập bang giao với Washington ngày 1/1/1979. Đánh dấu mối quan hệ Mỹ-Trung, cuối tháng Giêng năm 1979, Đặng Tiểu Bình đi thăm Hoa Kỳ. Ông kêu gọi hình thành thế Liên minh Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Thế giới thứ ba, để chống mưu đồ bành trướng bá quyền Liên Xô. Trong cuộc gặp riêng tổng thống Jimmy Carter, Đặng cho biết sẽ dạy Việt Nam -tên tiểu bá quyền khu vực Đông Nam Á, một bài học. Điều này đã xảy ra ngày 17/2/1979, Đặng ra lịnh mở cuộc tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam.
Những sự kiện trên diễn ra sau ngày 30/4/1975, lúc bấy giờ cá nhân tôi cũng như các chiến hữu đã bị Cộng sản tập trung trong các trại cải tạo, phần lớn ở miền Bắc. Cuối tháng 11/1982 tôi được phóng thích, đầu năm 1984 tôi vượt biển đến được bến bờ tự do. Từ tháng 10/1984 tôi được định cư ở Sydney Úc Đại Lợi và bắt đầu viết bản tường trình, báo cáo đến các chiến hữu và đồng bào, công trình nghiên cứu của tôi về chiến tranh Việt Nam đã được quân đội Cộng hòa giao phó trước đây.
Đây là bản nghiên cứu tổng kết cuộc chiến Việt Nam trong bối cảnh cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Liên Xô tức Chiến tranh Lạnh. Tôi tiên liệu cục diện đất nước sau biến cố 30/4/1975 sẽ trải qua hai giai đoạn: Thắng rồi sẽ Bại và Mất rồi sẽ Còn, nên đặt tựa đề bản tường trình là Việt Nam Thắng và Bại -Mất và Còn xuất bản hồi tháng 10 năm 1987.
Tôi coi việc Hoa Kỳ bỏ rơi Miền Nam Tự do, giúp Hà Nội giành cái Thắng là thủ đoạn của Mỹ khiến đối thủ của họ trong Chiến tranh Lạnh là Liên Xô sẽ phải gánh lấy cái Bại. Điều này đã xảy ra hồi cuối năm 1991. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga Xô Viết, Đảng Cộng sản Liên Xô đã cáo chung, kết thúc Chiến tranh Lạnh.
Từ vế thứ nhất Thắng và Bại dẫn đến vế thứ hai Mất và Còn: sau khi Liên Xô tiêu vong, quốc hiệu mới của Nga không còn 4 chữ xã hội chủ nghĩa, trở thành Cộng hòa Liên bang Nga. Quốc kỳ thời cộng sản có hình búa liềm với ngôi sao trên nền đỏ đã hạ xuống ở Điện Kremlin, được thay bằng lá cờ truyền thống của Nga trước Cách mạng Tháng Mười 1917 với ba màu trắng-xanh-đỏ. Đó là ý nghĩa ba chữ “Mất và Còn”.
Về Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba, trong hồi ký, ông Trần Quang Cơ -cựu Thứ trưởng Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tiết lộ: “Năm tháng trước khi Việt Nam rút hết quân, ngày 30/4/1989 Phnom Penh quyết định đổi tên nước “Cộng hòa Nhân dân Campuchia” thành “Nhà nước Campuchia”. Ngày 18/10/1991 khi Việt Nam không còn can thiệp được vào các quyết định của Phnom Penh, Campuchia đã sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng từ bỏ xã hội chủ nghĩa: chấp nhận kinh tế thị trường tự do và hệ thống chính trị đa đảng. Tên nước, quốc kỳ, quốc ca, ngày quốc khánh thời Sihanouk được đưa ra dùng trở lại. Hai chữ “cách mạng” trong tên gọi Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia, đảng mà Cộng sản Việt Nam giúp dựng lên, đã được bỏ đi”.
Ông Trần Quang Cơ còn cho biết: “Từ giữa tháng 9/1991, Hun Sen bốn lần từ chối tiếp “người thầy vĩ đại của mình”. Sau 13 năm làm “thái thú” ở Campuchia, ông Ngô Điền phải rời Phnom Penh mà không được một viên chức Campuchia nào đưa tiễn”.
Sau chiến tranh, Hun Sen đã trở mặt phản bội đối với “người thầy vĩ đại của mình” đưa đất nước của ông vào con đường độc lập tự chủ. Hun Sen còn gián tiếp “dạy” người thầy vĩ đại của mình bài học làm Cách mạng. Đó là Luận án Tiến sĩ về Khoa học Chính trị năm 1991 của thủ tướng Hun Sen tựa đề: “Tính đặc thù của quá trình cách mạng Cam-pu-chia” do Giáo sư Nguyễn Đức Bình thuộc Học viện Nguyễn Ái Quốc bảo vệ.
Trong Luận án trên. thủ tướng Hun Sen đã viết: “Giải pháp chính trị đưa đến chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, chấm dứt sự đe dọa từ bên ngoài đối với độc lập chủ quyền của Campuchia thì có thể nói rằng, nhiệm vụ dân tộc đã hoàn thành một bước quan trọng. Giải pháp là một sự thỏa hiệp và sự thỏa hiệp ở đây bước đầu là nhằm chấm dứt cuộc xung đột vũ trang, tạo lập hòa bình và hòa hợp dân tộc. Như vậy các chính đảng thôi đánh nhau bằng vũ trang, phải sống chung, nhưng vẫn tiếp tục đấu tranh với nhau dưới những hình thức khác: chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa…trong cùng một khuôn khổ xã hội, do đó sẽ nẩy sinh lập tức hệ thống đa đảng, đa nguyên chính trị. Đây là cái giá mà cách mạng phải trả vì hòa bình, vì lợi ích của nhân dân. Vai trò của Đảng sẽ không như trước kia, vì phải mất đi vai trò độc quyền lãnh đạo”. (Luận án, trang 117, đoạn chữ in đậm là của Hun Sen).
*
Đối với Việt Nam, việc Mất và Còn đã diễn tiến ra sao? Sau cái Thắng của cộng sản, dẫn đến cái Mất của 3 nền Cộng Hòa trước đó: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam khi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời. Chính vì mục tiêu “xã hội chủ nghĩa” khiến đất nước sau ngày 30/4/1975 trở thành đấu trường của cuộc xung đột giữa 3 nước Cộng sản anh em (Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc) trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba.
Khi cuộc chiến này sắp kết thúc, năm 1989 Campuchia đã từ bỏ xã hội chủ nghĩa, chấp nhận kinh tế thị trường tự do và hệ thống chính trị đa đảng…Nhưng Việt Nam vẫn kiên trì với xã hội chủ nghĩa để duy trì sự độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Do đó, đầu tháng 9/1990 tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và thủ tướng Đỗ Mười đến Thành Đô gặp hai đồng nhiệm Trung Quốc là Giang Trạch Dân và Lý Bằng, để nối lại mối bang giao thân hữu Việt Trung dù trước đó hai bên đã công kích nhau nặng nề. Trung Quốc lên án Việt Nam là phường vong ân bội nghĩa, còn Hà Nội tố cáo Bắc Kinh là bá quyền bành trướng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
Tại Thành Đô, Việt Nam đề nghị Trung Quốc đảm nhận vai trò lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa chống đế quốc Mỹ. Hai nước dàn xếp giúp Hun Sen hợp tác với Pol Pot để chấm dứt cuộc chiến ở Campuchia…Nhưng Giang Trạch Dân cho biết, Trung Quốc không còn chống đế quốc mà đang tranh thủ Mỹ giúp Trung Quốc gia nhập WTO. Còn chiến tranh Campuchia, Bắc Kinh đã đồng thuận với Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đưa cựu hoàng Sihanouk lãnh đạo một hội đồng tối cao có sự tham dự của bốn bên Campuchia để giải quyết cuộc chiến.
