
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
“Tiếng Việt”, Lưu Quang Vũ
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ…
Hai thứ súng khác nhau ngụ ý hai ngả đường khác nhau và, trái với ước mơ của Lưu Quang Vũ, nửa thế kỷ hòa bình vẫn không khiến hai ngả ấy “quay về”. Thậm chí tiếng mẹ, cái tiếng nói mà nhà thơ mắc nợ suốt đời, còn bị giày vò thân nợ từ ràng buộc của một quá khứ bất hạnh mà, trong diễn ngôn chính thống, thường được giả lả biện minh như là “một thời ấu trĩ”.
Như ràng buộc của giới tuyến sau/trước 1975, món nợ của cái quá khứ giết nhau thời chiến rồi hành hạ nhau thời bình. Đành rằng thời cuộc luôn tác động đến tiếng nói nhưng vấn đề ngôn ngữ, cao nhất, phải xem xét bằng tiêu chí của chữ nghĩa chứ sao lại là cái thước đo của cảm tính chính trị? Như “quá độ” mà, gần như nửa nước, vẫn nhìn bằng mối ác cảm là “từ cộng sản”, đã làm phiền cái lỗ tai của mình từ tháng Tư năm 1975. Nhưng “quá độ”, theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh xuất bản năm 1931, là “Bến đò để qua sông – Chỗ tiếp hai cái trước sau kề nhau – Chỗ mới cũ giao tiếp” và vấn đề là, do bị lạm dụng quá mức, bị nhồi mãi vào tai, từ mấy bài học chính trị Mác Lê sơ cấp đến lời biện bạch qua loa cho những thảm bại kinh tế-xã hội “Chúng ta vẫn còn ở trong thời kỳ quá độ”, cái ấn tượng lệch lạc kia mới nảy sinh.
Nếu lằn ranh đó là giả thì vẫn còn có bao nhiêu là giới tuyến rất thực khi phận chữ nghiệt ngã hằn lên phận người như có thể thấy qua cuộc đời cầu thủ Đỗ Thế Vinh. Tên tuổi lẫy lừng một thời trên các sân cỏ Đông Nam Á này là trụ cột của đội bóng Quan Thuế dưới thời Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nhưng, sau tháng Tư năm 1975, đã quay ngoắt thành “cầu thủ Hải Quan” trước khi dạt về Sông Bé làm huấn luyện viên để rồi bị “đá” ra ngoài và, cuối cùng, âm thầm chấm hết đời mình một cách bi thảm, không ai hay biết. [1]
Cũng bị “đá” ra khỏi lĩnh vực sở trường của mình rồi trở thành nhân vật số một của Hải Quan là trùm an ninh Nguyễn Tài, tên thật Nguyễn Tài Đông, từng bị mệnh danh là “Bin Laden Việt Nam”. [2] Là con trai nhà văn Nguyễn Công Hoan, gọi Lê Văn Lương – tức Nguyễn Công Miều, ủy viên Bộ chính trị – là chú ruột, lại trui rèn qua hai cuộc chiến với nhiều công trạng và có quan hệ thân tình với Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn Linh; Thứ trưởng Bộ Nội vụ (Công an) Nguyễn Tài rất có thể sẽ trở thành bộ trưởng và, biết đâu, còn được “cơ cấu” vào những vị trí cao hơn. Tuy nhiên, chưa đầy hai năm sau ngày thắng cuộc, Nguyễn Tài bị loại ra khỏi lĩnh vực tâm đắc của mình, bị điều tra và quản thúc, chật vật “đấu tranh” liên tục mười một năm trời mới được giải oan. [3]
Sẽ không lạc đề nếu đi sâu vào đời riêng mà rất chung của Nguyễn Tài bởi những “khúc khuỷu đường đời” nói trên, theo “tổng kết” của chính ông ta, là, một, tình trạng “thiếu dân chủ trong đảng” và, hai, sự kém năng lực của nhiều cán bộ đầy trọng trách. Mà sự kém năng lực này, khúc chiết hóa từ tự sự của Nguyễn Tài, lại là; thứ nhất, về ngôn ngữ, là “quá dốt nát”; thứ hai, về tư tưởng, là kiên định lập trường một cách mù quáng; thứ ba, về lề lối làm việc, là “hồ đồ đại khái, vô trách nhiệm”, thậm chí “lấy cả sự ngu dốt để làm những việc quan trọng, đòi hỏi trí tuệ” và, thứ tư, cố chấp, không bao giờ nhận sai với quy tắc bất thành văn là, quyền lực càng cao thì, dẫu sai, càng phải ém nhẹm. [4]
Từ trùm an ninh trở thành trùm hải quan thì có thể chỉ là “phận người” nhưng khi tên tuổi lừng lẫy một thời các sân cỏ Đông Nam Á từ thân phận cầu thủ “Quan Thuế” quay ngoắt thành chân bóng “Hải Quan” thì vấn đề lại là “phận chữ” và đâu là cội rễ của vấn đề?
