Công Du Bốn Cường Quốc, Tô Lâm Có Thể Phá “Thế Kẹt” Của Việt Nam Đến Đâu? (Hoàng Trường)

Một vòng công du qua bốn cường quốc (Nga, Pháp, Mỹ và Canada) có thể mở rộng “diện” ngoại giao và đem lại những hình ảnh biểu kiến về vị thế quốc tế. Nhưng nó chưa chắc tháo được những “điểm nghẽn” chiến lược của Việt Nam: một Washington ngày càng thực dụng dưới thời Donald Trump, một Bắc Kinh vừa là đối tác lớn nhất vừa là sức ép địa–chính trị thường trực, và những bài toán trong nước mà ngoại giao không thể giải quyết thay.

Hoàng Trường

Bởi vậy, câu hỏi đáng chú ý trước chuyến xuất ngoại lần này không chỉ là Tô Lâm sẽ được đón tiếp ở cấp nào, ký thêm bao nhiêu thỏa thuận hay xuất hiện bên cạnh những nguyên thủ nào (1). Câu hỏi lớn hơn là: ông có thể chuyển những thành quả trên “diện” ngoại giao thành khả năng phá những “điểm kẹt” chiến lược của Việt Nam đến đâu?

Khi “diện” được mở rộng nhưng “điểm” vẫn chưa khai thông

Sau Đại hội XIV, quyền lực của Tô Lâm đã bước sang một giai đoạn khác. Ông không còn chỉ là người tiếp quản một hệ thống đang chuyển giao, mà ngày càng phải chịu trách nhiệm về hướng đi của chính hệ thống ấy. “Kỷ nguyên vươn mình” vì thế cũng dần trở thành một cam kết chính trị gắn trực tiếp với tên tuổi của ông.

Đối ngoại đương nhiên là một trong những không gian thuận lợi nhất để thể hiện vị thế đó.

Việt Nam hiện có một mạng lưới quan hệ quốc tế rộng hơn bất cứ thời kỳ nào trước đây. Quan hệ với các cường quốc được nâng cấp, đầu tư nước ngoài tiếp tục đóng vai trò quan trọng, còn vị trí địa–chiến lược của Việt Nam khiến hầu như mọi trung tâm quyền lực lớn đều muốn duy trì quan hệ với Hà Nội.

Một vòng công du qua bốn cường quốc, nếu thành công, vì vậy có thể giúp Tô Lâm mở rộng đáng kể “diện” ngoại giao (2). Nhưng vấn đề của Việt Nam hiện nay không nằm hoàn toàn ở “diện”. Nó nằm ở một số “điểm” rất khó phá.

Điểm quan trọng nhất là Washington.

Việc Tô Lâm từng gặp Donald Trump tại Nhà Trắng trong khuôn khổ một sự kiện quốc tế không đồng nghĩa với việc hai bên đã tháo được những bất đồng chiến lược. Trong nhiệm kỳ Trump, nghi lễ ngoại giao ít có ý nghĩa nếu phía sau nó không phải là những con số về thương mại, đầu tư, thuế quan và lợi ích an ninh.

Chính quyền Trump đã đặt vấn đề chuyển tải hàng hóa rất rõ: hàng bị xác định chuyển tải nhằm né thuế có thể chịu mức thuế bổ sung 40%. Đằng sau câu chuyện thuế quan là một câu hỏi rộng hơn: Washington muốn biết Việt Nam sẽ trở thành một mắt xích độc lập hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu, hay tiếp tục là nơi nền kinh tế Trung Quốc có thể mở rộng ảnh hưởng và tìm đường tiếp cận thị trường Mỹ.

Bởi vậy, nếu có một cuộc gặp Trump–Tô Lâm trong khuôn khổ chuyến đi lần này, điều đáng quan sát không phải chỉ là cái bắt tay hay thời lượng cuộc gặp, mà là Tô Lâm có mang về được một thay đổi thực chất nào trong cách Washington nhìn Việt Nam hay không.

Nếu “điểm” Washington chưa được khai thông, mở rộng “diện” sang nhiều thủ đô khác khó thay thế được tình thế lưỡng nan.

Đối ngoại có thể gia tăng quyền lực, nhưng không thể thay thế cải cách 

Một câu hỏi khác ít được đặt ra hơn: chuyến công du có ý nghĩa gì đối với vị thế của Tô Lâm trong nước?

