Bước vào một năm đầy thử thách và hy vọng (Nguyễn Gia Kiểng)

Mọi người Việt Nam đều mong muốn tương lai này và chúng ta đang đứng trước một cơ hội lớn để biến mong ước thành sự thực. Nhưng cần cảnh giác bởi vì một cơ hội chỉ là một cơ hội cho những ai đã chuẩn bị để chờ đợi nó.

Nguyễn Gia Kiểng

Chúng ta bước vào năm 2026 giữa lúc đất nước ta đang sống một khúc quanh quyết định, với những thử thách lớn cũng như triển vọng mở ra một kỷ nguyên lịch sử mới, kỷ nguyên dân chủ. Chúng ta cần rất cảnh giác.

Một nhận định thẳng thắn

Trước hết hãy cùng nhau nhìn lại một cách trung thực hiện tình đất nước và thành tích của Đảng Cộng Sản.

Khi Thế Chiến II chấm dứt chúng ta là một trong những nước nhiều triển vọng nhất trong vùng Đông Á; nhưng rồi chúng ta đã trải qua 30 năm nội chiến tiếp nối bằng năm 50 năm cộng sản để ngày nay là một trong những nước nghèo và tụt hậu nhất trong vùng, thiếu cả những quyền con người cơ bản nhất. Từ năm 1986, sau hơn mười năm thử nghiệm cuồng nhiệt chủ nghĩa Mác – Lênin và đưa đất nước xuống vực thẳm của sự nghèo đói, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã theo gương Trung Quốc chấp nhận mô hình gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, bỏ kinh tế  Mác – Lênin dù vẫn giữ nguyên chế độ độc tài đảng trị. Chọn lựa này đã giải tỏa một phần sinh lực quốc gia và giúp nước ta, sau bốn mươi năm, bắt đầu bước vào nhóm các nước có thu nhập trung bình dù còn ở mức độ thấp. Chúng ta chỉ mới leo lên được một nửa chiều sâu của vực thẳm mà Đảng Cộng Sản đã đẩy đất nước xuống.

Ngày nay, trái với những phô trương dối trá, đà tiến này đã khựng lại và những nguy cơ lớn đang xuất hiện ngày càng rõ rệt. Việc bơm tiền vào đầu tư và tín dụng để cố làm đẹp con số GDP chỉ làm tiêu hao tiềm lực quốc gia trong một bối cảnh quốc tế đầy rủi ro. Hứa hẹn tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030 sẽ sớm trở thành lố bịch. Chúng ta cần một thay đổi lớn.

Chính sách gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mà Đảng Cộng Sản Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc là gì? 

Đó giản dị là bỏ đi một nửa chủ nghĩa Mác – Lênin và giữ lại một nửa. Nửa bỏ đi là kinh tế quốc doanh và hoạch định hứa hẹn một cứu cánh không tưởng về một xã hội không còn giai cấp, không còn khác biệt giầu nghèo, mỗi người làm theo khả năng và hưởng theo nhu cầu. Nửa giữ nguyên là chế độ độc đảng toàn trị phủ nhận những quyền tự do cơ bản từ trước vẫn được biện minh như là phương tiện bất đắc dĩ để thực hiện cứu cánh. Tóm lại là bỏ cứu cánh nhưng vẫn giữ nguyên phương tiện. 

Chọn lựa vô lý và bất lương này dĩ nhiên dần dần tích lũy mâu thuẫn và dẫn tới bế tắc. Giải pháp thoát hiểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam, một lần nữa theo gương Trung Quốc, là gia tăng tối đa vai trò thống trị của đảng cộng sản bằng đàn áp. Kết quả là nhiều ngàn người đã bị tù đày chỉ vì nói lên lập trường của mình; mọi chức vụ từ cấp phó phòng trở lên trong bộ máy nhà nước và các công ty quốc doanh, mọi cấp bậc từ hạ sĩ quan trở lên trong công an và quân đội chỉ dành riêng cho khoảng ba triệu đảng viên cộng sản chưa nghỉ hưu, những người mà đầu óc đã bị ô nhiễm sau hàng chục năm bị nhồi nhét những lập luận gượng gạo về sự đúng đắn của chủ nghĩa  Mác – Lênin, một chủ nghĩa đã bị cả thế giới văn minh nhận diện là một sai lầm độc hại. Chính sách này trên thực tế đã biến Đảng Cộng Sản thành một lực lượng chiếm đóng xấc xược hơn cả những chế độ ngoại thuộc mà dân tộc ta đã từng phải chịu đựng. Nó đồng thời cũng vô hiệu hóa gần hết trí tuệ Việt Nam. Từ một đảng ra đời với chiêu bài chống người giầu để bênh người nghèo Đảng Cộng Sản đã trở thành đảng của người giầu để bóc lột người nghèo. 