“Hải quan” không có mặt trong Việt Nam Tự Điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, xuất bản năm 1931. Loại “hải quan” ra khỏi cuộc chơi, Hội này chỉ ghi nhận “quan thuế” như là “Thuế đánh các hàng hóa ở nước ngoài đem vào” trong đó “quan” ngụ ý là “cửa ải”. Ra mắt cùng năm Hán – Việt Từ Điển của Đào Duy Anh cũng chú giải “quan thuế” như là “Thuế đánh các hàng hóa tiến khẩu và và xuất khẩu (droit de douanes)” và, đồng thời, còn giải thích “hải quan” là “Cơ quan đánh thuế các hàng hóa xuất cảng và nhập cảng (douanes maritimes)”. Khác biệt, cũng theo Đào Duy Anh, thuộc về cách biệt “khẩu”/“cảng”. Trong khi “khẩu” là “cửa chính để ra vào” thì “cảng” là “cửa biển” nên, có thể thẩy rất rõ, “hải quan” chỉ là một phần của “quan thuế”, đặt tại các cửa biển.
Như vậy, khi “quan thuế” trở thành “hải quan” giữa Tân Sơn Nhất, đó lại là cảnh tang hải… tức thì. Mất bao nhiêu năm thì bãi biển mới thành nương dâu còn, ở đây, chỉ với mấy chữ ký thôi, vào năm 1975, “cửa biển” đã xâm thực tận giữa lòng Sài Gòn và, bây giờ, còn lấn đến Trường Sơn, Hoàng Liên Sơn. Khi “hải quan” – là “trạm quan thuế tại cửa biển” – có thể mọc trên những sườn núi giữa biên giới Việt -Lào và Việt-Trung thì, liệu, chúng ta có thể áp dụng giọng điệu của Nguyễn Tài là “quá dốt nát”, là “hồ đồ vô trách nhiệm”, là “lấy cả sự ngu dốt để làm những việc quan trọng, đòi hỏi trí tuệ”, là “cứng nhắc với lập trường”, là “cố chấp, không bao giờ nhận sai”?
Tôi đã tra cứu nhưng chẳng tìm ra một manh mối rõ ràng. “Lịch sử hình thành và phát triển ngành Hải quan Việt Nam” của Đại học Ngân Hàng, cùng rất nhiều tài liệu tương tự, cho biết đầu tiên ngành này mang tên “thuế quan” theo sắc lệnh thành lập “Sở Thuế Quan và Thuế Gián Thu” vào ngày 10/9/1945 với chữ ký của nguyên Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp. [5] Nhưng làm sao mà “thuế quan” biến thành “hải quan” thì rất mơ hồ, chỉ biết mười năm sau, 1955, chính quyền thành lập “Sở Hải quan” và, đến ngày 27/2/1960, “trước yêu cầu nhiệm vụ mới của ngành Hải quan”, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ban hành “Điều lệ Hải quan” rồi, sau đó, là những thay đổi về hành chánh, từ sở thành cục, từ cục thành tổng cục mà, tổng cục trưởng đầu tiên, chính là Nguyễn Tài.
“Hỏi em em cứ ỡm ờ không thưa” (Tú Xương), “ngành” đã kín miệng đến thế thì chúng ta chỉ có thể suy luận dựa theo mô thức kinh tế thời đó. Khi hoạt động ngoại thương chỉ đơn thuần là những chuyến tàu biển có thể đếm trên đầu ngón tay thì, tất cả, chỉ có các trạm “hải quan” và chúng, do đó, đã dần dà chiếm lĩnh đầu óc của bộ máy quan chức, chính quyền. Có thay tên, “thuế quan” cũng mất dần căn cước như một tiến trình “diễn tiến hòa bình” nhưng, đến năm 1975, khi đội bóng của Đỗ Thới Vinh đột ngột đổi đời, đó lại là sự áp đặt của kẻ thắng trận hãnh tiến để bây giờ hai bên vẫn đì đùng bắn nhau bằng tiếng Việt. Bên cứng rắn là “quan thuế” chứ làm gì có cái thứ “cửa biển” vô lý ngay giữa Tân Sơn Nhất hay trên sườn núi Trường Sơn, Hoàng Liên Sơn. Bên thì khư khư với “hải quan” đã chiếm lĩnh đầu óc, có lệnh chính quyền, có chữ ký thủ tướng hẳn hoi.
Tiếng Việt, ở đây, đã bị giày xéo như thể con nợ hay bị cầm tù với những trói buộc của một quá khứ chật hẹp lúc nền ngoại thương chỉ trông cậy vào mấy chuyến tàu biển lèo tèo. Nhưng khi nền kinh tế đã mở rộng, đã đa dạng hóa, việc xuất nhập có thể tiến hành bằng đường bộ, đường hàng không chứ không chỉ là đường biển thì tại sao lại tiếp tục cái góc nhìn chật hẹp của cái “thời xa vắng” ấy? Đây, phải chăng, là sự cố chấp của loài ếch, dẫu đã bò lên miệng giếng rồi mà vẫn khư khư cái nhìn của thời còn ngồi dưới đáy sâu nhìn lên thấy trời chỉ to bằng cái vung?