Giang Trạch Dân cho rằng, lập trường của Việt Nam và Trung Quốc nay đã khác nhau, nên mối quan hệ hai nước không còn là đồng chí nữa, chỉ là láng giềng hữu nghị mà thôi. Tuy nhiên, thấy được ý đồ của Hà Nội muốn hợp tác với Bắc Kinh để duy trì sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, nên Trung Quốc đề ra “Thập lục tự phương châm “Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan” để làm nền tảng cho mối quan hệ mới Việt Trung.
Phương châm này được Việt Nam diễn dịch là “16 chữ vàng: Láng giềng hữu nghị, Hợp tác toàn diện, Ổn định lâu dài, Hướng tới tương lai”. Một nước nhỏ hợp tác toàn diện lâu dài với một nước lớn “sông liền sông, núi liền núi” cùng chung lý tưởng cộng sản, cùng chung vận mệnh, chỉ là sự lệ thuộc để duy trì sự lãnh đạo lâu dài của đảng cộng sản mà thôi. Có lẽ vì thế, ông Nguyễn Cơ Thạch -Ủy viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, kiêm nhiệm Bộ trưởng Ngoại giao Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thập niên 1980, đã nhận xét: “Một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm đã bắt đầu”. Sở dĩ nguy hiểm vì đây là ý muốn của giới lãnh đạo đảng cộng sản, chớ không phải của người dân Việt Nam.
Đạt được mục tiêu Việt Nam hợp tác toàn diện lâu dài, Bắc Kinh vẽ bản đồ hình lưỡi bò chiếm gần toàn bộ diện tích Biển Đông. Dựa vào đó, Trung Quốc thường xuyên xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở thềm lục địa. Điển hình là ngày 1/5/2014 họ đưa Giàn khoan dầu HD 981 vào thềm lục địa Việt Nam. Bị dân Việt biểu tình phản đối, tờ Hoàn Cầu Thời Báo -phụ bản của Bắc Kinh Nhật Báo, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, thừa nhận biển Đông là của Việt Nam nhưng trong Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai -thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc tháng 9 năm 1958, đã công nhận biển Đông là lãnh hải của Trung Quốc. Họ cho rằng Việt Nam còn nợ Trung Quốc 870 tỉ đô la, đó là chiến phí mà họ đã chi để giúp Việt Nam đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, phải rút khỏi Việt Nam, và sau đó giúp Việt Nam đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi Đông Dương.
Theo Luật Biển 1982 của Liên Hiệp Quốc, bờ biển Việt Nam dài 3260 cây số, bề ngang thềm lục địa 200 hải lý (320 cây số), diện tích biển Việt Nam rộng trên 1 triệu cây số vuông, gấp 3 lần lãnh thổ đất liền. Thềm lục địa Việt Nam với tài nguyên phong phú là hướng phát triển tương lai của đất nước nhưng đã rơi vào tay Trung Quốc. Chủ quyền Việt Nam ở đây kể như đã mất, chỉ còn phần lục địa rộng 360 ngàn cây số vuông lệ thuộc toàn diện vào Bắc Kinh.
Tên nước vẫn còn nhưng chủ quyền quốc gia kể như đã mất, nhưng có điều may mắn là Việt Nam còn có Hiệp định Paris 1973. Gần 6 vạn binh sĩ Mỹ đã tử trận ở Việt Nam để giúp Việt Nam chấm dứt cuộc chiến tàn khốc đã kéo dài gần 30 năm, từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946. Hiệp định dựa trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam, nay là của toàn dân Việt Nam vì đất nước đã thống nhất từ ngày 30/4/1975.
Các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam là nội dung Chương 1 của Hiệp định Paris 1973, chỉ có một điều khoản duy nhất là Điều 1: “Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève năm một ngàn chín trăm năm mươi tư (1954) về Việt Nam đã công nhận”.
Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc đã ký Hiệp định Genève 1954 và ký bản Định ước của Hội nghị Quốc tế về Việt Nam đầu tháng 2/1973 có sự chứng kiến của ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc.Kurt Waldheim. Hội nghị tuyên bố tán thành và ủng hộ các bên ký Hiệp định Paris 1973 thi hành triệt để hiệp định này. Ba cường lực Mỹ, Nga, Tàu đã tạo thế “Ba chân vạc thế giới” để chấm dứt chiến tranh Việt Nam, mang lại hòa bình cho thế giới mà ba bên đều có lợi.
Cộng sản Việt Nam đã chung thủy với Liên Xô, sau khi giải phóng Miền Nam, đưa cả nước vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo. Hành động này mang tiếng phản bội đàn anh Trung Quốc, khiến Đặng Tiểu Bình bình thường hóa bang giao với Mỹ, thành lập Liên minh chống bá quyền Liên Xô và tấn công Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Gorbachev -lãnh tụ cuối cùng của Liên Xô phải đổi mới chính trị, chấp nhận tổng tuyển cử tự do để người dân bầu quốc hội và nguyên thủ quốc gia với danh xưng tổng thống. Sau đó, quốc hiệu Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga cũng được thay bằng Cộng hòa Liên bang Nga như thời trước Cách mạng tháng Mười 1917.
Để bảo vệ chủ quyền đất nước ở biển Đông, trước thái độ bá quyền, bành trướng của Bắc Kinh, người Việt cầu mong giới lãnh đạo Đảng Cộng sản hãy hành xử như Gorbachev: thay đổi thể chế, tổ chức các cuộc bầu cử dân chủ tự do. Chính phủ do dân, của dân và vì dân sẽ giải tỏa những hệ lụy, ân oán giữa hai đảng cộng sản Việt Trung từ bấy lâu nay. Hai nước duy trì trở lại tình hữu nghị đã có từ ngàn xưa, qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn thời tự chủ.
Những ràng buộc, ân oán giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra từ đầu năm 1950 khi ông Hồ Chí Minh đến Bắc Kinh cầu viện Mao Trạch Đông ủng hộ Việt Minh trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ngay sau đó, Mao đặt hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây làm hậu phương, cung cấp lương thực vũ khí, đạn dược cho bộ đội Việt Minh. Các đơn vị lớn như các Đại đoàn 304, 308, 316, 320 được lịnh vượt biên giới sang Trung Quốc để tái huấn luyện và nhận trang bị những loại vũ khí mới.
Nhờ can thiệp vào cuộc chiến Việt Nam, các cường quốc mời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tham dự hội nghị Genève 1954. Họ thỏa thuận chia nhau ảnh hưởng ở ba nước Đông Dương để chấm dứt chiến tranh: miền Bắc Việt Nam (Liên Xô), miền Nam Việt Nam (Hoa Kỳ), Cam Bốt và Lào trung lập (Trung Quốc).
Sau hiệp định Genève 1954, tình hình thế giới đi vào giai đoạn hòa hoãn: Trung Quốc bắt đầu tiếp xúc với Mỹ ở Warsaw (Ba Lan). Liên Xô chủ trương chung sống hòa bình với Mỹ. Còn Hà Nội chuẩn bị chiến tranh giải phóng miền Nam. Để tranh thủ sự ủng hộ của Bắc Kinh, tháng 9/1958 qua Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi thủ tướng Chu Ân Lai, Hà Nội thừa nhận lãnh hải của Trung Quốc ở biển Đông.
