Mỹ Lấy Cớ Dân Chủ Để Xâm Lược Nước Có Dầu Rồi Cướp Dầu ? (Kim Trọng)

Mỹ Lấy Cớ Dân Chủ Để Xâm Lược Nước Có Dầu Rồi Cướp Dầu

“Mỹ đánh vì dầu” – câu nói này đã ăn sâu vào nhận thức của nhiều người Việt. Nhưng khi đối chiếu với thực tế, luận điểm này không chỉ sai về bản chất mà còn đầy mâu thuẫn. Đây là di sản tuyên truyền của Liên Xô được kế thừa và truyền bá qua nhiều thập kỷ.

Iraq 2003

Iraq có dầu, nhưng Mỹ không chiếm mỏ dầu. Dầu vẫn do nhà nước Iraq quản lý. Mỹ không chiếm mỏ dầu để sở hữu hay vận hành. Ở Iraq sau 2003, dầu không thuộc Mỹ, không chuyển về Mỹ miễn phí mà vẫn do nhà nước Iraq quản lý và bán ra thị trường quốc tế. Chi phí chiến tranh trên 2.000 tỷ USD, như vậy cướp dầu là bài toán ngu.

Trung Quốc nhập khẩu khoảng 25-30% dầu Iraq, Ấn Độ nhập khoảng 15-20%, châu Âu nhập khoảng 15%, còn Mỹ chỉ nhập dưới 5% và giảm dần về 0%. Bài toán kinh tế rất đơn giản. Dầu Iraq xuất khẩu mỗi năm khoảng 2-3 triệu thùng/ngày với giá dầu trung bình khoảng 70 USD/thùng trong giai đoạn 2003-2023, doanh thu dầu Iraq mỗi năm chỉ khoảng 50-100 tỷ USD. Nếu Mỹ lấy 100% dầu Iraq, điều không thể, thì cần 20-40 năm mới hoàn vốn. Thực tế Mỹ không lấy gì cả. Tổng trữ lượng dầu Iraq là khoảng 145 tỷ thùng, nhưng ngay cả khi lấy miễn phí toàn bộ, Mỹ vẫn lỗ nặng. Nếu muốn dầu, duy trì cấm vận rồi mua dầu rẻ từ chợ đen còn lợi hơn gấp nghìn lần.

Ai hưởng lợi từ chiến tranh này? Về dầu, câu trả lời là Trung Quốc, Ấn Độ, châu Âu. Về địa chính trị, Iran và các lực lượng Shia được tăng cường ảnh hưởng ở Iraq. Mỹ không đạt được mục tiêu chiến lược ban đầu. Đây là chiến tranh quyền lực theo tính toán địa chính trị, không phải cướp tài nguyên. “Dân chủ” chỉ là ngụy biện chính danh.

Lý do chính thức là Saddam Hussein có vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD), liên hệ với khủng bố, và cần giải phóng Iraq để mang lại dân chủ. Đây là sai lầm tình báo nghiêm trọng vì WMD không tồn tại, điều Mỹ sau này phải thừa nhận.

Động cơ thực sự là địa chính trị. Mỹ muốn xóa bỏ chế độ thù địch lâu năm sau Chiến tranh Vùng Vịnh 1991, tái định hình Trung Đông, răn đe Iran và Syria, đồng thời thể hiện sức mạnh Mỹ sau 11/9. Nội bộ Mỹ, phe tân bảo thủ tin rằng lật đổ Saddam sẽ tạo “hiệu ứng domino” dân chủ, nhưng kỳ vọng này không thành hiện thực.

Libya 2011

Libya có dầu, nhưng trước 2011, Pháp, Ý, Anh đã khai thác dầu Libya bình thường. Không cần chiến tranh để “cướp”. Điều đặc biệt là sau khi Gaddafi chết, sản lượng dầu sụp đổ từ 1,6 triệu thùng/ngày xuống còn 0,2-0,4 triệu thùng/ngày. Hỗn loạn kéo dài hơn 10 năm. Công ty phương Tây thiệt hại nặng, nhiều công ty phải rút lui.