Trong các chế độ tập trung quyền lực, thành công đối ngoại thường được sử dụng như một nguồn chính danh. Một nhà lãnh đạo được tiếp đón trọng thị ở các thủ đô lớn có thể tạo ra hình ảnh rằng đất nước đang lên và cá nhân người lãnh đạo đang được quốc tế thừa nhận.

Tô Lâm có lý do để cần nguồn lực ấy.

Những cải cách bộ máy rất mạnh trong thời gian qua đã tạo ra một cấu trúc quyền lực mới, nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít xáo trộn về hành chính, nhân sự và lợi ích. Cùng với đó là những câu hỏi về tăng trưởng, chất lượng thể chế, khu vực tư nhân, tự do xã hội và xu hướng tập trung quyền lực ngày càng rõ.

Một chuyến công du ngoại quốc thành công có thể củng cố hình ảnh của người đứng đầu. Nhưng lịch sử chính trị hiện đại cho thấy một giới hạn khá bền vững: đối ngoại có thể gia tăng uy tín của một nhà lãnh đạo, nhưng hiếm khi chữa được những bế tắc bắt nguồn từ cấu trúc bên trong.

Tô Lâm càng tập trung quyền lực thì nghịch lý ấy càng lớn (3).

Khi quyền lực được phân tán, thành công có nhiều người nhận và thất bại cũng có nhiều nơi chia sẻ. Khi quyền lực tập trung vào một trung tâm, cả thành công lẫn thất bại cuối cùng đều tìm về trung tâm ấy.

Bởi vậy, câu hỏi sau chuyến công du không chỉ là Tô Lâm có trở về với nhiều thỏa thuận hơn hay không. Quan trọng hơn là những thỏa thuận ấy có chuyển hóa thành đầu tư, công nghệ, thị trường và một môi trường phát triển cởi mở hơn hay chỉ bổ sung thêm những thành tích cho hồ sơ đối ngoại.

Ngoại giao có thể mua thêm thời gian. Nhưng nó không thể thay thế cải cách trong nước.

Giữa Trump và Tập… 

Khó khăn lớn nhất đối với Tô Lâm nằm ở chỗ hai sức ép quan trọng nhất đối với Việt Nam lại đến từ hai hướng khác nhau.

Donald Trump nhìn quan hệ quốc tế trước hết qua lợi ích. Với ông, một “đối tác chiến lược toàn diện” vẫn có thể đồng thời là một nước có thặng dư thương mại quá lớn với Hoa Kỳ và phải chịu sức ép thuế quan (4).

Tập Cận Bình nhìn Việt Nam theo một logic khác.

Quan hệ Việt–Trung đã được đặt trong khuôn khổ “Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược”. Tháng 4/2026, hai bên còn nhất trí thúc đẩy khuôn khổ ấy lên một mức cao hơn. Quan hệ giữa hai Đảng, quốc phòng, an ninh, hạ tầng và kết nối kinh tế tiếp tục được mở rộng (5).

Nhưng trong lúc những tuyên bố chính trị ngày càng gần nhau, địa lý lại không thay đổi.

Biển Đông vẫn còn đó. Sự bất cân xứng về quy mô kinh tế và quân sự vẫn còn đó. Mức độ phụ thuộc của sản xuất Việt Nam vào nguyên liệu, máy móc và chuỗi cung ứng Trung Quốc vẫn là một bài toán lớn.

Có lẽ đây là nghịch lý căn bản nhất mà chuyến công du nào cũng khó giải quyết:

Tô Lâm có thể đi rất nhiều thủ đô, nhưng địa lý chiến lược của Việt Nam không di chuyển được đi đâu cả.

Việt Nam cần Trung Quốc, nhưng không thể để sự cần thiết ấy biến thành lệ thuộc. Việt Nam cần Hoa Kỳ, nhưng Washington cũng sẽ không bảo đảm không gian chiến lược cho Hà Nội mà không đặt câu hỏi Hà Nội định đứng ở đâu trong cấu trúc khu vực đang hình thành.

Vấn đề vì thế không còn đơn giản là “cân bằng Mỹ–Trung”. Một quốc gia có thể không chọn phe, nhưng cuối cùng vẫn phải lựa chọn những nguyên tắc và lợi ích nào mình không thể đem ra cân bằng.

Chủ quyền quốc gia là một trong số đó.

“Vươn mình” — nhưng về đâu?

Đợt xuất ngoại lần này còn đáng chú ý vì nó diễn ra trong lúc Tô Lâm muốn đánh dấu sự kết thúc của một kỷ nguyên cũ.

Không nên phủ nhận tham vọng thay đổi ấy.

