
41a. Dự án nhà máy thép Thái Nguyên 8.000 tỷ đồng
Trích trong bài của Hà Duy trên VietNamNet ngày 18/3/2016.
Năm 2007, Công ty cổ phần Gang Thép Thái Nguyên ký hợp đồng chọn Tập đoàn Xây lắp Luyện kim (MCC) là nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC Nhà máy Gang Thép Thái Nguyên giai đoạn II, với công suất mở rộng 500.000 tấn phôi/năm + 500.000 tấn thép cán/năm. Đây là dự án nhóm A được vay vốn ưu đãi, với tổng số vốn đầu tư khi bắt đầu là 3.800 tỷ đồng.
Dự án khởi công ngay trong năm 2007 nhưng không bao lâu sau đó, dự án phải dừng hoạt động vì Việt Nam bị tác động từ cuộc khủng hoảng kinh tế trong vùng. Năm 2009, dự án khởi động trở lại, nhưng đã bị đội vốn cao hơn 2 lần, từ 3.800 tỷ đồng tăng lên 8.100 tỷ đồng.
Tháng 7/2012, dự án mở rộng giai đoạn 2 phải dừng hoạt động, khi đang xây dựng thì nhà thầu Trung Quốc (MCC) bỗng dưng kéo nhau về nước, bỏ lại những hạng mục còn dở dang và trang thiết bị chất đầy trong kho. Tính đến nay (2016), dự án đã hoang phế gần 4 năm.
Vậy là, Công ty cổ phần Gang Thép Thái Nguyên (TISCO) đã chi ra nhiều ngàn tỷ đồng vào dự án, sau gần 10 năm vẫn chưa vào sản xuất, lại rơi vào tình trạng đang dở dang, hoang tàn.
Ngày 16/3/2016, trước cổng Nhà máy Gang Thép Thái Nguyên, từng hàng xe vận tải nối đuôi nhau chờ vào bên trong chở thép, nhưng thật ra là cả một khu vực bên trong là một nhà máy đã nuốt nhiều ngàn tỷ đồng đang trong tình trạng hoang phế nhiều năm qua. Hằng trăm hạng mục lớn nhỏ như luyện gang, luyện thép, hệ thống lò cao,… của một dự án quy mô gần chục ngàn tỷ đồng đang nằm phơi nắng, phơi mưa, cỏ dại, dây leo phủ đầy. Từng mảng bê tông bong tróc, nham nhở. Những khung nhà thép dở dang, những băng chuyền đã được lắp đặt, máy móc cũ gỉ,… im lìm trên khu đất rộng nhiều mẫu tây. Từng là một đại công trường hoạt động rộn rịp, nay thì hoang vắng không một bóng người. Những khu nhà xập xệ, mốc meo. Nếu không tận mắt chứng kiến, không ai có thể tin nổi những nhà kho trở nên cũ kỹ, mái tôn thủng lỗ lại là nơi chứa biết bao thiết bị của một nhà máy thép qui mô.
Trò chuyện với chúng tôi, anh Thắng, một công nhân của nhà máy cho biết : “Tôi làm ở đây được 10 năm rồi, từ khi còn chưa lấy vợ, dự án này cũng chưa có. Thế mà đến giờ có vợ, có con lớn rồi mà dự án vẫn chưa xong. Hồi còn thi công, có tới hàng ngàn công nhân làm việc ở đây. Giờ thì chẳng còn ai. Bao nhiêu tiền của đổ vào, xót thật. Một công nhân có mức lương 4 đến 5 triệu đồng/tháng, cũng không thể hiểu được vì sao một nhà máy được đầu tư đến hàng chục ngàn tỷ đồng lại thê thảm đến như vậy”.
Chánh phủ và các bộ ngành, đã nhiều lần hội họp tìm cách giải quyết. Trong cuộc họp của “Thường Trực Chánh Phủ” hồi tháng 11/2015, đã quyết định : “Thủ tướng chánh phủ giao Bộ Công Thương ra lệnh Tổng Công ty Thép Việt Nam, và Công ty Cổ Phần Gang Thép Thái Nguyên, cùng nhau đàm phán dứt khoát với Tập Đoàn Xây Lắp luyện Kim Trung Quốc, tìm phương cách tiếp tục thực hiện dự án”.
