
“Một ngày tỉnh dậy, mình phát hiện ra mình sắp trắng tay, không phải do mình mà do nhà nước quyết định khi mình không làm gì sai, thật là cay đắng”. Đó là một trong rất nhiều chia sẻ của người dân vùng bãi sông Hồng về nỗi lo của họ trong thời gian qua. [1]
Từ đầu tháng 5/2026, khi chính quyền Hà Nội manh nha lên kế hoạch di dời toàn bộ khu dân cư ngoài đê để phục vụ Dự án Trục Đại lộ Cảnh quan sông Hồng, hàng trăm nghìn người đã phải sống với nỗi lo mất đất. [2]
Điều đáng nói là, phần lớn người dân nằm trong phạm vi dự án giờ đây không còn thắc mắc đất có bị thu hồi hay không. Họ đặt ra những câu hỏi thực tế hơn: khi nào đất bị thu hồi? được đền bù bao nhiêu? rồi gia đình mình sẽ đi đâu?, v.v.
Tâm lý ấy không xuất hiện một cách ngẫu nhiên. Đó là ký ức và kinh nghiệm xã hội được hình thành suốt thời gian dài, qua những cuộc thu hồi đất mà phần thắng gần như chưa bao giờ thuộc về người dân.
Vậy nguồn cơn của thực trạng đó là gì? Tại sao việc thu hồi đất ở Việt Nam lại thường diễn ra dễ dàng đến vậy?
Dưới đây là ba lý do lớn.
Một, người dân chỉ có quyền sử dụng đất, không có quyền sở hữu đất đai
Lý do đầu tiên nằm ở nền móng pháp lý về đất đai ở Việt Nam: không cho phép tư hữu về đất đai.
Điều 53 Hiến pháp quy định rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. [3] Nguyên tắc này cũng được khẳng định tại Điều 197 Bộ luật Dân sự và Điều 2 Luật Đất đai hiện hành. [4][5]
Vì là “sở hữu toàn dân”, quyền hạn của người dân đối với đất đai không giống với những tài sản như điện thoại, máy tính, hay xe máy.
Với các tài sản thông thường, chủ sở hữu có đầy đủ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Nhưng với đất đai, người dân chỉ có quyền sử dụng đất chứ không có quyền sở hữu độc lập.
Trên thực tế, một mảnh đất có thể là tài sản lớn nhất của một gia đình, kết thành từ những nỗ lực lao động, tích lũy dài lâu. Nhưng về mặt pháp lý, người dân chỉ là người sử dụng đất, không phải là chủ sở hữu của mảnh đất đó. Đó là lý do trong các hợp đồng chuyển nhượng đất đai không được ghi “mua bán đất”, mà phải ghi là “chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Mặc dù pháp luật hiện hành chưa quy định rõ về khái niệm quyền sử dụng đất, nhưng có thể hiểu đây là tất cả những quyền hạn mà nhà nước trao cho các chủ thể sử dụng đất dưới nhiều hình thức khác nhau như giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, v.v. Quyền này được nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng hệ thống pháp luật.
Có thể thấy, quyền của người dân đối với đất đai là có thật, họ vẫn được dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện các giao dịch như chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, tặng cho, v.v. Tuy nhiên, những quyền hạn ấy vẫn phải chịu sự kiểm soát, chi phối của nhà nước.
Chính quy định như trên đã tạo nên sự bất cân xứng về vị thế giữa nhà nước với người dân trong vấn đề đất đai. Người dân khó thể đứng ngang hàng trong một cuộc tranh chấp, hay một quyết định thu hồi đất đai khi mà nhà nước cùng lúc đảm nhiệm ba vai trò: vừa là đại diện chủ sở hữu, vừa là cơ quan quản lý, vừa là chủ thể có quyền ra quyết định thu hồi đất.
Vì vậy, khi nhà nước xác định thu hồi đất, người dân không thể lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để từ chối yêu cầu đó. Đây chính là điểm khác biệt giữa người chỉ có quyền sử dụng đất với chủ sở hữu tư nhân trong giao dịch dân sự thông thường.