Trong khi đó, từ cuối thập niên 1950, sự xung đột Nga Hoa về ý thức hệ bắt đầu bùng nổ. Bắc Kinh bước vào một giai đoạn lịch sử mới: vừa chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ vừa chống chủ nghĩa xét lại Liên Xô. Bắc Kinh mở ra một cuộc tranh luận công khai với Mạc tư Khoa về đường lối cách mạng thế giới, lôi kéo các đảng cộng sản khác cô lập Liên Xô. Mao phát động một chiến dịch rộng lớn với tiêu đề “Đấu tranh phê phán chủ nghĩa xét lại hiện đại trong Phong trào Cộng sản Quốc tế mà trung tâm là Liên Xô”. Mao coi đây là cuộc đấu tranh của những người Mác Xít chính thống chống tà giáo.
Mao chỉ trích đường lối xét lại của Moscow khi Khrushchev tuyên bố: “Liên Xô ngày nay đã trở thành một quốc gia của toàn dân, không còn giai cấp nữa”. Theo quan điểm của Mao “Người cộng sản không được quên đấu tranh giai cấp. Đấu tranh giai cấp vẫn còn phải tiếp tục trong cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Ông lên án những người cộng sản ở Liên Xô “làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mà không biết giai cấp tư sản ở đâu? Nó đang ở trong đảng cộng sản, nó chính là những kẻ cầm quyền đưa đảng đi vào con đường tư bản, nó vẫn còn đang đi”.Sự chia rẽ Nga hoa đã tác động đến nội tình Cộng sản Việt Nam, dẫn đến vụ án “Xét lại chống Đảng” từ tháng 9/1963. Đến tháng 12, trong hội nghị Trung ương 9 Khóa 3, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ… đã phê phán chủ trương chung sống hòa bình. Hội nghị kết thúc với nghị quyết xác định lập trường đứng về phía Trung Quốc, lên án “chủ nghĩa xét lại Khrushchev, đẩy mạnh công cuộc đấu tranh bằng vũ lực ở miền Nam.
*********
Phần 3
Hai nạn nhân của vụ án Xét lại chống Đảng là Trần Đĩnh -tác giả quyển Đèn Cù và Vũ Thư Hiên –tác giả quyển Đêm Giữa Ban Ngày. Theo họ, vụ án này được chính quyền Hà Nội gọi là “Vụ án tổ chức chống Đảng, chống Nhà nước ta, đi theo chủ nghĩa xét lại hiện đại và làm tình báo cho nước ngoài” mang mã số X77. Đây là một vụ án chính trị do Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn trực tiếp chỉ đạo đưa đến việc bắt giam không xét xử nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao động Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Việc thanh lọc để bắt giữ những nhân vật bất đồng chính kiến trong vụ án được diễn ra từ giữa năm 1967 -thời điểm Hà Nội thảo bản Nghị quyết 14 ban hành vào đầu năm 1968, định hướng cho cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Trong thời gian này, Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều vắng mặt, họ bị phe chủ chiến áp lực phải rời khỏi nước đến Hung Gia Lợi và Bắc Kinh với lý do để bồi dưỡng sức khỏe
Ba tháng sau trận Tổng công kích Tết Mậu Thân, cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khai diễn ở Paris từ ngày 13/5/1968. Đây là cơ hội, Trung Quốc đề ra khái niệm “Ba thế giới” để giúp kết thúc chiến tranh Việt Nam. Theo Mao Trạch Đông, Việt Nam là nơi tranh giành ảnh hưởng của hai thế giới Tự do và Cộng sản. Giải pháp chấm dứt chiến tranh là hai thế lực trên ngưng yểm trợ con bài của họ, để Việt Nam đứng về Thế giới Thứ ba -các nước dân tộc chủ nghĩa.
Với hiệp định Paris 1973, Trung Quốc đã góp phần chấm dứt sự xung đột Nga Mỹ, mở ra một giai đoạn lịch sử mới, hòa bình hợp tác giữa ba thế lực lớn của thế giới, cả ba đều có lợi…Nhưng Việt Nam không đồng tình với chủ trương của đàn anh Trung Quốc, hai bên trở thành thù địch, đối đầu trong chiến tranh Đông Dương lần thứ ba. Khi cuộc xung đột giữa Liên Xô và Hoa Kỳ (Chiến tranh Lạnh) chấm dứt, Việt Nam trở lại hợp tác toàn diện với Trung Quốc vì hai nước cùng chung lý tưởng, cùng chung vận mệnh.
Trung Quốc đã giúp Việt Nam trong chiến tranh chống thực dân đế quốc, nhưng khi Pháp, Mỹ đã rút khỏi Việt Nam, những người lãnh đạo lại phản bội Trung Quốc, vì thế khi Hoa Kỷ chuyển trục trở lại châu Á, Hà Nội tỏ ra dè dặt với Bắc Kinh. Ngày 31/5/2013, trước sự hiện diện của đại biểu 31 quốc gia tham dự Diễn đàn Đối thoại Shangri-La ở Singapore, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cổ vũ việc hợp tác quốc tế, xây dựng khu vực Châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và phát triển, dựa vào ASEAN và vai trò lớn của hai cường quốc. Đó là Trung Hoa đang trỗi dậy mạnh mẽ và Hoa Kỳ một cường quốc Thái Bình Dương.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định “Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không liên minh với nước này để chống nước khác”. Đó là “chủ trương ba không” của Việt Nam trong mối quan hệ với hai cường quốc Hoa Kỳ và Trung Quốc mà mục tiêu chính là trấn an Bắc Kinh để Hà Nội thực hiện chủ trương đổi mới chính trị.
Đầu năm mới 2014, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài viết được coi là thông điệp đầu năm của lãnh đạo nhà nước, đề cập đến việc Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân. Ông thừa nhận “dân chủ và nhà nước pháp quyền là cặp song sinh trong một thể chế chính trị hiện đại” và dân chủ là “xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của xã hội loài người”.
Trong nỗ lực xây dựng nhà nước pháp quyền, ông Dũng vạch ra vai trò của “Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật, pháp luật phải bảo đảm được công lý và lẽ phải. Mọi hạn chế quyền tự do của công dân phải được xem xét cẩn trọng và chủ yếu nhằm bảo vệ tổ quốc, bảo đảm an ninh quốc gia. Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép”.
Để phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trương: “Phải mở rộng dân chủ trực tiếp và hoàn thiện cơ chế bầu cử quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Nhà nước phải tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường; kiểm soát chặt chẽ và xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp cũng như những cơ chế chính sách dẫn đến bất bình đẳng trong cạnh tranh. Nhà nước phải bảo đảm và phát huy được quyền làm chủ thực sự của người dân, nhất là quyền tham gia xây dựng chính sách, quyền lựa chọn người đại diện cho mình và quyền sở hữu tài sản”.
Ngày 31/1/2014 đầu năm Giáp Ngọ, nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc, chủ tịch Trương Tấn Sang đã gián tiếp ủng hộ thông điệp Đổi mới thể chế của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng qua lời chúc Tết “Tôi kêu gọi “đồng bào, đồng chí và chiến sĩ cả nước đoàn kết một lòng, đồng tâm hiệp lực, đem tất cả tinh thần và sức lực, trí tuệ và tài năng đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hành dân chủ rộng rãi với tư tưởng pháp quyền tiến bộ…”. Một điểm khác thường là lời chúc Tết năm 2014 của Chủ tịch nước, ông không có một lời nào đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng quên luôn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà chỉ nhấn mạnh vấn đề “thực hành dân chủ” và “tư tưởng pháp quyền tiến bộ”.