Đáng nói là, cũng vì sự cố chấp kiểu này mà Nguyễn Tài, ông trùm Hải Quan tương lai, mới thất bát cuộc đời. Đầu tiên, năm 1970, nó khiến ông bị kẻ thù của mình bắt giữ, mở đầu cho năm năm ngục thất với những cực hình thể chất. Sau đó, nó lại khiến ông bị chính những đồng chí của mình tra tấn tinh thần, hơn một thập niên.
Nguyễn Tài thể nói, là một thứ công an hay mật vụ bẩm sinh. Vào đảng tháng Ba năm 1945, lúc 19 tuổi thì đến cuối năm, sau khi mãn một khóa huấn luyện, Nguyễn Tài được điều về Nha Công an Bắc bộ rồi, chỉ sau hai năm, khi bộ máy kháng chiến đã rút hết lên Việt Bắc, đã ở lại làm trùm an ninh trong bóng tối của Hà Nội, đảm nhiệm các vụ ám sát, phá hoại nhắm vào người Pháp. Năm 1958, mới 32 tuổi, Nguyễn Tài đã là Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị thuộc Bộ Công An, chỉ huy các hoạt động trấn áp và phản gián. Năm 1964 Nguyễn Tài xung phong vào Nam và tháng Năm năm 1965 đã có mặt tại Củ Chi trong vai trò Trưởng ban an ninh Đặc khu uỷ Sài Gòn – Gia Ðịnh. Năm 1969, do tình hình căng thẳng sau Tết Mậu Thân, Nguyễn Tài cùng Đặc khu ủy dời về Bến Tre và, ngày 23/12/1970, khi trên đường đến dự cuộc họp của cấp ủy, đã bị bắt do “lập trường” của mấy cán bộ miền Nam lúc đó, tin rằng cái gì của miền Bắc xã hội chủ nghĩa cũng đều ưu việt.
Theo sắp đặt thì sáng sớm Nguyễn Tài sẽ trà trộn theo dân chúng đi chợ, đến điểm hẹn ở chợ Hồng Ngự sẽ có người ra đón. Khi cán bộ cơ sở cho biết dân chúng bắt đầu đi chợ vào 4.30 sáng, Nguyễn Tài chọn 5 giờ để dễ trà trộn nhưng, trên thực tế, người dân phải đợi đến 5.30 khi đã hết giờ giới nghiêm và lầm lẫn là do thời đó Hà Nội chọn múi giờ Bắc Kinh, trễ hơn Sài Gòn một tiếng đồng hồ. Mà thời ấy, với nhiều cán bộ miền Nam, miền Bắc là “niềm tin”, là “lẽ sống” nên, để “đúng lập trường”, họ nhất nhất chọn mốc giờ giấc theo “Đài Hà Nội”, báo hại ông trùm an ninh đã cố cho trễ mà thành ra quá sớm nên trở thành một mục tiêu lộ liễu. Phát hiện Nguyễn Tài lò dò một mình trong giờ giới nghiêm, một toán lính VNCH chặn xét và phát hiện người đàn ông có “sinh quán Mỏ Cày” này lại nói tiếng Bắc toàn phần và, thế là, ông trùm sa lưới. Nhà tổ chức và chỉ huy những vụ đánh bom làm rúng động Hà Nội rồi Sài Gòn đã sa cơ một cách ngớ ngẩn và vô duyên, chỉ vì sự “kiên định lập trường” cũng rất ngớ ngẩn, vô duyên.
Là một thứ mật vụ bẩm sinh nên Nguyễn Tài đã, theo tự sự của ông ta, đã tỏ ra khôn khéo. Ngay từ đầu Nguyễn Tài “ngoan ngoãn” khai mình là Đại uý Nguyễn Văn Hợp, được Cục Nghiên cứu QÐND đưa vào Nam tạo vỏ bọc để chờ khi chiến tranh kết thúc sang Pháp hoạt động lâu dài nhưng chỉ vừa mới cập bến thì đã bị bắt, hiện vẫn chưa rành cơ sở địa phương. Tuy nhiên CIA và Phủ đặc uỷ tình báo VNCH không phải tay mơ và điều tra được “Nguyễn Văn Hợp” này là ai và, thậm chí, còn tung ra đòn cân não với hình chụp Nguyễn Tài tháp tùng Hồ Chí Minh trong chuyến công du Indonesia năm 1958, giấu mặt sau gọng kính đen. Cuối cùng thì Nguyễn Tài phải thừa nhận nhưng chỉ có thế và, dẫu bị áp dụng đủ kiểu tra tấn, vẫn không khai báo một tin tức đáng giá nào. Kể từ đầu năm 1972 Nguyễn Tài bị nhốt trong một xà lim bịt kín, sơn toàn màu trắng, đèn điện mở sáng 24 trên 24 nên hoàn toàn lạc hướng, mất hết ý niệm về thời gian cho đến khi được giải thoát vào trưa ngày 30/4/1975.