Khác với Việt Nam, tại nhiều nước dân chủ, đất đai là tài sản tư của công dân. Vì vậy, nhà nước phải tuân thủ giới hạn pháp lý nghiêm ngặt khi muốn lấy tài sản của dân để phục vụ lợi ích công. Theo đó, cơ quan công quyền phải chứng minh tính hợp pháp, tính cần thiết, mức bồi thường thỏa đáng, v.v. Nếu người dân không đồng ý, họ có thể kiện ra tòa độc lập để bảo vệ tài sản của mình. Thậm chí, ở Mỹ, công dân có quyền dùng vũ khí sát thương để bảo vệ đất đai, hoặc nơi cư trú. [6]
Còn ở Việt Nam, người dân không thể nói đây là đất của tôi, tôi không đồng ý bán. Họ chỉ có thể nói rằng tôi không đồng ý phương án thu hồi đất. Nói cách khác, trong cuộc tranh chấp đất đai với nhà nước, cuộc đấu tranh giữ đất của người dân được thu hẹp lại thành cuộc thương lượng về mức bồi thường, nơi tái định cư, và những điều kiện hỗ trợ khác.
Hai, chính quyền có nhiều lý do để thu hồi đất
Ngoài việc đứng ở vị thế đại diện chủ sở hữu đất đai của toàn dân, khiến người dân bị đặt ở thế yếu từ đầu, nhà nước còn thiết kế nên một phạm vi quy định thu hồi đất rất rộng với nhiều trường hợp khác nhau.
Theo Chương 6 của Luật Đất đai hiện hành, đất có thể bị thu hồi bởi các mục đích như: quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; hay các lý do như: vi phạm pháp luật đất đai; chấm dứt việc sử dụng đất; tự nguyện trả lại đất; hoặc trường hợp có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; v.v. [7]
Ngày 11/12/2025, Quốc hội còn thông qua Nghị quyết số 254/2025 quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. [8] Ở văn bản này, Chính phủ đã bổ sung ba trường hợp nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án trong khu thương mại tự do, dự án trong trung tâm tài chính quốc tế. [9]
Cùng ngày, Quốc hội cũng thông qua nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù phục vụ các dự án quan trọng phát triển TP. Hà Nội, cho phép thu hồi đất ngoài các trường hợp Luật Đất đai quy định để thực hiện các dự án vì lợi ích quốc gia, công cộng theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. [10]
Về nguyên tắc, không quốc gia nào có thể vận hành nếu nhà nước không được thu hồi đất. Một con đường, cây cầu, bệnh viện, trường học, khu quân sự, những công trình vì lợi ích công cộng hay an ninh quốc khác đều cần mặt bằng. Tuy nhiên, vấn đề không phải là có quyền thu hồi hay không mà là thu hồi trong phạm vi nào, vì mục đích gì, ai được hưởng lợi, và người mất đất được bảo vệ ra sao.
Có thể thấy, phạm vi thu hồi đất ở Việt Nam rất rộng, chẳng hạn như việc thu hồi đất cho mục tiêu “phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” là một phạm vi rất khó khoanh vùng. Sự mơ hồ này phản ánh rõ trong luật, khi Điều 79 Luật Đất đai hiện hành cho phép thu hồi đất trong trường hợp “thật cần thiết” để thực hiện các dự án “phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng”, kèm những mô tả như nhằm phát huy nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển hạ tầng, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và bảo tồn di sản văn hóa.
So với Luật Đất đai 2013, Luật Đất đai 2024 đã liệt kê nhiều trường hợp cụ thể hơn để thu hồi đất vì “phát triển kinh tế – xã hội” với 32 trường hợp. [11]
Về kỹ thuật lập pháp, việc liệt kê cụ thể các trường hợp thu hồi có thể được xem là nỗ lực thu hẹp sự tùy nghi. Tuy nhiên, các khái niệm như “phát triển kinh tế – xã hội”, “lợi ích quốc gia”, “lợi ích công cộng” vẫn có nội hàm rất rộng. Nếu thiếu cơ chế kiểm soát độc lập, những khái niệm này có thể bao trùm cả các dự án mà lợi ích công và lợi ích thương mại đan xen với nhau.