Tiếp đến, vào ngày 5/3/2014, trên trang Web của Chủ tịch Trương Tấn Sang lẫn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều xuất hiện một bài viết tựa đề “Việt Nam có cần một nguyên thủ như Putin?” Khởi đầu bài viết là câu hỏi “Vì sao một nước yếu kém, tan rã, nước Nga trở nên hùng mạnh như ngày hôm nay? Vì sao từ một quốc gia nghèo đói, chỉ cần khoảng 30 năm, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore đã trở thành những quốc gia hưng thịnh hàng đầu thế giới, còn Việt Nam thì không? Và câu trả lời ngắn gọn, vỏn vẹn chỉ có 6 chữ: “chính cơ chế của chúng ta”.
Lãnh đạo nhà nước và chính phủ giải thích: “Nhà nước được phân tán ra làm ba nơi: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đó là cơ chế rất tốt cho tất cả các quốc gia trong thời đại ngày nay nhưng thực ra không phải như vậy. Vì mô hình nhà nước (ta) và thể chế còn nhiều bất cập: Hiến pháp quy định “Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Vậy thì không có một con người cụ thể nào lãnh đạo, không thể tự quyết và cuối cùng không cá nhân nào chịu trách nhiệm!
Ở Việt Nam có thể nói bốn người nắm giữ quyền lực cao nhất đó là: Tổng bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội. Nhìn vào đây có thể thấy, 4 chức vụ này lại không phù hợp với tam quyền! Tổng Bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương lãnh đạo triệt để và toàn diện quân đội có vẻ rất mâu thuẫn với quy định Chủ tịch nước thống lĩnh lực lượng vũ trang. Thủ tướng đứng đầu Chính phủ nhưng cũng không đủ quyền để tự quyết định chính sách mà phải thực hiện theo các nghị quyết của Quốc hội, của Đảng. Đôi khi không tránh khỏi việc Đảng làm thay Nhà nước. Những bất cập này dẫn đến hiện tượng chồng chéo giữa trách nhiệm và thẩm quyền của các cơ quan ban ngành của Đảng và Nhà nước. Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền sửa đổi Hiến pháp, thế nhưng để sửa đổi Hiến pháp phải chờ nghị quyết của Đảng.
Nếu tiếp tục vận dụng các quy định lỗi thời khó có thể hy vọng đổi mới, hoàn thiện tổ chức hoạt động của bộ máy Nhà nước một cách có hiệu quả. Để đưa đất nước phát triển hùng mạnh và thịnh vượng, thì tại sao chúng ta không tiếp tục cải cách mạnh mẽ thể chế để tạo ra cơ chế cá nhân lãnh đạo và phải chịu trách nhiệm? Tại sao chúng ta không cải cách mạnh mẽ thể chế để nguyên thủ Việt Nam có đủ toàn quyền để làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân như Putin đã từng làm?
Hoài bão Việt Nam có một Putin của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bất thành vì thời cơ chưa đến. Ông rút lui không tranh chức tổng bí thư với ông Nguyễn Phú Trọng. Trong Đại hội Đảng XI năm 2011, ông Trọng được bầu làm tổng bí thư và tái đắc cử trong Đại hội Đảng XII năm 2016. Ngày 23/10/2018 sau khi chủ tịch Trần Đại Quang qua đời, ông được Quốc hội khóa 14 bầu làm Chủ tịch nước.
Năm 2021, trong Đại hội Đảng XIII, ông Trọng tái đắc cử tổng bí thư nhiệm kỳ ba. Tháng 9/2023, mười tháng trước khi qua đời (19/7/2024) ông đã mời tổng thống Joe Biden viếng thăm Việt Nam. Hai nhà lãnh đạo đã nâng cấp quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, không qua Đối tác Chiến lược bình thường, nhằm cân bằng bang giao Việt Nam với Nga và Trung Quốc.
Trong thời gian lãnh đạo, với sự tiếp tay của Đại tướng Tô Lâm -Bộ trưởng bộ Công An, ông Trọng đã thực hiện chiến dịch chống tham nhũng, mang lên “Chiến dịch đốt lò”, khiến hàng ngàn quan chức cao cấp bị điều tra, bắt giữ hoặc thôi các chức vụ. Trong đó, 11 Ủy viên Bộ Chính trị đã bị phát hiện dính líu đến các vụ án tham nhũng, ông Đinh La Thăng -Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh bị kết án 30 năm tù. Ngoài ra, 10 người khác 1 người bị cách chức, 2 người bị cảnh cáo và 7 người buộc phải thôi chức, trong đó có 2 chủ tịch nước, thủ tướng, 2 phó thủ tướng, chủ tịch Quốc hội, thường trực ban bí thư phải từ chức khi chưa hết nhiệm kỳ.
Ngoài ra, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng còn để lại một dấu ấn về chính sách đối ngoại, được gọi là “ngoại giao cây tre”, với nét đặc trưng “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”.Việt Nam dựa theo cung cách hành xử của Trung Quốc, Nga và Mỹ trong bối cảnh quốc tế đầy biến động. để có sách lược linh hoạt, mềm dẻo phù hợp, nhằm bảo vệ lợi ích đất nước (độc lập tự chủ).
Trong cuộc chiến Ukraine hiện nay, Tập Cận Bình ủng hộ Putin và tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng thông qua đối thoại, còn Donald Trump kết thân với Putin để chấm dứt cuộc chiến này. Trong khi NATO và EU ủng hộ tổng thống Ukraine -Zelensky chống Nga, thì Donald Trump muốn EU và NATO không dựa vào Hoa Kỳ, mà tự chủ về kinh tế và quốc phòng, trở thành một thế lực đối trọng với Mỹ lẫn Nga.
Đó cũng là giải pháp giúp chấm dứt chiến tranh Ukraine, NATO và EU không còn đối đầu với Nga sẽ mang lại hòa bình ở Âu châu. Mục tiêu của Donald Trump là tạo dựng một trật tự thế giới mới, trong đó Hoa Kỳ, Trung Quốc và Âu Châu vừa hợp tác để hưởng lợi vừa kềm chế lẫn nhau để bảo vệ hòa bình thế giới, mà điểm nóng hiện nay là Trung Đông.
Vì lợi ích chung, Tập Cận Bình và Putin sẽ phải hợp tác giúp Trump chấm dứt sự xung đột ở vùng Vịnh Ba Tư, không để Iran có vũ khí nguyên tử. Giới lãnh đạo Iran sẵn sàng tử vì đạo, với quyết tâm tiêu diệt Do Thái, nếu họ có vũ khí nguyên tử, chiến tranh nguyên tử sẽ xảy ra ở Trung Đông, có nguy cơ đưa đến Thế chiến thứ ba, nhân loại bị hủy diệt vì vũ khí nguyên tử.
Trong bối cảnh xung đột Mỹ-Trung về chiến tranh thương mại, Việt Nam không theo Trung Quốc chống Mỹ mà cũng không dựa vào Mỹ chống Trung Quốc, Việt Nam sẽ hướng về Nga, theo gương Nga thay đổi thể chế để phục vụ cho lợi ích dân tộc. Đại tướng Tô Lâm có đủ uy thế để thực hiện mục tiêu này.
Ngày 22/5/2024, ông được Quốc hội khóa 15 bầu làm chủ tịch nước, sau khi ông Võ Văn Thưởng từ chức. Chưa đầy ba tháng sau, trong Hội nghị Trung ương bất thường khóa XIII ngày 3/8/2024, ông được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm tổng bí thư, kế nhiệm ông Nguyễn Phú Trọng từ trần 2 tuần trước đó. Ông kiêm nhiệm chức chủ tịch nước đến tháng 10/2024, lúc bấy giờ để cân bằng thế lực trong giới lãnh đạo, tổng bí thư là đại tướng công an, thì chủ tịch nước phải là một đại tướng quân đội. Do đó Quốc hội đã bầu Đại tướng Lương Cường nguyên là Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội làm chủ tịch nước.