Trong hồi ký Decent Interval, cựu phân tích gia CIA Frank Snepp đã dùng trọn chương “Man in the Snow White Cell” để viết về Nguyễn Tài, cho biết là trong những ngày cuối cùng của VNCH, CIA đã gợi ý việc thủ tiêu này bằng cách dùng trực thăng ném xuống biển bởi khó mà mong rằng “tên khủng bố nhà nghề này sẽ trở thành một người chiến thắng rộng lượng”. [6] Tuy nhiên, do tình hình gấp gáp, Nguyễn Tài đã bị bỏ quên nên thoát nạn và, oái oăm thay, trong khi kẻ thù không nghi ngờ gì về sự trung kiên của Nguyễn Tài với đảng, đảng lại nghi ngờ. Họ nghi ngờ rằng những gì Snepp viết ra chỉ là để cò mồi, tạo vỏ bọc cho gián điệp nhị trùng Nguyễn Tài. Và họ còn kiên định đến mức cho rằng sự khôn khéo ban đầu của Nguyễn Tài, thực chất, là một sự thiếu vững vàng, đánh mất lập trường.
Sự thể khơi mào từ một công văn trao đổi giữa các cơ quan tình báo – an ninh VNCH và Mỹ sau Hiệp định Paris 1973 với tiêu đề “Future handling of senior NVN and VC cadre”, thảo luận việc có nên trao trả bốn tù binh quan trọng, trong đó có Nguyễn Tài, hay không. Công văn chỉ ngụ ý “Cách giải quyết đối với cán bộ cao cấp của Bắc Việt và Việt Cộng trong tương lai” thế nhưng một “chuyên viên Anh văn” của Cục chống gián điệp (E4) thuộc Bộ Nội vụ, vì hiểu sai, lại dịch là “cách sử dụng”. Mà những đối thủ chính trị của Nguyễn Tài chỉ cần có thế. Họ chăm chăm khai thác cái tiêu đề dịch sai này để suy diễn chứ không hề chú ý đến nội dung. Họ, dù là những chuyên gia an ninh, đã cố tình bỏ qua những dấu hiệu lộ liễu của sự luộm thuộm trong cách sắp xếp tài liệu khiến vấn đề còn nghiêm trọng: những công văn tịch thu trong các công sở của VNCH đã, một cách vô duyên, bị biến thành “tài liệu” mà “tình báo nước ngoài” tuồn vào, qua đường bưu điện. [7]
Đau đớn và tức tối không kém cho Nguyễn Tài là sự “kiên định lập trường” của Phan Văn Đáng, bí danh Hai Văn¸ lúc này là Phó ban Tổ chức Trung ương kiêm Trưởng tiểu ban Bảo vệ đảng. Kẻ nắm trong tay sinh mạng của bao nhiêu người này, theo Nguyễn Tài, bị “thần kinh nặng, “thiếu kiến thức về chuyên môn” và, cả khi những manh mối của sự lầm lẫn đã sáng tỏ, vẫn cố chấp, không chấp nhận sai, còn được cả bộ máy quyền lực bảo vệ cái sai bởi, một người nắm những trọng trách như ông ta sao có thể bị phán xét là không đúng. [8]
Có vẽ như những yếu tố như thế cũng đã góp phần vào việc bát nháo hóa tiếng mẹ, trong đó có việc hình thành nên giới tuyến sau/trước 1975. Biển vẫn chưa xâm thực đến Tân Sơn Nhất và những trạm “hải quan” mọc lên ở Trường Sơn hay Hoàng Liên Sơn là điều cực kỳ trái khoáy và vô duyên nhưng chẳng ai chịu thừa nhận là sai, là vô duyên và, thậm chí, còn được bình thường hóa, được điển chế hóa nên, do đó, càng khiến người Việt chia rẽ nhau hơn trong tiếng mẹ.
Chia rẽ là không… thống nhất và, trong sự hệ lụy này, có cả “thống nhất” với biến nghĩa là… đồng ý, cũng khiến gần như nửa nước dị ứng sau năm 1975 như một giới tuyến trong tiếng mẹ. Biến nghĩa này, có lẽ, là hệ quả từ sinh hoạt chính trị mà, để thông qua điều gì đó, phải có sự đồng ý của tập thế. Khi tập thể đã “thống nhất” về một điều gì đó thì có nghĩa là vấn đề đã được chấp thuận nên, dần dà, “thống nhất” bị đồng hóa với… “đồng ý”. Tiếng Việt, trong trường hợp này, cũng là con nợ hay thân tù của “chủ nghĩa tập thể”, cái đường lối đè bẹp nỗ lực khác biệt của từng cá nhân và, do đó, đè bẹp những giá trị tinh hoa.