Nước ta sẽ không thể vươn lên khỏi thảm kịch thua kém nếu không rũ bỏ được ách thống trị thô bạo này. Khẩn cấp, vì nguy cơ mất nước đã xuất hiện. Sự thất vọng trong phẫn nộ trước một chính quyền bất tài và hung bạo kéo dài quá lâu đang dần dần nhường chỗ cho sự chán nản với chính đất nước; mong ước của nhiều người hiện nay chỉ giản dị là được rời Việt Nam để làm công dân một nước khác. Đất nước đang giải thể trong lòng người và nếu đà này không đảo ngược được nó sẽ đưa đến sự tan vỡ thực sự.

Nguyện ước chung của nhân dân ta là một nước Việt Nam phát triển, giầu mạnh, tiến bộ và sáng tạo về mọi mặt văn hóa, xã hội, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật với thu nhập cao. Kinh nghiệm của thế giới đã cho thấy là không một nước nào dưới chế độ độc tài, chưa nói độc tài cộng sản, vượt qua được bẫy thu nhập trung bình. Lý do giản dị là các nền kinh tế phát triển đều đòi hỏi sáng tạo trong khi sáng tạo chỉ có thể nẩy nở nơi những con người tự do trong những xã hội dân chủ. Dân chủ như vậy là giải pháp bắt buộc cho tương lai dân tộc. Đó cũng là đòi hỏi cấp bách vì tình cảm dân tộc của chúng ta đã bị thương tổn quá nặng.

Một cơ hội lớn

Đòi hỏi cấp bách đó đang là điều chúng ta có thể có bởi vì chế độ cộng sản đã tích lũy đủ mâu thuẫn để phải chấm dứt. Đấu đá nội bộ chỉ có thể gia tăng trong một đảng mà mục tiêu của mỗi đảng viên chỉ là giành giật tối đa lợi và quyền cho chính mình. Tham nhũng cũng là hậu quả tự nhiên và không thể ngăn chặn trong một chế độ không còn lý tưởng. 

Logic cũng như thực tế đã cho thấy là tiến trình đào thải của các chế độ cộng sản gồm ba giai đoạn:

Trước hết là áp dụng chủ nghĩa Mác – Lênin để chỉ nhận ra là nó vừa rất sai vừa rất độc hại, rồi mất lý tưởng;

Kế tiếp là cố giữ quyền lực bằng bạo lực đồng thời nới lỏng một phần tư doanh, bỏ kinh tế Mác – Lênin nhưng vẫn giữ nguyên ách độc tài đảng trị. Tình trạng này đương nhiên phải dẫn tới tham nhũng ngày càng nghiêm trọng và đấu đá nội bộ ngày càng dữ dội. Chế độ chủ yếu dựa trên hai lực lượng tuyên giáo và công an. Nhưng những cố gắng tuyên giáo và đàn áp đều không chỉ vô ích mà còn gây thêm phẫn nộ bởi vì không có lý luận nào bênh vực được một sự vô lý lộ liễu và cũng không có đàn áp nào chèn ép mãi được lẽ phải. Tuyên giáo trở thành trơ trẽn và công an trở thành kẻ thù của nhân dân. Sự ruỗng nát trong nội bộ đảng buộc chế độ phải miễn cưỡng chuyển từ độc tài đảng trị sang độc tài cá nhân để có thể lấy những quyết định cần thiết. Khẩu hiệu “dân chủ trong nội bộ đảng” trở thành lố bịch.

Sau cùng, không thể thay thế nhà độc tài miễn cưỡng và sụp đổ bởi vì các phe đảng không thể chấp nhận trao toàn quyền cho một người thuộc một phe đảng thù địch. Hơn nữa bộ máy sàng lọc của một đảng gian trá đã loại bỏ hết những người tài đức.

Các chế độ cộng sản Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ như thế. Chế độ cộng sản Việt Nam cũng đã đến hồi cuối của tiến trình cáo chung. Sau khi đã mất lý tưởng và bị tham nhũng cùng với đấu đá nội bộ tàn phá Đảng Cộng Sản đã miễn cưỡng phải trao toàn quyền cho Nguyễn Phú Trọng, không phải vì ông này tài giỏi gì mà chỉ vì ông là người tương đối ít nguy hiểm nhất cho các phe phái. Đó không phải là trường hợp của Tô Lâm hay bất cứ ai khác. Đại Hội 14 có mọi triển vọng sẽ là đại hội cuối cùng của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Kinh nghiệm của mọi nước trên toàn thế giới cũng đã chứng tỏ rất rõ rệt hai điều.