Nghị quyết Liên Hiệp Quốc được thông qua để bảo vệ dân thường theo nguyên tắc Responsibility to Protect (R2P) sau khi Gaddafi đe dọa thảm sát Benghazi. Nhưng động cơ thực sự đến từ châu Âu, đặc biệt là Pháp và Anh, chứ không phải Mỹ. Họ lo ngại dòng người tị nạn tràn sang châu Âu, bất ổn sát Địa Trung Hải, và thấy đây là cơ hội loại bỏ một nhà độc tài khó lường.

Ai hưởng lợi? Không ai. Nếu mục tiêu là dầu thì kết quả là thảm họa cho chính phương Tây. Đây là can thiệp thất bại, không phải chiến tranh cướp dầu.

Syria từ 2011

Vai trò của dầu ở Syria càng rõ ràng hơn nữa. Syria có dầu nhưng quy mô nhỏ. Năm 2011 sản xuất khoảng 385.000 thùng/ngày, sau nội chiến giảm mạnh xuống còn 24.000-40.000 thùng/ngày, bằng khoảng 0,3% sản lượng Mỹ. Mỹ từng kiểm soát vài mỏ ở Đông Syria nhưng mục tiêu là không để IS hay Assad dùng tiền dầu, không phải khai thác thương mại cho Mỹ. Dầu vẫn do người Kurd địa phương quản lý.

Mỹ không có mục tiêu lật Assad bằng quân đội. Mỹ chỉ hỗ trợ hạn chế phe đối lập, sau đó tập trung diệt IS thay vì đổi chế độ, nhằm tránh sa lầy như Iraq. Ai thực sự thắng ở Syria? Nga giữ được đồng minh Assad và mở rộng căn cứ quân sự. Iran mở hành lang ảnh hưởng tới Địa Trung Hải. Còn Mỹ không đạt mục tiêu chính trị lớn và đã rút quân về. Không có logic “vì dầu” ở đây. Đây là chiến trường ủy nhiệm, không phải xâm lược cướp tài nguyên.

Nhìn vào ba trường hợp Iraq, Libya, Syria thấy rõ một mô thức. Iraq có nhiều dầu nhưng Mỹ không chiếm, mục tiêu thật là quyền lực, an ninh, địa chính trị, và cuối cùng người hưởng lợi từ dầu là Trung Quốc, Ấn Độ, châu Âu chứ không phải Mỹ. Libya có dầu nhưng Mỹ cũng không chiếm, đây là can thiệp nhân đạo thất bại, và không ai hưởng lợi vì sản lượng sụp đổ hoàn toàn. Syria có ít dầu, Mỹ không chiếm, mục tiêu là chống IS và kiềm chế đối thủ, người hưởng lợi từ dầu là người Kurd địa phương. Ba trường hợp này đều chứng minh một điều: nếu Mỹ thật sự muốn cướp dầu thì không có case nào thành công, và ở cả ba case đều không có hành vi “cướp dầu” thực sự xảy ra.

“Vì dầu” là lời giải thích thô, dễ tuyên truyền, nhưng sai. Thực tế là quyền lực, an ninh, ảnh hưởng, cân bằng chiến lược. Mỹ can thiệp vì địa chính trị và dùng “dân chủ/nhân quyền” làm lý do hợp thức hóa trước dư luận. Mỹ không nhất quán vì vừa nói dân chủ, vừa ủng hộ độc tài thân Mỹ. Điều này cho thấy dân chủ là vỏ diễn ngôn, còn quyết định thật nằm ở lợi ích chiến lược.

Vậy lập luận “Mỹ cướp dầu” đến từ đâu và tại sao nó lại bền vững như vậy?

Di sản tuyên truyền của Liên Xô

Tuyên truyền ở VN về “Mỹ cướp dầu” không phải sáng tạo mới mà gần như sao chép khung tuyên truyền của Liên Xô, sau đó được Trung Quốc kế thừa, chỉ thay bối cảnh. Công thức chung là giảm động cơ phức tạp xuống một nguyên nhân tầm thường như “vì dầu”, “vì tiền”, “vì tư bản tham lam”. Phi đạo đức hóa đối phương, biến Mỹ thành kẻ cướp, đế quốc, hiếu chiến. Xóa yếu tố địa chính trị, không nói cân bằng quyền lực, an ninh, răn đe, tính toán chiến lược. Làm cho người nghe không cần suy nghĩ, nghe là hiểu, hiểu là ghét. Khung này xuất hiện từ Liên Xô, được Trung Quốc hiện đại hóa, và VN dùng lại gần như nguyên xi.