Không phải là ngẫu nhiên mà những từ ngữ gây chia rẽ đang đề cập như “hải quan”, “quan thuế” hay “thống nhất” đều là tiếng Hán-Việt. Suốt một thời gian dài, để “gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt”, chính quyền tại miền Bắc đã chủ ý loại bỏ tiếng Hán-Việt trong ngôn ngữ truyền thông với “máy bay lên thẳng”, “lính thủy đánh bộ”, “Nhà Trắng”, “Lầu Năm Góc”, “sân bay”, “tên lửa”, “chất đốt” v.v. trong khi người miền Nam vẫn bình thường với “trực thăng”, “thủy quân lục chiến”, “Tòa Bạch ốc”, “Ngũ giác đài”, “phi trường”, “hỏa tiễn”, “nhiên liệu” v.v. Nhưng, như một nghịch lý, nếu ngôn ngữ giao tiếp của người miền Nam vẫn nhẹ nhàng với tiếng “thuần Việt” thì khẩu ngữ tại đất Bắc đã bị Hán- Việt hay “tinh hoa hóa” một cách bất thường với những “tham quan”, “sự cố”, “nhất trí”, “đăng ký”, “đột xuất”, “quán triệt”, “thống nhất” v.v. Tại sao, khi chính quyền cố sử dụng những tiếng “thuần Việt” ngô nghê thì người dân tại lại trịnh trọng hàn lâm mà không bình thường với “thăm viếng”, “trở ngại/trục trặc”, “đồng lòng”, “ghi tên”, “bất ngờ”, “hiểu rõ”, “đồng ý” v.v. như ở bên kia vĩ tuyến 17?
Sự lộn sòng này, có lẽ, là do không khí ngột ngạt của xã hội Stalinist nơi người dân vừa đều đều bị nhồi vào đầu những ngôn ngữ tuyên truyền lại vừa, để an toàn, phải máy móc làm cái máy phát âm thứ ngôn ngữ tuyên truyền đó.
Tuyên truyền là nỗ lực lèo lái nhận thức của người khác mà, để làm như thế thì, bên cạnh nhiều thủ thuật khác nhau, còn có cách che đậy, hư ảo hóa hay trừu tượng hóa những điều không dám nói thẳng ra bằng trò uyển ngữ. Xem “chó” là cái gì dơ bẩn qua những lời mắng chửi như “Đồ chó” nên, vì ghiền thịt chó, cần gọi khác đi như “thịt cầy”, “mộc tồn” hay “cờ tây”. Nhưng phổ biến nhất là mơ hồ hay trừu tượng hóa những điều không muốn phơi bày, bằng tiếng Hán-Việt. Thay vì gọi đích danh “tên thật” của cơ quan sinh dục nữ hay nam thì trừu tượng hóa chúng như là cái “cửa của cõi âm” với “âm hộ”, hay “vật thể của tính dương”, là “dương vật”. Khi không dám thừa nhận rằng tình hình đất nước không khá hơn chút nào với những số liệu cụ thể, thì mơ hồ hóa như là “tương đối tốt”, “tương đối tiến bộ” hay, như gần đây, là “chuyển biến tích cực” v.v.
Sống giữa một xã hội đoàn ngũ hóa chặt chẽ với những cuộc họp liên miên ngột ngạt mùi đấu tố với những quy kết như “phát biểu vô ý thức”, “tư tưởng lệch lạc”, “chậm tiến”, “sai quan điểm” v.v. thì ai cũng gồng mình lên chứng tỏ lập trường nên, hầu như, những phát biểu liên quan đến thời cuộc đều được sao chép y chang khẩu hiệu, nghị quyết hay bản tin thời sự. “Ăn như tù, ở như tu, nói như lãnh tụ”, mở miệng ra thì như báo, như đài, như nghị quyết nên, trong khi nền hành chánh và báo chí “thuần Việt” một cách ngô nghê, khẩu ngữ của công chúng lại kinh viện một cách vô duyên, trái khoáy.
Xa hơn, đó còn là hệ quả từ việc phủ nhận hay xem nhẹ những giá trị trung tâm và tinh hoa mà thủ phạm đầu tiên, mang tính nền tảng, là Trường Chinh với “Đề cương về văn hoá Việt-nam”. Trong dự phóng văn hóa vạch ra từ năm 1943 này, Trường Chinh này đã nhấn mạnh rằng “Đảng không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa” bởi, có vậy, “mới ảnh hưởng được dư luận” và “việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả”. Để được như thế Trường Chinh nêu ra ba “nguyên tắc vận động” là; thứ nhất, dân tộc hóa; thứ hai, đại chúng hóa, “chống mọi chủ trương hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng” và ba, khoa học hóa.
Có thể nói, nguyên tắc thứ hai là một sự can thiệp thô bạo đến sự phát triển lành mạnh của tiếng Việt. Ngôn ngữ hình thành và phát triển như là một chọn lựa cộng đồng dưới sự dẫn dắt của những giá trị tinh hoa, thể hiện ở cách vận dụng ngôn ngữ trong những tác phẩm đỉnh cao của những cây bút bậc thầy, từ Nguyễn Du đến Tú Xương, Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam v.v. Nhưng khi “dẫn dắt” ấy nằm trong tay thiểu số quyền lực chỉ chăm chăm nhắm đến hiệu quả tuyên truyền thì mực thước ngôn ngữ phải nép mình dưới tiêu chí chính trị. Chính trị là một trò chơi quyền lực. Mà quyền lực độc tài là quyền cưỡng đoạt chân lý thì, tất nhiên, ngôn ngữ độc tài sẽ là một thứ ngôn ngữ bị cưỡng bức.