Tháng 1/2026 trong Đại hội XIV, ông Tô Lâm được bầu làm tổng bí thư. Đến đầu tháng 4, Quốc hội –“cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” đã bầu ông làm chủ tịch nước. Đây là thời cơ giúp ông Tô Lâm đưa đất nước bước vào một thời đại mới: độc lập, tự chủ hoàn toàn, tự do phát triển kinh tế. Để thực hiện mục tiêu này, ông sẽ vận động Đảng và Quốc hội đổi mới thể chế chính trị như nước Nga thời hậu cộng sản: nguyên thủ quốc gia là tổng thống được dân trực tiếp bầu, tên nước là Cộng hòa Liên bang Nga (không còn 4 chữ “xã hội chủ nghĩa”).
Quốc hiệu Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng sẽ không còn bốn chữ “xã hội chủ nghĩa”. Vì nó đã tạo ra xung đột trong nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa, khiến chế độ cộng sản cáo chung ở Liên Xô và các nước Đông Âu, tệ hại nhất là Việt Nam có nguy cơ bị Hán hóa.
Lúc sinh thời, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhận định: “Xây dựng xã hội chủ nghĩa là một công trình lâu dài, không biết đến cuối thế kỷ này đã hoàn thiện hay chưa?”. Nhưng đó là mục tiêu của Đảng, nên Đảng đã dành cho cán bộ đảng viên nhiều đặc quyền đặc lợi, dẫn đến tình trạng tham nhũng tràn lan, ngày càng phát triển. Do đó trong những năm tháng cuối đời, ông tập trung vào việc “đốt lò’ nhằm rửa sạch phần nào vết nhơ của Đảng. Có thể đây là hành động tạ lỗi với nhân dân, để người kế nhiệm chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng?
Xóa bỏ 4 chữ xã hội chủ nghĩa, quốc hiệu mới của đất nước là Cộng hòa Việt Nam như thời trước ngày 30/4/1975 với 3 nền Cộng Hòa (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng Hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam). Ba chính quyền Cộng hòa này đã ký với Hoa Kỳ Hiệp định Paris 1973 để chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình ở Việt Nam.
Có người cho rằng hiệp định Paris 1973 chỉ là tờ giấy lộn đã bị ném vào sọt rác của lịch sử. Lập luận này vô tình đã nhục mạ tiền nhân, nhiều triệu chiến binh các bên Việt Nam đã thương vong trong cuộc chiến kéo dài gần nửa thế kỷ (1946-1991) để nhân dân được quyền quyết định vận mệnh dân tộc. Và quốc tế tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của đất nước là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập năm 1945 với Quốc hội đầu tiên năm 1946 theo thể chế dân chủ….Nhưng đến năm 1960, Đảng phát động chiến tranh giải phóng Miền Nam thì dân chủ không còn mà là đảng chủ, và “Đảng chủ” cũng sẽ không còn, chỉ còn Việt Nam Cộng hòa và nguyên thủ quốc gia trong tương lai là tổng thống do dân trực tiếp bầu chọn.
Nửa thế kỷ sau biến cố 30/4/1975, lịch sử Việt Nam và thế giới đều đổi chiều, quốc hiệu cũng đảo ngược. Việt Nam Cộng Hòa của hai miền Nam Bắc trở thành Cộng Hòa Việt Nam. Chỉ trừ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam đã góp phần chấm dứt chiến tranh, thống nhất đất nước trong hòa bình, nên danh xưng không còn hai chữ Miền Nam, chỉ còn Cộng Hòa Việt Nam.
*
Trong sách tường trình với các chiến hữu về cuộc chiến đau thương của dân tộc, tôi đã trình bày vế thứ nhất Việt Nam: Thắng và Bại. Trong chiến tranh, thắng bại là lẽ thường tình, nhưng trong chiến tranh Việt Nam -đấu trường của cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Hoa Kỳ từ sau Thế chiến II, thắng bại là thủ đoạn của Hoa Kỳ. Cuộc xung đột kéo dài gần 30 năm (1946-1975) đưa đến kết quả trong vòng 15 năm. Năm 1975 Cộng sản Việt Nam thắng, năm 1991 Cộng sản Liên Xô sụp đổ. Đó là lý do khiến Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam tự do hồi tháng 4 năm 1975.
Nay tôi trình bày tiếp vế thứ hai Việt Nam: Mất và Còn. Sự tồn vong của đất nước là điều quan trọng thiêng liêng, cần phải tìm hiểu suốt chiều dài của lịch sử, bắt đầu từ cuối thập niên 1910 khi Hoa Kỳ, Liên Xô đều xuất hiện trong năm cuối của Thế chiến thứ nhất (1914-1918) và ông Hồ Chí Minh dấn thân vào con đường chính trị vào thời điểm này. Và cá nhân tôi trở thành người viết sử bất đắc dĩ khi ghi lại các hoạt động của ba nhân tố trên đã tác động nặng nề đến đất nước ta. Âu đó cũng là cái nghiệp, tôi có cơ may nối bước cụ Trần Trọng Kim viết tiếp quyển Sử lược Việt Nam thời cận và hiện đại từ năm 1920 đến ngày nay.
Phần 4
Cụ Trần Trọng Kim (1883-1953) đã viết quyển Việt Nam sử lược khởi đầu từ họ Hồng Bàng thời đại Thượng cổ đến thời đại thứ năm cận kim kể từ vua Gia Long triều Nguyễn cho đến thời Pháp đô hộ, xuất bản năm 1920. Sau 31 năm làm việc trong giáo giới, đến năm 1942 mới được về hưu. Cụ tâm sự “tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, nhưng năm 1943 các xứ Đông dương đều bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt bị đói, đau khổ đủ mọi bề, lại căm hận về thực trạng đất nước trong sáu bảy chục năm qua bị đè nén bởi ách bảo hộ của thực dân Pháp, nên ai cũng muốn nhân cơ hội này dựa vào Nhật để giành lại nền độc lập”.
Trái với xu hướng trên, cụ nhận định: “Nhật là một nước Á Đông, nhưng về sau đã theo Âu- hóa, dùng những phương pháp quỉ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc. Họ dùng khẫu hiệu “đồng minh cộng nhục” và lấy danh nghĩa “giải phóng các dân tộc bị hà hiếp” nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lực về mình. Đó là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay; dùng những lời nhân nghĩa để nhử người ta vào tròng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là chính nghĩa cả”.
Cuộc đời có nhiều việc trớ trêu, cụ Trần Trọng Kim vốn không có thiện cảm với Nhật nhưng họ lại sắp xếp đưa cụ làm thủ tướng! Phải chăng đó là do Thiên định giúp cụ làm tròn cái nghiệp của mình? Dù đã nghỉ hưu, tuổi cao sức yếu, song vì trách nhiệm đối với đất nước, không thể từ chối được, cụ phải nhận trọng trách do nhà vua giao phó. Âu đó cũng là định số, một nhà giáo đức độ, tác giả các quyển Việt Nam Giáo Khoa Thư, chứa đựng những bài học luân lý đạo đức, trở thành vị thủ tướng đầu tiên của nước nhà vừa được độc lập.
Năm 1949, cụ viết quyển Kiến-Văn-Lục, ghi những việc cụ đã làm và chứng kiến trong 6 năm từ 1943 đến 1949, “song vì những việc ấy có lắm việc truân chuyên và nhiều nổi đoạn trường” nên cụ đặt nhan đề là Một Cơn Gió Bụi cho hợp cảnh. Ở tuổi cuối đời, cụ Trần Trọng Kim -người làm chính trị bất đắc dĩ, đã trở lại thiên chức viết sử. Cụ đã viết quyển Việt Nam Sử Lược từ thời Hồng Bàng đến năm 1920 vào thời Pháp thuộc. Nay cụ viết tiếp lịch sử dưới dạng hồi ký trong giai đoạn từ năm 1943 đến năm 1949 với tư cách một nhân chứng lịch sử.. Đây là buổi giao thời, chế độ thực dân vừa cáo chung, Bảo Đại -ông vua cuối cùng của triều đại phong kiến đã thoái vị, chuyển sang chế độ cộng sản.