Theo báo cáo từ TISCO lên các cơ quan trách nhiệm, từ năm 2012 đến cuối tháng 1/2016, TISCO đã đàm phán 10 lần với nhà thầu Trung Quốc MCC để tìm cách tái khởi động dự án. TISCO cũng phối hợp với cơ quan kiểm toán, rà soát với các nhà thầu thi công để biết rõ khối lượng cũng như phẫm chất của các hạng mục đang dang dở.
TISCO cũng đã thuê Tổng Công ty Tư Vấn Xây Dựng Việt Nam, và Viện Kinh Tế Xây Dựng thuộc Bộ Xây Dựng, thẩm tra và báo cáo điều chỉnh tổng mức đầu tư, và duyệt lại hiệu quả kinh tế của dự án, với hai điều kiện : “Một là, tái khởi động vào ngày 1/4/2016, và tiếp tục hoàn thành để đưa vào sản xuất từ ngày 1/1/2018. Hai là, tính đầy đủ các khoản chi phí và không đầu tư hạng mục sản xuất cốc luyện kim làm nguyên liệu cho lò cao sản xuất gang”.
Theo báo cáo mới nhất của TISCO gửi Bộ Công Thương, tổng mức đầu tư lên đến con số 9.031 tỷ đồng. So với tổng mức đầu tư đã được duyệt lại và phê duyệt năm 2014, tổng mức đầu tư này cao hơn tới 927 tỷ đồng, tức là phải cung cấp thêm vốn. Nhưng theo tính toán của đơn vị tư vấn, thì dự án sẽ không có hiệu quả kinh tế khi thời gian thu hồi vốn ước tính phải đến 23 năm sản xuất, hay nhiều hơn nữa.
Cuối cùng thì dự án 8.000 tỷ đồng sau gần 10 năm xây dựng, bỗng dưng bị nhà thầu Trung Quốc lũ lượt kéo về nước mà không ai biết nguyên nhân, cũng từ đó mà nhà máy này trở thành hoang phế.
41b. Dự án bô xít Tây Nguyên 32 ngàn tỷ đồng
Trích bài của CTV Danlambao ngày 25/02/2017 : “Lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã phung phí tài sản quốc gia qua các dự án của tập đoàn TKV”.
Tháng 11/2007, Thủ tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết Định số 167, thăm dò khai thác quặng bauxite trên Cao Nguyên Miền Trung trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2015, xét đến năm 2025, và giao cho Tập Đoàn Than & Khoáng Sản Quốc Doanh Việt Nam (TKV) thực hiện. Tập đoàn này dành một hợp đồng cho Công ty Chalieco của Trung Quốc khai thác. (trích trong Wikipedia)
Nhà máy bauxite nhôm Tân Rai, Lâm Đồng. Phê duyệt năm 2006. Vốn đầu tư ban đầu là 7.787 tỷ đồng. Sau bốn lần tăng vốn, nâng số vốn tổng cộng đến năm 2013 là 15.414 tỷ đồng.
Nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ, Đắc Nông. Phê duyệt năm 2007. Vốn đầu tư ban đầu là 3.285 tỷ đồng. Sau ba lần điều chỉnh, đến năm 2014 thì tổng số vốn đầu tư lên đến 16.821 tỷ đồng = tăng 500%.
Vậy là, tổng cộng vốn đầu tư từ ngân sách quốc gia và vay nợ cho 2 dự án Tân Rai và Nhân Cơ, khởi đầu là 11.072 tỷ đồng, sau những lần điều chỉnh đã đẩy tổng số vốn lên đến 32.235 tỷ đồng = 1 tỷ 410 triệu mỹ kim.
Năm 2016, báo cáo của TKV thì tổng sản lượng dự trù được 600.000 tấn/năm, trong khi giá Alumin trên thế giới năm 2016 trung bình là 320 mỹ kim/tấn. Căn cứ số sẽ sản xuất và bán theo giá của năm 2016, sẽ thu được 182 triệu mỹ kim/năm. Vẫn theo báo cáo của TKV, thì : “Sau 10 năm xây dựng 2006-2016, nhà máy đã hoàn thành phần căn bản và vừa chạy thử, sẽ ra sản phẩm hydrat từ ngày 10/11/2016, và dự định sẽ ra sản phẩm alumin từ tháng 12/2016, và nhà máy sẽ chánh thức hoạt động thương mại trong 3 tháng đầu năm 2017”.