Như Trường Chinh đã cưỡng bức từ “phản động” vào năm 1956 để mở ra một ý nghĩa mới. Trước đó khi viết cuốn Lý Thường Kiệt, Lịch Sử Ngoại Giao & Tông Giáo Đời Lý xuất bản năm 1949, Hoàng Xuân Hãn đã dành riêng một chương mang tên “Phản động của Vương An Thạch” và, ở đây, “phản động” chỉ ngụ ý là “phản ứng”, cũng như một “phản động lực” phát sinh khi một vật thể bị ngoại lực tác động theo định luật thứ ba của Issac Newton. Mà Hồ Chí Minh, trước đó, cũng chưa từng gọi ai là “phản động”, bất quá là “ác”, như bài báo “Địa chủ ác ghê” dưới bút danh C.B trên báo Nhân Dân số 125 ngày 21-27 năm 1953. Nhưng qua tay Trường Chinh, bằng cụm từ “thế lực phản động đội lốt tôn giáo” trong bài viết “Sửa sai và tiến lên” đăng tạp chí Học Tập số 11 năm 1956, “phản động” đã bị lột xác. Khi Trường Chinh cho rằng ông ta, và bộ máy cầm quyền của ông ta, là chân lý, là tuyệt đối đúng, phải được phục tùng tuyệt đối thì, bất cứ “phản ứng” nào cũng ngụ ý một dấu hiệu phản nghịch, phải bị đè bẹp.
Tiếng Việt tôi ơi, tiếng Việt xót xa tình
Lưu Quang Vũ đã kết thúc bài thơ như thế nhưng, với cảnh “thân tàn ma dại” của tiếng mẹ hiện tại thì đâu chỉ có cái sự “xót xa tình”? Vấn đề đã trở thành đau đớn, nhức nhối nếu vừa nhìn vào thực trạng của tiếng mẹ, vừa nghĩ đến lời cảnh cáo của Phạm Quỳnh, “Tiếng ta còn, nước ta còn”. Sự hiếp đáp của dự phóng văn hóa 1943 và những chiến dịch văn hóa – chính trị tiếp nối nhau không chỉ khiến tiếng nói của dân tộc lệch lạc mà còn khiến cả mối quan hệ người – người cũng lệch lạc theo. Và đó là điều mà Nguyễn Tài nhận ra nhưng không hiểu được, vào tháng Tư năm 1975 và nhiều năm sau đó:
“Tôi cũng bất giác nhớ đến ngày mới giải phóng Sài Gòn. Bộ đội ta vào trại tù 3 Bạch Đằng, giải thoát tôi trưa 30/4/1975. Đêm đó tạm đưa tôi sang nơi trú quân ở Bộ Tư lệnh Hải quân của Ngụy, cũng ở đường Bạch Đằng. Hôm sau, 1/5/1975, đơn vị này tiếp tục phải hành quân, nên gửi tôi cho đơn vị ở Dinh Độc lập, đợi Ủy ban Quân quản.
Tại đây, thấy anh em bộ đội ta mới vào Sài Gòn, kém cảnh giác quá (trong khi bọn sĩ quan Ngụy ở đây vẫn dễ dàng đến chỗ gom súng, thì anh em mãi đi gom lon bia cũ – hình như để làm đèn dầu). Tôi có góp ý với người chỉ huy. Thì anh ta nói rằng: Anh mới ra tù, mà gây rối. Và cho đuổi tôi khỏi Dinh Độc lập. Ra đường, không một xu, quần áo mặc của người khác, râu ria tua tủa. Chưa biết tính sao, thì gặp hai cháu nữ sinh, trạc 15, 16 tuổi, đồng phục trắng, ở một phố gần Dinh Độc Lập. Hai cháu hỏi thăm tôi; tôi mới ra tù, tìm đến Ủy ban Quân quản, nhưng chưa gặp được; nên tìm về nhà cơ sở ở Bình Thới. Hai cháu liền bảo tôi đi theo. Đến một bến chờ xe buýt gần nhất, hai cháu cùng tôi lên; lấy vé cho tôi vào chợ Bến Thành. Hết chặng, hai cháu từ biệt ; nhưng mua vé khác cho tôi về Bình Thới, và gửi một bà không quen cùng chuyến xe, dặn là khi đến Bình Thới thì nhắc tôi xuống.
Cho đến nay, tôi không biết tên hai cháu đó. Năm nay, chắc họ đã có gia đình.
Cách đối xử giữa đồng chí với nhau, mà không bằng người không hề quen biết.”