Trong “Mấy lời ngỏ cùng độc giả” quyển Ký-Văn-Lục, cụ tâm sự: “Cuộc đời tôi đã trải biết bao những nỗi đau buồn khổ sở, làm cho tôi chán nản hết cả mọi điều, chỉ mong được yên tỉnh mà ngấm cảnh đời cho qua ngày qua tháng, chứ không muốn dính dáng đến hành động gì cả. Thế mà tự đâu nó bắt buộc tôi làm những việc tôi không muốn làm. Hình như ngoài cuộc nhân sinh vật chất của người ta, có cái thế lực u uẩn, huyền bí, an bài hết cả mọi việc theo cái nghiệp của từng người, giống như một tấn tuồng sắp đem ra diễn, đã có người xếp đặt đâu đấy cả rồi, ai đóng vai trò nào là phải đóng cho hết trò, chứ không từ chối được. Nhà triết học nói đó là cái nhân quả tự nhiên của các sự vật, chứ không có gì lạ.Nói đúng lắm, song tìm cho ra cái nhân và biết được cái quả không phải là việc dễ.
Tôi tin ở trong vũ trụ có cái linh quang bao hàm hết thảy vạn vật. Mà vạn vật sở dĩ có là vì có cái linh quang ấy. Cái linh quang ấy, ta gọi là Phật, là Trời là Đạo là Chúa; chỉ có cái tên khác nhau mà thôi, nhưng cái thực là một. Ở trong người ta, thì cái linh quang ấy gọi là tâm, là chủ sự hành động của ta. Ai ai cũng có cái tâm ấy song vì tình dục và sự thiên tư mà thành ra sai biệt khác nhau.
Nếu cái tâm ta mà chân chành ngay chính, thì tự khắc là Phật, Trời ở đó. Vậy nên bất cứ việc gì tôi cũng lấy cái tâm làm chủ. Nay tôi đưa những chuyện của tôi đã làm và đã biết theo đúng cái tâm của tôi mà nói ra, không kiêng dè, che đậy, không thêu dệt thêm bớt, cốt để người ta biết được sự thực.
Dù những sự thực ấy có động chạm đến ai, thì cũng xin thể tất cái tấm lòng thành thực của tôi mà đừng chấp trách. Ấy là tôi ở cái tâm công minh của mọi người”.
Viết tại Nam Vang ngày mồng 4 tháng Tư năm Kỷ Sửu tức là ngày mồng một tháng Năm, 1949.
“Tấn tuồng sắp đem ra diễn” mà cụ Trần đê cập, theo tôi, chính là tấn tuồng Việt Nam mà tôi gọi là “Tấn thảm kịch Việt Nam” với những nhân vật điển hình như Bảo Đại, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu, Dương Văn Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm….Mỗi người tùy theo cái nghiệp xuất phát từ cái tâm thiên tư hay thiên về tình dục, đã phải đóng cho hết vai trò của mình, trên sân khấu (chính trị) Việt Nam trong thế kỷ vừa qua..
“Cái thế lực u uẩn, huyền bí” mà cụ Trần đã đề cập, theo thiển ý của tôi, chính là hai thế lực đã chế ngự thế gian này trong thế kỷ vừa qua, đó là Hoa Kỳ và Liên Xô. Giữa thế kỷ trước, hai thế lực này vừa mới xuất hiện, chưa lộ rõ chân tướng của nó, nên cụ Trần chỉ mường tượng đó là thế lực huyền bí, vô hình. Và vì thế “Tìm cho ra cái nhân và biết được cái quả không phải là việc dễ”.
Ngày nay hầu như mọi người đều đã thấy rõ bộ mặt thật của hai cường lực này đã tác động và gây tai hại nặng nề cho đất nước ta, nên việc tìm cho ra cái Nhân và biết được cái Quả là điều cần thiết. Ghi lại lịch sử thời cận và hiện đại, chúng tôi muốn giúp người đọc chiêm nghiệm được lẽ huyền vi của quy luật nhân quả, vay trả, trả vay của lịch sử qua những biến động lớn ở Việt Nam dính líu đến ba cường lực Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc. Mối quan hệ đó rất phức tạp, liên hệ chồng chéo nhau, tạo ảnh hưởng và hậu quả khôn lường khiến cục diện Việt Nam và thế giới thay đổi liên tục lớn lao.Vì sự dính líu của nhiều thế lực quốc tế vào Việt Nam, nên quyển Sử lược Việt Nam thời cận và hiện đại cũng là quyển Thế giới sử Tóm lược đề cập đến ba cường lực Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc can dự vào Việt Nam với mưu đồ lợi dụng vì quyền lợi của đất nước họ và kết quả ra sao?
Theo nhà báo lão thành Nguyễn Tú (1924-2010), “Lịch sử ghi lại những sự kiện xảy ra theo đúng nguyên trạng, từ đó các sử gia sắp xếp có suy nghĩ để tạo thành một toàn cảnh chung, giúp họ nhìn thấy rõ các sự kiện trong tiến trình xảy ra mà viết thành sử. Việc sắp xếp các sự kiện lịch sử để tạo dựng lại được một cách trung thực dù là tương đối một giai đoạn lịch sử khả tín, các sử gia không khỏi vấp phải những chỗ trống nan giải, lúc này đành phải để chữ “tồn ngh” chưa chắc chắn để người sau bổ túc.
Tuy nhiên, lịch sử -bất luận ở thời đại nào, bất cứ ở nơi đâu, xưa nay đều không bao giờ có chuyện “ngẫu nhiên”. Lịch sử -theo một quy luật bất di bất dịch là luật “nhân quả”. Lịch sử đứng trên tất cả vì tinh chất vô tính, vô tình và vô thần của nó. Lịch sử cũng không cần được ban cho hai chữ “khách quan”. Lịch sử là lịch sử thế thôi”.
Trong quyển sử này tác giả viết lịch sử chỉ dưới khía cạnh nhân quả mà thôi, để góp phần giải đáp những vấn nạn do cụ Trần Trọng Kim đề cập từ 75 năm trước (1949): “Tìm ra cái nhân và biết được cái quả không phải là việc dễ” trong bối cảnh đất nước ta là đấu trường của cuộc xung đột giữa hai chủ nghĩa đối lập: tư bản và cộng sản, trước 1991 là giữa Hoa Kỳ với Liên Xô và ngày nay là giữa Trung Quốc với Hoa Kỳ..
*
Đất nước ta từng trải qua nhiều giai đoạn nghiệt ngã, hiểm nguy, nhưng đều vượt qua, tồn tại và phát triển không ngừng. Đồng bào tin tưởng đó là nhờ Hồn thiêng sông núi độ trì. Từ đó, họ luôn tin tưởng ở tương lai tươi sáng qua những cảm nghĩ như “Hết cơn bĩ cực đến hồi thới lai”, “Hết cơn mưa trời lại sáng” hoặc “Tiền hung hậu kiết”. Họ tin tưởng ở luật Nhân Quả, gieo nhân lành, gặt quả tốt, tạo thành bản chất nhân hậu hướng thiện của dân tộc, Họ nhắc nhở nhau ăn ở làm sao cho có hậu. Vì thế bất kể câu chuyện nào kết thúc có hậu đều được đồng bào ta tán thưởng. Điển hình là tác phẩm Đoạn trường Tân thanh của cụ Nguyễn Du.
