
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Mỗi nơi tôi đến làm việc đều có cộng đồng người Việt, các tổ chức hoạt động theo mục tiêu, tôn chỉ hướng về quốc nội. Nhờ vậy mà tôi biết rất nhiều người, nhiều tổ chức đang công khai, hoặc âm thầm dấn thân cho mục tiêu dân chủ hóa Việt Nam. Điều khiến tôi chú ý là tuyệt đại đa số những người ấy đều đã có cuộc sống ổn định. Họ có nghề nghiệp, có gia đình, có cơ ngơi và một tương lai khá vững vàng trên đất nước Hoa Kỳ.
Tò mò, tôi hỏi họ “Nếu một ngày Việt Nam thay đổi, các anh chị có trở về quê hương sinh sống không?”. Hỏi nhiều lần và ở nhiều nơi, nhưng hầu như câu trả lời đều chỉ có một: “Không anh!”.
Điều đó không làm tôi ngạc nhiên.
Sau nhiều chục năm định cư, nước Mỹ đã trở thành quê hương thứ hai của họ. Con cái họ sinh ra, lớn lên, học hành và lập nghiệp tại đây. Cuộc sống của họ đã gắn chặt với xã hội Hoa Kỳ. Nếu đặt lên bàn cân giữa điều kiện sống, hệ thống pháp luật, cơ hội phát triển và mức độ bảo đảm phẩm giá con người thì rất ít người có lý do để từ bỏ tất cả để quay về sinh sống tại Việt Nam, cho dù xã hội Việt Nam có thay đổi như thế nào.
Đó chính điều khiến tôi suy nghĩ và trân trọng họ.
Nếu họ không có ý định trở về quê hương, nếu họ không mong đợi lợi ích tại Việt Nam sau khi đất nước chuyển đổi dân chủ hóa thành công, vậy thì điều gì khiến họ vẫn kiên trì dành hàng chục năm trời để tranh đấu?
Họ bỏ tiền túi tổ chức hội họp. Họ dành thời gian vận động chính giới. Họ viết bài, làm truyền thông. Họ xuống đường. Họ tổ chức gây quỹ. Họ hỗ trợ gia đình tù nhân lương tâm. Họ tiếp xúc các tổ chức nhân quyền quốc tế. Họ tham dự các phiên điều trần tại Quốc hội Hoa Kỳ. Họ chịu đựng những cuộc tấn công mạt sát trên mạng, những lời vu khống, thậm chí nhiều người còn bị đe dọa đến thân nhân còn ở trong nước, kể cả mất cơ hội về thăm quê hương, người thân.
Đổi lại, họ nhận được điều gì? Nếu không muốn nói hầu như không có gì cho bản thân.
Nếu nhìn hoàn toàn bằng lăng kính lợi ích vật chất thì thật khó giải thích. Tôi chỉ có thể lý giải bằng một điều rằng họ không có món nợ pháp lý, cũng không có món nợ kinh tế. Họ chỉ có món nợ quê hương, một món nợ tinh thần về nơi họ sinh ra. Có thể là nơi cha mẹ họ nằm xuống, là nơi có nấm mồ tổ tiên, là nơi để lại di sản tiếng Việt…
Và trên tất cả, là nơi hàng trăm triệu đồng bào của họ vẫn đang sống mà chưa được hưởng những quyền tự do căn bản, phẩm giá như chính họ đang được hưởng tại Hoa Kỳ.
Có lẽ vì thế mà họ không đấu tranh để đòi lợi ích cho bản thân sau này. Họ đấu tranh để đồng bào mình còn ở lại trong nước có thể được sống đúng với phẩm giá con người.
Vậy thôi.
Đó mới là điều cần nói về các cá nhân, tổ chức của đồng bào tại hải ngoại.
Những ngày gần đây, tôi rất buồn và ngạc nhiên khi nghe những lời nhận xét rất nặng nề, rằng “phần lớn” các tổ chức chống Cộng tại hải ngoại chỉ là giả danh để trục lợi. Rằng nhiều người là đặc tình của chế độ Cộng sản.
Không ai phủ nhận rằng trong bất kỳ cộng đồng nào cũng tồn tại hiện tượng “vàng thau lẫn lộn”. Trong giới doanh nhân có người làm ăn chân chính và cũng có người lừa đảo. Trong giới luật sư có người bảo vệ công lý và cũng có người vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Trong tổ chức từ thiện có nơi minh bạch và cũng có nơi lợi dụng lòng tốt của người khác.