Nhưng đến tháng 2/2017, vẫn chưa thấy báo cáo nào về hoạt động của các nhà máy.
Vẫn theo báo cáo của Tập đoàn Than & Khoáng sản Việt Nam (TKV), ngoài số vốn đầu tư đã chi ra hơn 30.000 tỷ đồng, tập đoàn TKV còn có khoản nợ khác -nhưng không nói khoản nợ gì- là 13.696 tỷ đồng nữa = khoảng 600 triệu mỹ kim.
Dù núi nợ chồng chất mà chưa biết làm sao phải trả, vì vốn đầu tư của các dự án tăng vọt so với ban đầu là rất lớn, nhưng tập đoàn TKV đang trình thêm những dự án khác nữa :
1) Dự án Mỏ Khe Chàm II-IV, vốn đầu tư 12.568 tỷ đồng.
2) Dự án đầu tư khai thác mở rộng Than Mạo Khê, tổng vốn đầu tư 5.868 tỷ đồng.
3) Dự án mỏ Núi Béo, tổng vốn đầu tư 5.331 tỷ đồng.
4) Dự án xây dựng trụ sở TKV tại Hà Nội : 3.771 tỷ đồng.
5) Dự án xây tòa trụ sở TKV tại Quảng Ninh : 964,7 tỷ đồng.
Tổng cộng vốn bỏ ra cho những dự án mới này là 28.502 tỷ đồng = khoảng 1 tỷ 250 triệu mỹ kim nữa.
Vậy là số vốn tăng gần 300%, phải xem là dự án do người soạn thảo rất kém về tham mưu lẫn chuyên môn. Hoặc, đó là cách thúc đẩy để lãnh đạo phê duyệt nhanh chóng, mà Thủ tướng cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố là “chủ trương đúng đắn của Bộ Chính trị”, sau đó sẽ tăng vốn lên để có cơ hội rút tỉa vốn đầu tư cho vào khối tài sản cá nhân.
41c. Dự án nhà máy sản xuất bột giấy 3.000 tỷ đồng
Trích trong VnExpress ngày 9/9/2016, do phóng viên Hoàng Nam thực hiện.
Ông Võ Văn Kiệt, ra miền Bắc theo cộng sản Việt Nam. Ông sống với một người phụ nữ tại đây và cho chào đời đứa con trai tên Nam. Phan Thanh Nam sinh năm 1952, chính là đứa con rơi của ông Võ Văn Kiệt.
Năm 2007, công ty Tracodi thực hiện dự án nhà máy sản xuất bột giấy Phương Nam, một công ty trách nhiệm hữu hạn, thành viên của Tổng Công ty phát triển công nghiệp và vận tải, do Phan Thanh Nam làm Tổng Giám đốc. Bước đầu, với vốn đầu tư được cấp từ ngân sách quốc gia là 2.000 tỷ đồng, dự trù sản xuất 100.000 tấn bột giấy/một năm với nguyên liệu chính là từ cây đay. Theo lãnh đạo nhà máy, khi hoàn tất và bắt đầu cho ra đời những tấn sản phẩm bột giấy tốt nhất Việt Nam, tương đương với phẩm chất Âu Châu.
Nghe hấp dẫn quá, lãnh đạo tỉnh Long An cho phát động phong trào nông dân trồng đay -thay vì trồng lúa- trên một diện tích hơn 10.000 mẫu tây để cung ứng nguyên liệu cho nhà máy.
Trong năm 2007 và 2008, công ty Tracodi đã ký hợp với nông dân 2 huyện trong vùng Đồng Tháp Mười là Mộc Hóa và Thạnh Hóa, trồng cây đay trên diện tích ban đầu gần 500 mẫu tây có thể cung cấp khoảng 600 tấn đay sợi. Năm 2009, nông dân ồ ạt chuyển sang trồng đay, diện tích ban đầu từ 500 lên 3.000 mẫu tây, và tiếp tục tăng lên hơn 8.000 mẫu tây trồng cây đay.
Thế rồi, khi nhận một khối lượng cây đay do các chủ ruộng đay cung cấp và đưa vào máy chạy thử, thì cả hệ thống nhà máy luôn bị tắc nghẽn do dây chuyền không thể chặt được cây đay.