Thi hào Nguyễn Du, khi đi sứ bên Tàu đọc được Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, tác giả đời nhà Minh. Cụ cảm hứng viết quyển Đoạn Trường Tân Thanh còn gọi là Truyện Kiều bằng thơ chữ Nôm theo thể lục bát dài 3254 câu. Tác phẩm được đánh giá là một áng văn chương tuyệt tác của nền văn học nước nhà. Đặt tựa đề Đoạn Trường Tân Thanh, theo thiển ý của tôi, cụ Tiên điền muốn gióng lên “Âm vang mới (tân thanh) về nỗi đau thương đứt ruột” của Vương Thúy Kiều theo nếp suy nghĩ và bản chất của dân tộc Việt.
Mở đầu truyện, cụ nêu ra thuyết “tài mệnh tương đố” qua hai câu “Trăm năm trong cõi người ta. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”. Theo thuyết này, số mệnh đã được định trước (định mệnh), con người không thể cưỡng lại được. Hồng nhan luôn gặp gian truân, má hồng thì mệnh bạc, anh hùng thì mệnh đoản hoặc anh hùng đoản tử (chết sớm). Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn nên cuộc đời chịu lắm nỗi gian truân trong suốt 15 năm luân lạc trong chốn giang hồ. Và cuối cùng trầm mình tự vẫn ở sông Tiền Đường, nhưng cuộc đời Kiều chưa chấm dứt nơi đây. Sông Tiền Đường là bước ngoặt đổi đời. Kiều được sư cô Tam Hợp cứu sống, vui hưởng với quãng đời còn lại hạnh phúc, sum họp với gia đình và đoàn tụ với người tình xưa.
Trong giai đoạn hậu Tiền Đường, qua những vần thơ tuyệt tác, cụ Nguyễn Du trình bày cuộc đời Thúy Kiều qua chữ Nghiệp trong triết lý nhân quả của đạo Phật và thuyết Định mệnh hay Thiên mệnh của Khổng Tử là triết lý của đạo Nho. Nhân quả liên quan trực tiếp đến vận mệnh, quyết định họa phúc của mỗi con người…Nhưng dân gian vốn tin tưởng ở một đấng tối cao là trời nên cho rằng số phận của con người do trời định. Muôn sự đều do trời, tại trời. Nhưng trời là một ý niệm trừu tượng, còn con người là cụ thể, hữu hình. Họ tạo nhân gì phải gặt quả nấy, chẳng liên hệ gì đến trời, nên trời “Có đâu thiên vị người nào”.
Đại thi hào của chúng ta đã mượn lời sư cô Tam Hợp để truyền đạt ý tưởng của cụ: “Sư rằng họa phúc đạo trời. Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra. Có trời mà cũng tại ta”. Trời là trừu tượng, họa phúc là do ta, xuất phát từ cái tâm (lòng) của ta. Từ cái nghiệp ảnh hưởng đến vận mệnh do trời định, cụ chuyển dịch sang cái ta mới thực sự làm thay đổi số phận của mình, nhờ có chữ Tâm. Cụ cho rằng “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều” như quan niệm của người đời “Đức năng thắng số”. Đức là do chính ta tạo ra hoặc thừa hưởng từ cha ông, chớ đâu phải do trời.
Từ chỗ mở đầu, đặt tiền đề tài mệnh ghen ghét, đố kỵ nhau, cụ đổi giọng ở phần kết thúc “Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai. Có tài mà cậy chi tài. Chữ tài liền với chữ tai một vần.Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Thúy Kiều vì tài sắc nên gặp cảnh đoạn trường. Tài sắc mang họa chỉ có một, nhưng chữ tâm đem phúc đến ba lần. Nhờ đó Kiều giải tỏa được “phận mỏng”, tạo được “phúc dầy” nên đổi được số trời định.
“Tâm thành đã thấu đến trời. Bán mình là hiếu, cứu người là nhân. Một niềm vì nước vì dân. Âm công cắt một đồng cân đã già! Đoạn trường đã rút tên ra. Duyên xưa tròn trặn, phúc sau dồi dào”
Chữ Tâm sở dĩ quan trọng, vì nó chỉ đạo mọi hành động. Vận mệnh, họa phúc của mỗi người cũng từ đó mà ra. Hiểu được qui luật nhân quả, họa phúc… con người phải dựa vào bản chất thiện có sẳn của mình, thể hiện chữ Tâm, của Phật giáo là từ bi bác ái. Và của Nho giáo là biết đồng cảm thương người, biết lễ nghĩa, phải trái, ý thức thị phi, biết điều khinh trọng, biết sỉ nhục, hổ thẹn…Nhờ đó mới biết cách hành xử ra sao cho phải đạo, tạo phúc cho mình để đức cho con.
Trong Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân không hề đề cập đến chữ Tâm và câu ‘Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Đó là ý tưởng của cụ Nguyễn Du, nói lên bản chất hiền lương, nhân hậu của dân tộc ta mà cụ muốn truyền đạt trong tác phẩm Đoạn trường tân thanh. Giá trị của Truyện Kiều ở chỗ Văn dĩ tãi Đạo” chớ không phải để người đọc “mua vui một vài trống canh” nhưng lời khiêm nhường của tác giả.
Đề cập đến Truyện Kiều, gần một trăm năm trước, nhân kỷ niệm ngày giỗ Nguyễn Du 8/9/1924, học giả Phạm Quỳnh đã có bài phát biểu: “…Hiện nay suốt quốc-dân ta, trên từ hàng thượng-lưu học-thức, dưới đến kẻ lam-lũ làm ăn, bất-cứ già trẻ, lớn bé, đàn ông, đàn bà, ai ai cũng biết truyện Kiều, ai ai cũng thuộc truyện Kiều, ai ai cũng kể truyện Kiều, ai ai cũng ngâm truyện Kiều, như vậy thời ai ai cũng đều hưởng cái công-nghiệp của Cụ Tiên-điền ta…Một nước không thể không có quốc hoa, truyện Kiều là quốc hoa của ta; một nước không thể không có quốc túy, truyện Kiều là quốc túy của ta; một nước không thể không có quốc hồn, truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt-Nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này…”
Cuối bài phát biểu, học giả Phạm Quỳnh kết luận: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin rầu lòng giốc chí gia-công trau-chuốt lấy tiếng quốc-âm nhà, cho quốc-hoa ngày một rực-rỡ, quốc-hồn ngày một tỉnh-táo, quốc-bộ ngày một tấn tới, quốc-vận ngày một vẻ-vang, ngõ-hầu khỏi phụ cái chí hoài-bão của tiên sinh, ngậm cười chín-suối cũng còn thơm lây!”
Trước thảm cảnh của đất nước ngày nay, đọc lại Truyện Kiều tôi liên tưởng đến Đoạn Trường Tân Thanh thời hiện đại. Tiếng Kêu Mới về nỗi đau thương đứt ruột của chiến tranh Việt Nam. Nổi đoạn trường của Kiều chỉ kéo dài 15 năm, trái lại nỗi đau thương của đất nước phải lâu hơn, kéo dài qua nhiều thế hệ.
Đối với Kiều “Người sao hiếu nghĩa đủ đường, Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi” (Câu 2653-54). Còn đất nước với những con dân thấm nhuần đạo lý biết lấy chữ thiện, chữ nhân làm lẽ sống ở đời, cũng gánh chịu đau thương liên tục. Năm 1954, đánh thắng Pháp xong, đất nước lại bị chia đôi! Năm 1975 chiến tranh với Mỹ vừa chấm dứt, xung đột với Cam Bốt và Trung Cộng lại diễn ra. Chiến tranh với Cam Bốt vừa kết thúc, Việt Nam lại bước vào thời Bắc thuộc mới!