Một là các chế độ cộng sản chỉ có thể thay thế chứ không thể cải tiến bởi vì chúng không khác một tôn giáo lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm kinh thánh, khi kinh thánh đã bị vất bỏ thì tôn giáo phải bốc hơi.

Hai là khi một chế độ đã bị tham nhũng lũng đoạn ở mức độ nghiêm trọng thì mọi cố gắng cải thiện đều vô ích, giải pháp duy nhất là thay thế nó.

Chúng ta đang có một chế độ cộng sản cực kỳ tham nhũng. Mọi cố gắng kéo dài chế độ này chỉ gây thêm đổ vỡ và thù hận. 

Cảnh giác và chuẩn bị

Giải pháp duy nhất giúp chúng ta chung sức chung lòng để xây dựng một tương lai Việt Nam đáng mong ước là một Cộng Hòa Việt Nam lấy hòa giải dân tộc làm triết lý điều hành quốc gia, dành chỗ đứng, tiếng nói và cơ hội thành công ngang nhau cho mọi người thuộc mọi khuynh hướng và mọi quá khứ chính trị. Một nước Việt Nam trong đó không có những ý kiến cấm đưa ra và những đề tài cấm bàn đến. Một nước Việt Nam trong đó nhà nước chủ yếu đảm trách quốc phòng, an ninh và ngoại giao; trong mọi địa hạt khác nhà nước sẽ chỉ làm những gì mà tư nhân không thể hay chưa thể làm.

Mọi người Việt Nam đều mong muốn tương lai này và chúng ta đang đứng trước một cơ hội lớn để biến mong ước thành sự thực. Nhưng cần cảnh giác bởi vì một cơ hội chỉ là một cơ hội cho những ai đã chuẩn bị để chờ đợi nó.

Nếu vào thời điểm 1945 chúng ta đã sẵn có những người trí thức có kiến thức và tư tưởng chính trị theo dõi sát những chuyển biến của thế giới để hướng dẫn quần chúng thì hướng đi của đất nước đã rất khác. Chúng ta đã phải biết rằng chủ nghĩa thực dân bắt buộc phải cáo chung sau Thế Chiến II và độc lập của các thuộc địa là điều hoàn toàn chắc chắn, vấn đề chỉ là chuẩn bị để tiếp nhận nền độc lập trong những điều kiện thuận lợi nhất. Chúng ta cũng đã phải biết rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chỉ được chính thức thành lập năm 1930 sau khi đã tuyên thệ từ bỏ tổ quốc Việt Nam để chỉ có một tổ quốc duy nhất là Liên Xô tại Đại Hội Quốc Tế Cộng Sản năm 1928. Chúng ta cũng đã phải biết rằng chủ nghĩa cộng sản đã bị bác bỏ trên chính quê hương của nó từ năm 1875. Và chúng ta đã tránh được một cuộc nội chiến 30 năm dưới danh nghĩa giành độc lập nhưng mục tiêu đích thực chỉ là để thiết lập chế độ cộng sản.

Nếu vào thời điểm 1989, khi bức tường Berlin sụp đổ, chúng ta đã có chuẩn bị cho một tương lai dân chủ thì chính sách “Đổi Mới” đã là đổi mới thực sự, nghĩa là chuyển hóa về dân chủ, chứ không trở thành “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Tiếc thay chúng ta đã không có những con người mà mỗi khúc quanh lịch sử đòi hỏi. Chúng ta đã không có chuẩn bị để chờ đón cơ hội và vì thế cơ hội đã biến thành tai họa.

Nhưng thế nào là chuẩn bị cho tương lai dân chủ? Đó là một đề tài lớn, rất lớn, nhưng chủ yếu là có ít nhất một tổ chức dân chủ đặt nền tảng trên một dự án chính trị dân chủ đúng đắn và khả thi. 

Bởi vì hoạt động chính trị mà không có một dự án chính trị cũng không khác khởi hành mà không biết đi đường nào, hoạt động chính trị mà không có tổ chức cũng không khác đợi mưa giữa sa mạc.

Nguyễn Gia Kiểng

(01/01/2026)

About the author