Ông Nguyễn Văn Chí, một trong số những người bỏ trồng lúa chuyển sang trồng cây đay, than thở với phóng viên VnExpress : “Lúc vận động nhà nông bỏ lúa trồng cây đay, công ty có hứa sẽ ổn định với giá cao, và bảo đảm cho nông dân có lời. Ngờ đâu, sau khi nhà nông vay hàng trăm triệu đồng đầu tư trồng cây đay, thì công ty chỉ mua cầm chừng, hoặc ép giá rẻ mạt, khiến chúng tôi lỗ nặng”.
Trước thực trạng này, Thủ tướng cộng sản Việt Nam đã yêu cầu Tổng Công ty Giấy Việt Nam Vinapaco, tiếp nhận nhà máy và tiếp tục thực hiện dự án, vì vốn đầu tư lúc này đã đội lên tới 3.000 tỷ đồng. Sau thời gian sửa chữa, từ năm 2012 nhà máy tiếp tục chạy thử, nhưng dây chuyền sản xuất vẫn không cắt được cây đay. Vì vậy mà chỉ có khoảng 10% diện tích -tức 1.000 mẫu tây đay- được công ty mua, và khoảng 90% còn lại thì nông dân đành phải chở đi nơi khác bán với giá gần như cho không, hoặc đốt bỏ.
Sau đó, Tổng Công ty Vinapaco đã mời chuyên gia ngoại quốc, cùng các chuyên gia cơ khí công nghiệp giấy trong nước, chấn chỉnh hệ thống sản xuất, trong khi bắt đầu thảo luận không sử dụng cây đay làm nguyên liệu, mà chuyển sang sử dụng loại gỗ cứng. Trong khi đó, nhóm lãnh đạo nhà máy ra sức mua các loại thiết bị máy móc được nhập cảng từ ngoại quốc. Nhưng, sau thời gian chấn chỉnh mà nhà máy vẫn ì ra đó, cho nên hơn 10.000 tấn cây đay tồn kho phải chở đi bỏ vì mục nát.
Đến vụ mùa cây đay tiếp theo, nhà nông trông chờ nhà máy thu mua, nhưng bất thình lình công ty tuyên bố chấm dứt mua cây đay, khiến cho nhà nông bỏ trồng lúa để trồng cây đay lâm vào tình cảnh nợ nần chồng chất. Nhà cầm quyền tỉnh Long An liên tục kiến nghị trung ương có chính sách tiếp tục chấn chỉnh nhà máy, đồng thời hỗ trợ nông dân trồng đay. Nhưng, tất cả đều im lặng.
Cuối cùng thì Thủ tướng cộng sản Việt Nam ra lệnh cho Bộ Công thương + Bộ Tài Chánh + tỉnh Long An, sớm tìm cách giải quyết nhà máy bột giấy bằng cách thanh lý hoặc chuyển nhượng.
Hiện nay, hằng ngàn mét vuông nhà xưởng của nhà máy Phương Nam vẫn trong tình trạng hoang phế, dây chuyền máy móc tiền tỷ bị bụi bám. Dẫn đến tình trạng hàng chục ngàn mẫu tây trồng cây đay tại Long An cũng bị xóa sổ, và nông dân đã quay lại trồng lúa với nỗi thất vọng tột cùng, vì nghe theo lời hứa của họ mà nợ nần không biết bao giờ mới trả hết.
Ông Nguyễn Xuân Hồng, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Long An cho biết : “Đến nay (tháng 9/9/2016) chưa có đơn vị nào ghi tên mua lại dự án nhà máy bột giấy Phương Nam -cách trung tâm huyện Thạnh Hóa khoảng 1 cây số) sau 2 năm chánh phủ công bố thanh lý hoặc nhượng bán nhà máy đang được Bộ Công Thương quản trị. Nếu để tình trạng hoang phế này kéo dài, sẽ gây thêm nhiều tổn thất khác”.
Vậy là, Phan Thanh Nam dựa vào cha Võ Văn Văn Kiệt trong trung ương đảng, nên vung miệng cho rằng sản phẩm bột giấy sẽ như phẩm chất Châu Âu, đề rồi hệ thống sản xuất dây chuyền của nhà máy không cắt được cây đay thì làm sao nghiền thành bột để cho ra sản phẩm. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam nổi tiếng là nói thì hay, hóa ra con của cộng sản Việt Nam cũng vậy thôi. Rồi bỏ tiền ra mướn chuyên viên ngoại quốc cùng với chuyên viên trong nước nghiên cứu sửa chữa, rốt cuộc giàn máy cũng không cắt được cây đay. Vì kiến thức như vậy mà năm 2016 có đến hàng chục ngàn tiến sĩ và 200.000 kỹ sư tốt nghiệp từ các trường đại học Việt Nam thất nghiệp, cũng phải thôi.