Cách đối xử khác nhau là do mối quan hệ người – người khác nhau, xem nhau như là con người hay… khác với con người. Nhìn vào một Nguyễn Tài tiều tụy như là “con người”, mà là một người đang cần sự giúp đỡ, hai nữ sinh đã hành xử với tấm lòng tử tế của mình. Nhưng những “đồng chí” của Nguyễn Tài thì chỉ đơn thuần xem ông ta là … “đồng chí”, nghĩa là một “đối tượng chính trị” với những quan hệ bè phái, những nguy cơ cạnh tranh, những thế mạnh phải dè chừng và những thế yếu phải xoáy sâu. Xem nhau là đối tượng phải dè chừng thì ngôn ngữ sử dụng sẽ trở nên dè dặt và đầy cạm bẫy hay, trong thế mạnh, thì phủ đầu, ăn tươi nuốt sống. Nhưng xem nhau là người thì sẽ dành cho nhau ngôn ngữ của con người, là điều đã khiến một nhân chứng khác, Đạo diễn Đặng Nhật Minh, lấy làm ngạc nhiên khi lần đầu đặt chân đến Sài Gòn, cũng những ngày tháng ấy:
“Tuy sống trong vùng kiểm soát của chế độ thực dân kiểu mới, nhưng nhiều gia đình tôi tiếp xúc vẫn giữ được những nề nếp truyền thống của một gia đình Việt Nam. Tôi ngạc nhiên nhìn thấy các em nhỏ khoanh tay lễ phép chào hỏi những người lớn tuổi, một điều mà ở miền Bắc từ lâu đã không còn thấy.” [9]
Như thế, tử tế và lễ phép là những ấn tượng đầu tiên mà kẻ chiến thắng nhận ra ở thế hệ tương lai của bên thua cuộc. Sự tử tế là một phần của nhân cách. Tính lễ phép còn phụ thuộc khuôn thước ngôn ngữ hay, diễn đạt rộng hơn, là trách nhiệm của con người với ngôn ngữ mà mình chọn lựa. Nền giáo dục miền Nam thời đó, hẳn nhiên, không hề hoàn hảo nhưng, ít ra, vẫn đủ khai phóng và nhân bản để, cùng với nề nếp truyền thống của từng gia đình, dạy dỗ được những học trò như thế. Còn cái tình trạng kia – sự vô phép của trẻ em với người lớn và sự vô lễ của người lớn với tiếng mẹ – là gì nếu không phải là hệ lụy từ cái chủ trương phi nhân bản, chỉ đơn thuần xem con người như là một “đối tượng chính trị để “tác động” và “gây ảnh hưởng”?
Giới tuyến trong tiếng Việt, do đó, không đơn giản là chuyện ngôn ngữ. Đó là một vấn đề văn hóa mà chủ nợ lớn nhất, hay cai ngục cao nhất, là những nhà chính trị có quyền lực thật cao nhưng tầm vóc văn hóa thì thật thấp, cực kỳ thực dụng về chính trị và hoàn toàn vô trách nhiệm, vô lễ với tiếng mẹ.
Nhưng như thế thì vấn đề không chỉ là phận chữ, phận người mà còn là phận nước bởi đất nước, chính đất nước chúng ta, cũng đang long đong thân nợ hay kiếp tù, từ những ràng buộc của cái chủ trương văn hóa – chính trị tù túng, hẹp hòi, vô trách nhiệm và vô lễ đó…
Nguyễn Hoàng Văn
Tham khảo chú thích:
- Ngày 2/9/1975 Ðỗ Thới Vinh có mặt trong trận Hải Quan gặp Ngân Hàng (từ đội Việt Nam Thương Tín). Năm 1976 tỉnh Sông Bé thành lập hai đội bóng, mời Đỗ Thế Vinh về làm HLV. Năm 1978 Sông Bé tham gia giải bóng đá hạng A toàn quốc và đội thứ hai đoạt chức vô địch khu vực phía Nam. Sau giải, Sông Bé sáp nhập hai đội lại thành một đội tuyển và giao cho ông Nguyễn Kim Phụng làm HLV trưởng, sau ông Phụng là Phó Giám đốc sở TDTT tỉnh Bình Dương, Đỗ Thới Vinh bị cho ra rìa và sau đó qua đời lúc nào không ai hay biết.
- Cách ví von này được cựu nhân viên CIA Merle Pribbenow đưa ra trong bài viết “Limits to Interrogation – The Man in the Snow White Cell” (Giới hạn của sự thẩm vấn – Gã đàn ông trong xà lim Bạch Tuyết) trên tập san Studies in Intelligence (Nghiên cứu tình báo) số 48 (1/11/2004).
Lê Văn Lương (1912-1995) vốn thuộc vây cánh Trường Chinh, từng là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương nhưng do sai lầm trong Cải cách ruộng đất nên bị giáng chức, về sau làm Bí thư Thành ủy Hà Nội.