Trên thực tế, nhiều dự án thương mại dưới vỏ bọc “phát triển kinh tế – xã hội” đã được thực hiện như vụ thu hồi đất tại Văn Giang (Hưng Yên) để triển khai dự án khu đô thị thương mại Ecopark. [12] Hiện tại, trong Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, người dân địa phương đang gửi đơn thư yêu cầu loại bỏ ngay các hạng mục kinh doanh thương mại (sân golf, resort, khu đô thị cao cấp, v.v.) ra khỏi dự án. [13]
Vốn dĩ, muốn đất được thu hồi đúng phạm vi, mục đích công thì nhà nước phải chứng minh được dự án thật sự cần thiết. Dự án đó còn phải vượt qua các vòng đánh giá tác động, tham vấn công khai, giám sát độc lập. Nếu một dự án phát triển kinh tế có thể đem lại nguồn thu, việc làm, cải thiện hạ tầng nhưng bản chất là chuyển tài sản từ nhóm dân cư yếu thế sang nhà đầu tư tư nhân thì dự án sẽ bị chất vấn gay gắt, buộc chính quyền phải điều chỉnh hoặc dừng lại. [14]
Ở Việt Nam, cơ chế kiểm soát ấy yếu hơn. Khi một dự án đã được đưa vào quy hoạch, có chủ trương đầu tư và lập phương án bồi thường thì quỹ đạo thu hồi gần như đã được xác lập. Người dân luôn trong thế khó có cơ sở nào để phản kháng quyết định thu hồi.
Ba, ý kiến người dân thường không được lắng nghe
Thêm một lý do quan trọng khiến người dân Việt Nam dễ rơi cảnh mất đất, đó chính là tiếng nói của họ thường không có sức nặng.
Vấn đề này không chỉ bắt đầu từ khi có chủ trương đầu tư, lập quy hoạch chi tiết, hay lên phương án thu hồi đất và bồi thường thiệt hại. Nó bắt đầu từ rất sớm, ngay trong quá trình xây dựng luật.
Thời gian gần đây, ý kiến của người dân trong quá trình lập pháp càng trở nên yếu ớt. [15] Những dự thảo về đất đai, đầu tư, quy hoạch, v.v. đều được ban hành và có hiệu lực một cách chóng vánh.
Chẳng hạn, việc ban hành những văn bản pháp luật trao thêm thẩm quyền cho chính quyền Hà Nội trong việc phê duyệt dự án và thu hồi đất đều thiếu đi tiếng nói của người dân, như Nghị quyết 258 về cơ chế, chính sách đặc thù phục vụ các dự án quan trọng phát triển TP. Hà Nội ban hành ngày 11/12/2025, có hiệu lực từ ngày 12/12/2025; hay Luật Thủ đô (sửa đổi) thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026; v.v. [16][17]
Bên cạnh đó, những bước như lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đều phải niêm yết công khai và tổ chức họp trực tiếp để lấy ý kiến người dân trong khu vực có đất thu hồi theo Điều 87 Luật Đất đai 2024. [18] Tuy nhiên, quá trình lấy ý kiến này thường không phản ánh thực chất ý kiến của người dân và ý kiến của họ cũng không có khả năng làm thay đổi quyết định.
Ở Dự án Trục Đại lộ cảnh quan sông Hồng, từ tháng 5/2026 đến nay, người dân nằm trong vùng bị ảnh hưởng đã liên tục có nhiều bài viết và đơn thư với mong muốn chính là không giải tỏa trắng, ưu tiên bảo tồn khu dân cư hiện hữu và bồi thường thỏa đáng. [19][20]
Tuy nhiên, dự án không những không được đi chậm để nhìn nhận lại mà chủ đầu tư còn đề xuất rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng. [21]
Thậm chí, nhìn lại lịch sử, có nhiều vụ án thương tâm xuất phát từ việc người dân đấu tranh phản đối lại việc nhà nước cưỡng chế thu hồi đất như Đồng Tâm (năm 2020), Văn Giang (2012), Đoàn Văn Vươn (2012), v.v. [22][23][24][25] Những vụ việc ấy cho thấy dù người dân có đồng ý hay không thì kết quả vẫn bị thu hồi đất, thậm chí càng phản ứng quyết liệt thì kết quả càng thương tâm.
Có thể thấy người dân Việt Nam dễ bị mất đất không chỉ vì một quyết định hành chính cụ thể mà do toàn bộ cấu trúc quyền lực quanh đất đai đã đặt họ vào thế yếu.
Trường An
Nguồn: luatkhoa.net