Liên Xô coi Mỹ là đế quốc tư bản, mọi hành động đều vì tài nguyên, thị trường, lợi nhuận tư bản độc quyền. Dân chủ và nhân quyền chỉ là bình phong lừa gạt quần chúng. Chiến tranh Triều Tiên thì nói “Mỹ bảo vệ tư bản miền Nam”. Việt Nam thì nói “Mỹ xâm lược để cướp bóc tài nguyên Đông Dương”. Trung Đông thì nói “Mỹ bảo vệ tư bản dầu mỏ”. Liên Xô không cần chứng minh vì báo chí độc quyền nhà nước và không có phản biện học thuật độc lập.

Trung Quốc giữ luận điểm “Mỹ vì lợi ích ích kỷ” nhưng thêm “Mỹ suy thoái đạo đức”, “Mỹ phá hoại trật tự quốc tế”, “Mỹ kích động cách mạng màu”. Ví dụ về Iraq vẫn là Mỹ cướp dầu. Ukraine thì nói Mỹ kích động để làm Nga suy yếu. Hong Kong và Đài Loan thì nói Mỹ đứng sau giật dây. Cách tinh vi hơn là dùng học giả “độc lập” thân nhà nước và dùng mạng xã hội, KOL bán chính trị – những người có ảnh hưởng nhưng không công khai đứng về nhà nước, tạo vẻ khách quan.

VN giữ nguyên khung Liên Xô nhưng ít lý luận, nhiều khẩu hiệu. Dùng câu ngắn, dễ nhớ như “Mỹ đánh vì dầu”, “Mỹ xuất khẩu chiến tranh”, “Mỹ mượn dân chủ”. Điều VN né tránh là không nói Mỹ không chiếm mỏ dầu, không nói Mỹ ủng hộ nhiều chế độ độc tài nếu có lợi, không nói các nước nhỏ cũng có agency, không chỉ là nạn nhân.

Lý do rất rõ. Nếu nói đúng bản chất quyền lực – rằng mọi cường quốc đều hành xử theo lợi ích chiến lược, không ai vô can – thì người dân sẽ đặt câu hỏi về hành vi của chính các cường quốc Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Liên Xô có can thiệp Hungary, Tiệp Khắc, Afghanistan. Trung Quốc có hành động ở Biển Đông, Tân Cương, Tây Tạng. Khi đó, lập luận “ta đạo đức hơn” sụp đổ hoàn toàn.

Kiểu tuyên truyền này đơn giản hóa cực mạnh, phù hợp giáo dục nhồi nhét. Nó đánh vào cảm xúc đạo đức, thỏa mãn tâm lý “ta đúng”. Nó không cần cập nhật, bất chấp thực tế Mỹ đã tự chủ năng lượng. Nó phù hợp xã hội thiếu tranh luận tự do. Đây là di sản tuyên truyền Liên Xô, được Trung Quốc tái đóng gói, VN dùng lại. Nó không phải phân tích chính trị, mà là kỹ thuật quản trị nhận thức.

Vì sao người Việt tin lập luận này rất lâu

Người Việt tin lập luận “Mỹ cướp dầu” rất lâu vì môi trường nhận thức khiến mâu thuẫn không bao giờ bị kích hoạt. Báo chí, sách giáo khoa, truyền hình đồng thanh một giọng. Không có tranh luận công khai giữa các lập trường đối nghịch. Khi không có dữ liệu phản biện, não không có lý do nghi ngờ. Mâu thuẫn không xuất hiện, chứ không phải không nhận ra.