Từ tinh giản và tái cấu trúc bộ máy đến thúc đẩy kinh tế tư nhân, khoa học–công nghệ, hạ tầng và thu hút đầu tư, có thể thấy người đứng đầu ĐCSVN muốn tạo ra một nhịp phát triển khác. Khẩu hiệu “kỷ nguyên vươn mình” sẽ khó tồn tại lâu nếu không được chuyển thành những kết quả có thể đo đếm.

Nhưng chính tại đây xuất hiện câu hỏi mà chuyến công du bốn cường quốc cũng không thể né tránh:

Việt Nam đang muốn vươn mình theo hướng nào?

Nếu “vươn mình” có nghĩa là một nền kinh tế hiện đại hơn nhưng hệ thống chính trị ngày càng tập quyền hơn (giống mô hình của Tập Cận Bình hơn); hội nhập với phương Tây sâu hơn nhưng quan hệ ý thức hệ và an ninh với Trung Quốc cũng ngày càng chặt hơn; muốn hưởng lợi từ chiến lược Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương nhưng lại tránh xác định giới hạn của sự gắn kết chiến lược với Bắc Kinh, thì những mâu thuẫn ấy sớm muộn cũng sẽ hiện ra.

Washington không nhất thiết yêu cầu Việt Nam chọn Mỹ để chống Trung Quốc. Điều đó cũng không phù hợp với lợi ích lâu dài của Việt Nam.

Nhưng rất khó hình dung một chính quyền Trump đặt lợi ích và cạnh tranh với Trung Quốc ở vị trí trung tâm lại hoàn toàn thờ ơ trước việc Hà Nội vừa muốn hưởng lợi từ thị trường, công nghệ và cấu trúc an ninh do Mỹ cùng các đối tác duy trì, vừa ngày càng đi sâu vào một “cộng đồng chia sẻ tương lai” với Bắc Kinh.

Ở đây có một ranh giới mà ngoại giao khéo léo đến đâu cũng không thể vượt qua.

Đa phương hóa khác với nước đôi, đi hàng hai. Cân bằng khác với không lựa chọn. Và độc lập tự chủ khác với cố gắng làm hài lòng tất cả các phía.

Phép thử thực sự bắt đầu trước khi máy bay trở về

Viết trước một chuyến công du, sẽ là vội vàng nếu tiên đoán thành công hay thất bại.

Tô Lâm hoàn toàn có thể sẽ đạt được những kết quả biểu trưng: thêm đầu tư, thêm thị trường, những thỏa thuận công nghệ, những cam kết chính trị mới và một vị thế quốc tế được củng cố. Trong một thế giới ngày càng phân mảnh, khả năng duy trì quan hệ với nhiều trung tâm quyền lực tự nó đã là một tài sản của Việt Nam.

Nhưng cả bốn chuyến thăm, dù thành công, cũng không tự động phá được “thế kẹt” (6).

Bởi suy cho cùng, thế kẹt ấy cũng không chỉ nằm ở Washington hay Bắc Kinh. Nó nằm ngay trong chính sự lựa chọn mô hình phát triển của Việt Nam (7).

Một Việt Nam muốn hiện đại hóa bằng công nghệ phương Tây nhưng vẫn phụ thuộc sâu vào chuỗi cung ứng Trung Quốc; muốn có vị trí trong một Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương rộng mở (FOIP) nhưng đồng thời ràng buộc ngày càng sâu với Bắc Kinh về tư tưởng, chính trị và an ninh; muốn trở thành một nền kinh tế phát triển nhưng chưa sẵn sàng cải cách tương ứng về thể chế, thì tất yếu, sẽ còn phải đối diện với những giới hạn mà không một vòng công du nào có thể hóa giải.

Vì vậy, có lẽ không nên đặt vấn đề, chuyến đi này giúp Tô Lâm gặp được bao nhiêu nhà lãnh đạo hay ký được bao nhiêu văn kiện.

Hãy chờ xem nó giúp Việt Nam mở thêm được bao nhiêu không gian tự chủ. Và sâu xa hơn, hãy chờ xem Tô Lâm dùng không gian ấy để làm gì. Bởi một nhà lãnh đạo có thể dùng đối ngoại để mở thêm những cánh cửa. Nhưng cuối cùng, đi qua cánh cửa nào vẫn là một lựa chọn chính trị trong nước.

Đó mới là phép thử thực sự của “kỷ nguyên vươn mình”!

Hoàng Trường

Tham Khảo: 

About the author