Biến cố mới này khiến tôi nghĩ đến lời than vãn lẫn uất ức của cụ Nguyễn Du về số phận hẩm hiu của nàng Kiều: “Chém cha cái số hoa đào. Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi! Nghĩ đời mà chán cho đời, Tài tình chi lắm, cho trời, đất ghen”. (Câu 2151-2154) Trời đất ghen nên cho “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường” khiến Kiều “Lại tìm những lối đoạn trường mà đi”. Để rồi “Hết nạn ấy đến nạn kia. Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” (câu 2665-2668). Thật ra, cũng chẳng có trời đất, ma quỷ gì cả, chỉ có bọn ma đầu, sở khanh cấu kết với bọn ma cô, tú bà lợi dụng thân xác Kiều để trục lợi mà thôi.
Nhìn lại đất nước hồi đầu thập niên 1990, chủ nghĩa Cộng sản đã sụp đổ ngay tại quê hương của những người sáng lập ra nó là Marx và Lenin (Mác-Lê). Nhưng các lãnh tụ Đảng Cộng sản Việt Nam lại đến Thành Đô tôn Trung Cộng làm minh chủ để tiếp tục xây dựng xã hội chủ nghĩa. Lúc trước đã làm chư hầu cho Liên Xô, tự nguyện làm lính đánh thuê để bành trướng và xây dựng xã hội chủ nghĩa, thì chẳng khác nào làm đầy tớ và làm đĩ để nuôi thân. Vừa dứt nạn với Liên Xô lại mắc vào nạn với Trung Quốc!!!
Đối với nàng Kiều “Vô duyên là phận hồng nhan đã đành. Lại mang lấy một chữ tình. Khư khư mình buộc lấy mình vào trong. Vậy nên những chốn thong dong. Ở yên không ổn, ngồi không vững vàng”. (Câu 2660-2664) Còn đối với đất nước, ông Hồ Chí Minh dựa vào Liên Xô và Trung Cộng chiến thắng Pháp ở Điện Biên Phủ, nhưng “vô duyên” ở chỗ hai đàn anh lại thỏa thuận với kẻ thù Anh, Pháp, Mỹ để chia cắt Việt Nam. Đã như vậy, ông Hồ lại mang nặng chữ tình “đồng chí” với các đảng cộng sản anh em, nên khư khư buộc mình vào với họ. Đáng lẽ đất nước từ sau 1954 đã yên ổn vững vàng, hai miền Nam Bắc thong dong xây dựng để chờ ngày thống nhất nước nhà. Đất nước không được may mắn như vậy, chiến tranh lần thứ hai lại diễn ra. Tiếp sau là chiến tranh lần thứ ba. Đúng là “Hết nạn ấy, đến nạn kia”. Cuối cùng đất nước có nguy cơ bị Hán hóa.
Theo thuyết “cộng nghiệp” của đạo Phật thì Việt Nam cộng nghiệp quá nặng. Trước hết là du nhập một chủ nghĩa ngoại lai chủ trương giai cấp đấu tranh, lấy hận thù làm đường hướng chỉ đạo. Nó hoàn toàn trái ngược với truyền thống của tổ tiên “Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Kế đến là định mệnh nghiệt ngã “anh hùng thì mệnh đoản”, nhưng đất nước lại có quá nhiều anh hùng. Việt Nam Anh Hùng. “Ra đầu ngõ là gặp anh hùng”. Trong 3 cuộc chiến đẫm máu từ 1946 đến 1989, có gần hai triệu “anh hùng đoản tử”. Họ còn kéo theo cả triệu đồng bào và những người anh em không đồng chính kiến, cùng chết với họ.
Vì chủ trương hận thù giai cấp, Cộng sản Việt Nam thực hiện chỉ thị của Trung Cộng, thực hiện Cải cách ruộng đất. Tố Hữu, được đề cao là thiên tài thi ca, trưởng ban Tuyên truyền trung ương của đảng đã cổ vũ: “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ. Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong. Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng. Thờ Mao chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”. Trong chiến dịch này, con đấu tố cha, vợ đấu tố chồng, trò đấu tố thầy…xảy ra nhan nhản. Xã hội không còn đạo lý cương thường gì cả. Theo thống kê chính thức, có 172008 người là nạn nhân. Đó là giới “Trí, phú, đia, hào” phải “Cào tận gốc, trốc tận rễ”.
Một nhân tố quan trọng nữa là khi Thế chiến II vừa chấm dứt, thế giới diễn ra cuộc đối đầu giữa Thế giới Tự do và Quốc tế Cộng sản. Ông Hồ Chí Minh, trước đó đã là Ủy viên Quốc tế Cộng sản, dĩ nhiên ông phải dựa vào Liên Xô, Trung Cộng. Đảng Cộng sản Việt Nam phải lệ thuộc vào hai cường quốc Cộng sản này là điều tất yếu. Còn bên Quốc gia, họ không còn con đường nào khác, phải dựa vào Pháp và Mỹ. Dựa vào Mỹ nên bị Mỹ chi phối nặng nề cũng là điều tất yếu. Định mệnh đã an bài như vậy, “Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa” mà hãy tin “Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” mà hành động theo đúng lương tri để phục hưng đất nước.
Tôi viết quyển sử này dựa theo tôn chỉ cụ Trần Trọng Kim khi viết Việt Nam Sử Lược: “Sử là sách không những chỉ để ghi chép những công việc đã qua mà thôi, nhưng lại phải suy xét việc gốc ngọn, tìm tòi cái căn nguyên những việc người xưa đã làm…Chủ đích là để làm cái gương chung cổ cho người cả nước được đời đời soi vào đấy mà biết người đời trước đã phải lao tâm lao lực như thế nào, mới giữ được cái địa vị ở dưới bóng mặt trời này. Người trong nước có thông hiểu những sự tích nước mình mới có lòng yêu nước yêu nhà, để vun đắp thêm vào cái nền xã hội của tiên tổ đã xây dựng để lại cho mình”.
Trong hồi ký Một Cơn Gió Bụi, cụ nhắc nhỡ các thế hệ đi sau, khi viết lại những việc mình đã làm và chứng kiến với cái tâm, nói cho đúng sự thực, thảm trạng của đất nước trong cơn gió bụi của lịch sử.
Riêng cá nhân tôi, là người viết sử, tôi ghi lại trung thực theo cái tâm của mình, một đoạn đường lịch sử đau thương của dân tộc. Những nhân vật chính trị dù bên này hay bên kia chiến tuyến đều được đặt đúng vào vai trò lịch sử của họ, không dùng những danh từ bất kính để bêu xấu họ. Vì quyền lợi tối thượng của tổ quốc, vì thực tâm muốn rút tỉa bài học lịch sử, đôi khi chúng tôi có những phê phán gay gắt, song tận đáy lòng chúng tôi luôn ngưỡng mộ họ. Vì tựu chung trong một bối cảnh lịch sử nào đó, tất cả đều làm hết chức năng của mình với thành tâm thiện chí mang lại những lợi ích tốt đẹp nhất cho đất nước…nhưng hậu quả chung cuộc hình như không đáp ứng với kỳ vọng của con người, vì dù có thiên tài như Marx hay Lenin, họ cũng không tiên liệu được hết những gì sẽ xảy ra ở tương lai. Và họ cũng không thể cưỡng lại định mệnh đã an bài.
Vì tiền đồ dân tộc tôi đã làm hết bổn phận của một người viết sử bất đắc dĩ. Tôi chấp nhận mọi phê phán, chỉ trích của những độc giả bất đồng chính kiến. Tôi mong được sự góp ý của độc giả, giúp tôi hoàn thiện quyển sử này khi được tái bản.
Sydney ngày 30/4/2026
Lê Quế Lâm