“Mỹ đánh vì dầu” chỉ là một câu, một nguyên nhân. Địa chính trị thật thì phức tạp, bao gồm an ninh, răn đe, liên minh, tính toán, lợi ích chồng chéo. Trong giáo dục nhồi kiến thức, người học quen học thuộc, không quen phân tích đa nhân tố. Gặp một lời giải đơn giản thì chấp nhận ngay. Không ai hỏi nếu Mỹ cướp dầu thì dầu đi đâu. Không ai hỏi vì sao Trung Quốc mua dầu Iraq nhiều hơn Mỹ. Không ai hỏi vì sao Mỹ đánh Afghanistan không dầu. Khi không bị hỏi thì không cần tự kiểm tra logic.

Tin “Mỹ xấu” nghĩa là ta nghèo là do bị hại, ta đúng về đạo đức, ta không cần tự xem lại hệ thống của mình. Niềm tin này giảm bất an, nên rất bền. Ký ức chiến tranh được kể lại theo khung đạo đức. Từ đó, Mỹ là kẻ xâm lược, mọi hành động sau này đều xấu. Cảm xúc mạnh thì logic yếu đi. Giáo dục không dạy kiểm tra giả định, truy nguyên dữ kiện, so sánh trường hợp phản ví dụ. Giáo dục chỉ dạy đúng sai theo đáp án. Người học không có phản xạ thấy mâu thuẫn.

Hoài nghi chính trị dễ bị gán nhãn. Người ta tự kiểm duyệt suy nghĩ, không nói ra, lâu dần không nghĩ nữa. Ở Mỹ, châu Âu, một lập luận như “vì dầu” sẽ bị hỏi ngay về số liệu, phản ví dụ, chi phí và lợi ích. Ở VN, lập luận đó không bị đụng chạm, nên sống rất lâu.

Người Việt tin “Mỹ cướp dầu” vì không có cạnh tranh ý tưởng, được nuôi bằng lời giải đơn giản từ nhỏ, niềm tin đó có lợi tâm lý và chính trị, và mâu thuẫn bị triệt tiêu trước khi kịp hình thành. Là một hệ sinh thái nhận thức được thiết kế để không sinh nghi vấn.

Công cụ nhận biết tuyên truyền

Không cần kiến thức sâu, chỉ cần quan sát cấu trúc để nhận biết tuyên truyền.

Không được phép hỏi “nếu ngược lại thì sao”. Không có phản ví dụ được chấp nhận. Ai nêu phản ví dụ bị gán nhãn. Niềm tin sống nhờ cấm chất vấn, không nhờ chứng cứ.

Luôn đúng trong mọi hoàn cảnh. Dù bối cảnh khác nhau, kết luận vẫn y chang. Thực tế thay đổi thì diễn giải bị uốn theo, niềm tin không đổi.

Không cần cập nhật. Dữ kiện cũ hàng chục năm vẫn được dùng. Không cần sửa sai khi thực tế phản bác.

Thiếu cơ chế falsification. Hỏi “Điều gì xảy ra thì anh/chị sẽ thừa nhận mình sai?” nếu câu trả lời là “Không bao giờ” hoặc “Lúc nào nó cũng thế” thì đó là tuyên truyền.

Tin giúp người tin cảm thấy mình ở phe đạo đức. Tin xong thấy ta đúng, ta bị hại, ta không cần tự xem lại. Niềm tin phục vụ ổn định tâm lý, không phải tìm sự thật.

Khi nghe một luận điểm chính trị, tự hỏi: Có một nguyên nhân duy nhất không? Có số liệu cụ thể không? Có phản ví dụ được thừa nhận không? Nếu sai thì sai trong trường hợp nào? Tin điều này có giúp tôi khỏi phải tự vấn không? Từ ba câu trả lời “không” trở lên thì đó là tuyên truyền.

Khi gặp luận điểm “Mỹ cướp dầu”, tự hỏi: Nếu bạn muốn dầu của một nước, cách nào rẻ nhất? Đánh chiến tranh, ký hợp đồng khai thác, hay mua trên thị trường quốc tế? Đáp án hiển nhiên là ký hợp đồng hoặc mua. Vậy tại sao Mỹ chọn đánh?

Nếu Mỹ cướp dầu Iraq, tại sao dầu lại bán cho Trung Quốc? Mỹ kiểm soát Iraq sau 2003 nhưng để Trung Quốc mua 25-30% dầu Iraq. Đây là cách “cướp” kỳ lạ nhất lịch sử.

