“Tiếng Việt từ TK 17: các truyền thống tang chế” (Nguyễn Cung Thông)

Phần này bàn về các tục lệ tang chế truyền thống ở Việt Nam từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn cùng với chữ Nôm, cũng như một số tục lệ không còn hiện diện nữa.

Nguồn Gốc Việt Nam Của Tên 12 Con Giáp (Nguyễn Cung Thông)

Một điều khá thú vị mà người viết đã nêu ra nhiều lần, và nên nhắc lại ở đây là trong từ điển Việt Bồ La (1651), trang 287 chi Mão được ghi thêm là mèo ~ hora felis – tiếng La Tinh nghĩa là giờ (con) mèo. Các tài liệu như Vân Đài Loại Ngữ của học giả Lê Quý Đôn (1726-1784), Dictionarium Latino-Anamiticum của Taberd (1838) đều ghi biểu tượng Mão là con thỏ! Điều này cho thấy sự khác biệt giữa văn hóa bác học hay ‘Hán học/Nho học’ rất lệ thuộc vào Trung Hoa, so với văn hóa dân gian (khẩu ngữ) của đại chúng.

A Di Đà Phật Hay A Mi Đà Phật ? (Nguyễn Cung Thông)

Tóm lại, các cách đọc A Di Đà Phật (giọng Nam Bộ – khuynh hướng đọc thành Di), A ‘Zi’ Đà Phật (giọng Bắc Bộ – khuynh hướng đọc thành Zi) hay A Mi Đà Phật (chỉ mới xuất hiện gần đây – khuynh hướng đọc thành Mi) là một kết quả tự nhiên của ngôn ngữ con người và rất thú vị: cho thấy ảnh hưởng của yếu tố không gian (địa phương, phương ngữ), thời gian (mi là âm cổ cận âm tiếng Phạn và Hán so với di và zi), giao thoa ngôn ngữ cận đại cũng như tôn giáo (td. Đại Thừa so với Tiểu Thừa)