*****
Thưa quý vị,
Với hai chữ độc tài trong bản chất của Đảng cộng sản Việt Nam, đã biến xã hội Việt Nam như một nắm bột trong bàn tay của ông Hồ Chí Minh và các nhóm Đảng cộng sản Việt Nam, để họ vo tròn bóp méo theo lệnh của Đảng cộng sản quốc tế, khi tổ chức này sụp đổ thì họ theo lệnh của lãnh đạo Trung Quốc. Và độc tài được nhìn thấy trong các lãnh vực :
Độc tài chính trị, duy nhất chỉ có Đảng cộng sản lãnh đạo, để chỉ phục vụ quyền lợi của cộng sản quốc tế, và quyền lợi của riêng họ, mà không hề phục vụ nguyện vọng người dân.
Độc tài trong cầm quyền, sử dụng giáo dục và công an, tạo nên một xã hội theo mục tiêu của đảng, rồi đảng với nhà nước cùng nhau thao túng xã hội.
Độc tài trong Quốc hội, vì gần 90% là những cấp lãnh đạo từ Bộ Chính trị xuống đến tận cùng hệ thống tổ chức đảng và tổ chức nhà nước đều là Dân biểu, nên những luật ban hành hoàn toàn theo lệnh đảng để phục vụ đảng với nhà nước.
Độc tài trong truyền thông, nên không có tiếng nói của sự thật từ người dân. Hơn thế nữa, bất cứ ai suy nghĩ khác hay hành động khác với đảng và nhà nước, sẽ bị ghép tội và bị bắt, vì vậy mà mọi người trên toàn cõi Việt Nam không hề biết sự thật nằm ở đâu, vì hệ thống truyền thông của đảng suốt ngày đêm phun ra toàn dối trá, sai lạc sự thật.
Độc tài trong luật pháp, vì tất cả viên chức từ cơ quan điều tra đến viên chức trong phiên tòa đều là đảng viên cộng sản, nên bản án được đảng quyết định trước đối với những “bị can” mà đảng thấy là bất lợi cho họ. Dù vậy, năm 2014 Bộ Chính trị ban hành Chỉ Thị 25 loại tối mật. Theo đó thì Bộ Công an muốn điều tra bất cứ cán bộ nào, phải trình lên Bộ Chính trị quyết định.
Độc tài sở hữu đất đai, vì chỉ có Đảng cộng sản là chủ nhân toàn bộ đất đai, vì vậy mà lãnh đạo các cấp toàn quyền cướp đoạt tài sản của dân liên quan đến đất đai vườn ruộng.
Và độc tài kinh tế tài chánh, vì nền tảng trong lãnh vực này toàn là quốc doanh dưới tên gọi “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Do không có cạnh tranh nên không thể phát triển thích ứng với nền kinh tế thị trường thế giới tự do.
*****
Nhớ lại dòng lịch sử suốt chiều dài gần 5.000 năm, dân tộc ta trải qua những biến đổi đau thương do các triều đại phong kiến Trung Hoa cai trị tàn bạo nghiệt ngã ! :
1) Lần thứ nhất, từ năm 111 trước tây lịch đến năm 39 sau tây lịch = 150 năm.
2) Lần thứ hai, từ năm 43 đến năm 544 = 501 năm.
3) Lần thứ ba, từ năm 603 đến năm 939 = 336 năm.
4) Lần thứ tư vào thế kỷ 15, từ năm 1.414 đến năm 1.427 = 13 năm.
Cộng chung cả 4 thời kỳ bị trị đến 1.000 năm, hay là 40 thế hệ Việt Nam bị dìm sâu dưới chính sách cai trị nghiệt ngã tàn bạo của vua quan phong kiến Trung Hoa ! Nhưng từ trong nghiệt ngã đó, chúng ta phải cúi đầu khâm phục tổ tiên và dân tộc ta trong lịch sử, chẳng những đã không bị Trung Hoa đồng hóa, mà lại xây dựng và bảo vệ trọn vẹn một nền văn hóa trong sáng để lại cho chúng ta.