- Câu chuyện này đã được Nguyễn Tài thuật lại trong hồi ký Khúc khuỷu đường đời – Mười một năm liên tục đấu tranh để sự thật và lẽ phải được thừa nhận. Hồi ký này chỉ viết rồi chuyền tay, chưa hề được xuất bản nhưng đã được phổ biến toàn bộ trên mạng talawas. Những lời trích được trích từ hồi ký này.
https://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5887&rb=08
Có thể đọc hồi ký này trên các trang:
https://anyflip.com/mhnd/sula/basic
- “Vụ bản Anh văn nói là lấy được trong va ly đoàn nước ngoài, do hồ đồ thiếu trách nhiệm ngay từ đầu đồng thời bị dịch sai một cách quá dốt nát; đã là căn cứ để Tổ chức đặt vấn đề bí mật nghi tôi là CIA từ 7/1976, và đình chỉ công tác tôi từ 10/1977.”
-“ Làm việc hồ đồ đại khái, vô trách nhiệm; và có người lấy cả sự ngu dốt để làm những việc quan trọng, đòi hỏi trí tuệ.”
“Một trong các nguyên nhân là như Lê Nin đã từng nói : “Nếu dốt nát cộng với quyền lực thì như thuốc súng cộng với lửa, sẽ rất tai hại, sẽ cực kỳ nguy hiểm”.
- https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai-hoc-ngan-hang-thanh-pho-ho-chi-minh/thu-tuc-hai-quan/4010-i-lich-su-hinh-thanh-va-phat-trie0n-nganh-hai-quan-viet-nam/151704684
- 0“Since Tai was a trained terrorist, he could hardly be expected to be a magnanimous victor.”
Frank Snepp (1977) Decent Interval , Random House, New York. trang 37-38
- Tài liệu này được Trọng Bình, cán bộ Cục chống gián điệp thuộc Bộ Nội vụ, tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ tại Tổng nha Cảnh sát ở Sài Gòn sau năm 1975. Tài liệu bằng tiếng Anh có kèm bản tiếng Việt. Trọng Bình giao tài liệu trên cho Trần Mão, cán bộ thuộc Phòng chống gián điệp Mỹ thuộc Cục chống gián điệp (E 4) mang về Bộ Nội vụ. Sau khi mang về Mão đã đưa thẳng Tài xem mà không báo cáo cấp trên. Ngày 15/7/1976, sau khi xem xong tài liệu, Tài đã sai nhân viên mang đi photocopy làm ba bản trước khi giao cho Mão lưu hồ sơ. Ba bản này Tài giữ một bản, gửi cấp trên trực tiếp của mình thời hoạt động ở Trung ương Cục miền Nam là Mười Hương – lúc đó là Thường vụ Thành ủy Sài Gòn – một bản, và giao cho Cục chống gián điệp lưu một bản cùng tài liệu gốc. Một cán bộ tập sự tên Trần Quốc Việt được sai đi photocopy đã mang qua Cục kỹ thuật của Bộ Nội Vụ (G3) chụp. Tại đây, chuyên viên chụp ảnh tên Lê Hồng Trang sử dụng phim thừa trong cuộn phim mới chụp các “tài liệu nước ngoài” chụp luôn tài liệu này. Cuộn phim được giao cho E4 và khi rửa hình thì E4 phát hiện tài liệu “Future handling of senior NVN and VC cadre” có tên Nguyễn Tài, do đó kết luận rằng có “tài liệu nước ngoài” liên quan đến Tài. Kết hợp điều này với những thông tin như: sau ngày 30.4.1975, Tài đã gọi những cựu nhân viên an ninh của VNCH lên thẩm vấn và tập hợp hồ sơ thẩm vấn về mình, phải chăng là Tài doạ nạt họ đồng thời thủ tiêu bằng chứng.
Tuy nhiên thực chất của “tài liệu thu được trong va ly nước ngoài” chỉ là phong thư gởi bằng đường hàng không bị kiểm duyệt, do đó bản photo những tài liệu trong phong thư này đều có vết gấp, trong khi “tài liệu Anh ngữ” liên quan đến việc “sử dụng Nguyễn Tài” thì không có vết gấp nào cả. Hơn thế nữa, đặc điểm của giấy, ảnh, kiểu in đều khác. Thế nhưng cũng phải mất 11 năm, đảng phải thay tới 2 ông tổng bí thư thì đảng mới giải quyết ra trắng ra đen.
- Trong hồi ký, Nguyễn Tài đã năm lần đề cập đến việc Phan Văn Đáng bị thần kinh.
“Sau này anh Thành cho biết, anh Nguyễn Duy Trinh đã gọi anh Thành báo cáo. Sau khi nghe, anh Trinh khen việc thẩm tra như vậy là tốt, nhưng ta ‘không nên kết luận khác với ý kiến anh Thọ và anh Hai Văn’.”Lúc đó Nguyễn Duy Trinh là Thường trực Ban Bí thư, sau trở thành Bộ trưởng Ngoại giao. - Đặng Nhật Minh, (2005) Hồi ký điện ảnh, Nhà xuất bản Văn Nghệ. tr. 69