Thế nên, công cuộc đấu tranh cho dân chủ hóa Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.
Có những tổ chức hoạt động thiếu hiệu quả. Hoặc, thay vì bảo vệ cộng đồng, hướng về quốc nội lại quay ra chống nhau. Có những cá nhân lợi dụng danh nghĩa đấu tranh để đánh bóng tên tuổi hoặc gây quỹ không minh bạch. Thậm chí, cũng có thể có những trường hợp làm đặc tình cho chế độ Cộng Sản.
Đó là sự thật.
Nhưng số đó là bao nhiêu? Đã có những cuộc điều tra, hoặc thống kê chính thức nào để có thể kết luận rằng “phần lớn”, nếu không phải chỉ là sự võ đoán phiến diện! Là người hiểu biết, có tiếng nói thì lại càng phải cẩn trọng ngôn từ như vậy khi phủ nhận nhau.
Hơn thế nữa, cách kết luận ấy còn vô tình phủ nhận công sức của biết bao thế hệ người Việt hải ngoại.
Nếu không có họ, liệu vấn đề nhân quyền Việt Nam có được duy trì liên tục trong chương trình nghị sự của nhiều quốc gia dân chủ suốt nhiều thập niên?
Nếu không có họ, liệu các tổ chức quốc tế có nhận được lượng thông tin đồ sộ về tình trạng đàn áp trong nước?
Nếu không có họ, liệu nhiều tù nhân lương tâm có nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế?
Nếu không có họ, liệu nhiều chiến dịch vận động tại Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội châu Âu hay các diễn đàn quốc tế có thể diễn ra?
Bản thân tôi và nhiều người khác đang được hưởng quy chế tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ cũng không thể nói rằng là nhờ chính phủ Hoa Kỳ là đủ, vì nếu không có sự tranh đấu bền bỉ, hiệu quả của bao thế hệ người Việt đến đây trước chúng tôi, thì cũng chưa hẳn sẽ có chính sách mà ngày nay chúng tôi đang được hưởng.
Tôi nghĩ, chúng ta có thể tranh luận về hiệu quả. Có thể góp ý về phương pháp. Có thể phê bình một tổ chức cụ thể. Nhưng không thể phủ nhận toàn bộ theo cách chụp mũ “phần lớn”.
Vì khi đó, nó không còn là phản biện mà là phủ định sạch trơn.
Thực tế, phần lớn những người tôi từng gặp không hề giàu lên nhờ hoạt động đấu tranh. Ngược lại. Họ mất nhiều hơn được. Mất thời gian, tiền bạc, công sức, những ngày cuối tuần bên gia đình. Có người còn mất cả sự an toàn của thân nhân còn sinh sống tại Việt Nam.
Điều đáng tiếc là lời quy kết vô căn cứ không chỉ làm tổn thương những người đang dấn thân, nó còn tạo ra sự hoài nghi trong cộng đồng. Làm người thiện chí nản lòng, nhất là làm cho người trẻ, thế hệ kế thừa cuộc đấu tranh suy giảm niềm tin.
Và cuối cùng, người được hưởng lợi nhiều nhất lại chính là những thế lực luôn mong phong trào dân chủ bị chia rẽ và tự phủ nhận lẫn nhau.
Nhìn lại, hơn 2 năm qua, tôi được đi nhiều, gặp gỡ nhiều cá nhân và tổ chức, nhưng vẫn chưa tự tin rằng mình hiểu biết hết về cộng đồng người Việt hải ngoại, điều tôi thấy có thể chỉ mới là lớp váng nổi trên bề mặt mà thôi. Nhưng khi tận mắt thấy những đội ngũ hoạt động bất vụ lợi bằng tiền bạc, thời gian, công sức của chính họ cho mục tiêu dân chủ hóa đất nước, tôi lạc quan tin rằng tiền đồ dân tộc mình còn sáng sủa lắm.
Thế nên. Tôi biết ơn các cá nhân, tổ chức cộng đồng người Việt hải ngoại, nhờ họ, mà tôi tìm lại được các giá trị mà chế độ Cộng Sản trong nước đã phá hủy, hoặc làm cho phôi pha dần. Nhờ họ, mà tôi tin rằng công cuộc đấu tranh dân chủ hóa đất nước sẽ thành công.
Hoa Thịnh Đốn, ngày 24 Tháng Bảy 2026
Đặng Đình Mạnh