Nhưng từ khi đất nước lần lượt vào tay các nhóm Đảng cộng sản Việt Nam đến nay, thì những gì tồi tệ nhất, xấu xa nhất, hèn hạ nhất, nhục nhã nhất, trong xã hội xã hội chủ nghĩa đều có tất cả ! Đó là nỗi đau của cả dân tộc, cũng là nỗi đau của dòng lịch sử Việt Nam !
Vài nhân vật trong nước nhận định về cộng sản :
Giáo sư Trần Phương, đương nhiệm Chủ tịch Hội Khoa Học & Kinh Tế Việt Nam, chủ tọa hội thảo góp ý dự thảo các văn kiện Đại Hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam. Sau khi diễn giải từng đoạn, ông nhấn mạnh : (1) Chúng ta tự lừa dối chúng ta, và chúng ta lừa dối người khác. (2) Chủ nghĩa cộng sản đã thất bại, vì nó chỉ là ảo tưởng.
Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét “căn bệnh giả dối là nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất”, đang hoành hành xã hội Việt Nam, khiến “người ta thật sự không còn tin vào bất cứ điều gì nữa. Thậm chí, lãnh đạo đảng với nhà nước toàn là người vô cảm”.
Bài viết “Hoang Tưởng” của tác giả Metamorph từ trong nước : “…Mỗi khi gặp khó khăn, chúng ta thường mang cái quá khứ ra để tự ru ngủ, mong cái men chiến thắng của cha ông để trấn áp những cái nan giải trong hiện tại. Chúng ta cứ nhắc đến cái chiến thắng giặc Hán, giặc Pháp, giặc Mỹ mỗi ngày, nhưng tuyệt nhiên không hề nhắc đến cái nạn đói 1975-1990 do sai lầm của chúng ta, một nạn đói có thể tránh được nếu chúng ta đừng quá say men chiến thắng đến mức không quan tâm đến đời sống người dân ngày càng tụt hậu, đói khổ. Chúng ta cũng không hề lo nghĩ gì về nền giáo dục suy đồi, không lời than nào về một xã hội băng hoại gần như phá sản về đạo nghĩa ! … Từ đó,chúng ta bị sa lầy ở Cam Bốt suốt 10 năm, và đói nghèo suốt 15 năm. Tệ hại hơn là xã hội Việt Nam lùi lại, trong khi các quốc gia láng giềng vượt lên với mức phát triển nhanh chóng về khoa học kỹ thuật, văn hoá giáo dục, kinh tế xã hội… Trong khi đó, chúng ta quay lui lại thời xe hơi chạy than, xe bò, xe ngựa, còn lương thực thì bo-bo thay gạo, quần áo thì vá víu lem nhem, dùng phân xanh như thời trung cổ… Tại vì lãnh đạo chúng ta vẫn cứ hoang tưởng là cả thế giới đều ngưỡng mộ, và thế giới cần chúng ta hơn là chúng ta cần họ….”.
Nhật Ký Rồng Rắn của tướng Trần Độ viết từ năm 2000 mà đến nay là 2017 vẫn nguyên giá trị, rằng :… “Cho đến nay đã gần 30 năm (năm 2000) rồi mà ngày đêm vẫn phất cờ đánh trống, ngày đêm hò hét biểu dương, và cũng ngày đêm võ vẽ các thành tựu nhân dân ta làm ra, rồi dồn vào cái túi sáng suốt, cái túi tài tình của Đảng cộng sản. Lúc nào cũng bắt dân tung hô, chào mừng, ca ngợi. Chào đón mùa Xuân cũng phải chào mừng đảng. Kỷ niệm nông dân phụ nữ thanh niên, cũng biểu dương đảng, và tung hô đảng là nguyên nhân của thắng lợi. Ngày hội tưởng nhớ tổ tiên cũng phải biểu dương đảng, chào mừng đảng. Đám cưới đám ma cũng phải tưởng nhớ và chào mừng đảng. Có câu ca dao tuyệt vời đủ nói lên chân lý của thời đại : “Mất mùa thì tại thiên tai, được mùa là bởi thiên tài đảng ta ! Thật ra, mỗi người cộng sản có lương tâm phải biết xấu hổ về cái chân lý đó”…
Với nhà văn nữ Dương Thu Hương : “…Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười, thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp lắm vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do. Tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè. Và đầy dẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ.