Nếu “có dầu là bị đánh”, tại sao Saudi Arabia không bị đánh? Dầu lớn hơn Iraq, chế độ độc tài hơn Iraq, không dân chủ hơn Iraq, nhưng là đồng minh Mỹ. Vậy “dầu” không phải yếu tố quyết định.

Với số tiền đánh Iraq, Mỹ có thể mua bao nhiêu dầu trên thị trường? Đáp án là đủ dùng hàng chục năm. Vậy tại sao phải đánh?

Tuyên truyền không cần đúng, chỉ cần dễ nuốt, ổn định tâm lý, khó phản biện trong môi trường đóng. Người thoát khỏi tuyên truyền không phải vì thông minh hơn, mà vì biết cách nhìn cấu trúc lập luận.

Tuyên truyền cố tình tránh nói địa chính trị

Tuyên truyền ở VN cố tình tránh nói địa chính trị. Nếu nói đúng thì sẽ lộ ra việc mọi cường quốc đều hành xử như nhau, không riêng Mỹ. Người dân sẽ bắt đầu đặt câu hỏi về hành vi của chính các cường quốc XHCN. Khi đó, lập luận “ta đạo đức hơn” sụp đổ. Đây là lý do tại sao tuyên truyền phải đơn giản hóa thành “vì dầu”, thay vì nói thẳng về bản chất quyền lực và địa chính trị.

Nếu mục tiêu là “cướp dầu” thì hành vi thực tế không khớp

Nếu một quốc gia thật sự muốn cướp dầu của nước khác, chúng ta sẽ thấy những hành vi rõ ràng: chiếm mỏ dầu trực tiếp, đặt công ty của mình quản lý, đưa dầu về nước miễn phí hoặc giá rẻ, cấm nước bị chiếm bán dầu cho đối thủ, thu lợi nhuận dầu về ngân sách. Nhưng trong cả ba trường hợp Iraq, Libya, Syria, không điều nào trong số này xảy ra.

Dầu của các nước này vẫn do chính phủ địa phương quản lý và bán ra thị trường quốc tế. Những người mua chính là Trung Quốc, Ấn Độ, châu Âu, không phải Mỹ. Mỹ là nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới từ khoảng 2018, không cần đi cướp để bảo đảm an ninh năng lượng. Nếu thật sự muốn dầu, mua hoặc ký hợp đồng khai thác như cách Trung Quốc làm ở châu Phi là hợp lý hơn gấp nghìn lần – không tốn một viên đạn, chi phí thấp, hiệu quả cao.

Nhiều nước có dầu nhưng không bị xâm lược

Nếu “có dầu là bị đánh” thì lập luận này không giải thích được tại sao những nước có trữ lượng dầu khổng lồ, chế độ chuyên chế, không dân chủ lại là đồng minh thân thiết của Mỹ. Saudi Arabia có dầu cực lớn, chế độ chuyên chế nhưng lại là đồng minh. UAE, Qatar, Kuwait sau 1991 không bị chiếm, không bị “dân chủ hóa”. Na Uy có dầu lớn, dân chủ, không liên quan chiến tranh. Iran có dầu lớn nhưng chỉ bị trừng phạt, răn đe, không xâm lược toàn diện. Dầu không phải điều kiện đủ để bị đánh.

Nhiều cuộc can thiệp không liên quan dầu

Ngược lại, nhiều nước gần như không có dầu vẫn bị can thiệp quân sự. Afghanistan năm 2001 gần như không có dầu nhưng vẫn bị đánh vì 11/9 và al-Qaeda – động cơ rõ ràng là trả đũa khủng bố và an ninh quốc gia. Kosovo năm 1999 không có dầu nhưng NATO can thiệp để ngăn thảm sát sắc tộc ở Balkan. Somalia trong những năm 1990 không có tài nguyên đáng kể nhưng vẫn có can thiệp nhân đạo. Ba trường hợp này cho thấy động cơ can thiệp quân sự đa dạng và phức tạp, không thể quy về một yếu tố duy nhất. Lập luận “vì dầu” sụp đổ hoàn toàn.

Kim Trọng

(04/01/2025)

Nguồn : Nghiên Cứu Lịch Sử

About the author