Ở miền Bắc, tất cả mọi báo chí, đài phát thanh, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi, và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể, có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam, người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, đài Pháp, đài Anh, đài Mỹ, nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua một chế độ man rợ (cộng sản). Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải”. (trích trong Dân Luận online 21/4/2012)
Tiến sĩ Hà Sĩ Phu gọi văn hóa xã hội chủ nghĩa là thứ văn hóa lộn ngược. Ông giải thích : “Nghe nó “ngược” nhưng chắc gì đã “ngược”. Chẳng hạn như cả một bộ máy đảng bộ máy nhà nước “bị” làm đầy tớ của nhân dân thì sướng đến tột đỉnh, trong khi nhân dân “được” làm chủ trong các ngành sinh hoạt xã hội chủ nghĩa thì thất điên bát đảo, chạy gạo chạy cơm chạy tiền học cho con cho cháu đủ điên đầu. Khi người “được” làm chủ mà có việc phải đến với những người “bị” làm đầy tớ, thì từ đầu chí đuôi luôn bị hạch sách hoạnh hẹ đến mức phải vét tiền và kính cẩn “tự nguyện” đưa cho đầy tớ mới xong việc. Điều này rất thực, không ai phủ nhận được cả. Thế mới biết, trong một không gian đảo lộn thật giả giả thật, thì nói ngược chính là nói xuôi đó ! Vậy, chính xã hội chủ nghĩa đã tạo nên nhu cầu nói ngược, rồi theo thời gian nhu cầu nói ngược đó trở thành một nếp khác trong đời sống văn hóa ; nếp sống nói ngược nhưng là xuôi”.
Nhà thơ xã hội chủ nghĩa Phan Huy, sau khi từ thủ đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vào đến thủ đô Sài Gòn, đã tận mắt nhìn thấy đời sống vât chất lẫn nếp sống văn hóa của người Việt Nam Cộng Hòa cũ, tác giả đã viết bài thơ bằng cả tâm hồn của con người vừa thức tĩnh, “Cảm Tạ Miền Nam”, như sau :
Tôi đã vào một xứ sở thần tiên.
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền.
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.
Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục.
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em.
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền.
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.
Trước mắt tôi, một miền Nam sinh động.
Đất nước con người dân chủ, tự do.
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô.
Giận đảng, giận đoàn bao năm phỉnh gạt"....
Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt.
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng "kính yêu".
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều.
Con người nói năng như là chim vẹt.
Mở miệng ra là : "Nhờ ơn bác đảng.
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh.
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mác Lenin.
Tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đường vô sản.
Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng.
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu.
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu.
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu"...
"Trên đường về, đất trời như sụp đổ.
Tôi thấy mình tội lỗi với miền Nam.
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm.
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước".....
******
Năm 1976, tù chính trị cấp tướng và cấp đại tá chúng tôi bị cộng sản Việt Nam chuyển từ các trại tập trung trong Nam ra Bắc. Các cấp khác bị gắn cho cái tội tình báo, chiến tranh chính trị, cùng các đảng chính trị, và những vị bên hành chánh hoặc do dân cử vào Quốc hội, cũng bị chuyển ra Bắc. Đa số chuyển lên vùng rừng núi Tậy Bắc Hà Nội và vùng biên giới Việt – Trung. Tôi, trong số tù chính trị bị giam trong trại tập trung vùng rừng núi Tây Bắc, khoảng 6 cây số phía Nam thị Yên Bái. Họ tổ chức chúng tôi thành từng Đội, tôi cùng trong Đội với Đại tá Dương Hiếu Nghĩa. Sau đại hội 4 của Đảng cộng sản, Trung úy cộng sản Việt Nam tên Khảm là “quản giáo” Đội chúng tôi.
Một hôm, trong lớp học chính trị, tên Khảm lớn tiếng mạnh miệng với chúng tôi : “Trong đại hội 4, tổng kết thiệt hại trong chiến tranh lên đến 4.000.000 thanh niên miền Bắc. Tại vì bọn ngụy các anh ôm chân đế quốc Mỹ cho nên chiến tranh kéo dài, làm cho thanh niên miến Bắc chúng tôi thiệt hại nhiều đến thế”. Hắn nói với giọng hằn học, như thể lỗi do chúng tôi chớ không phải do cái Đảng cộng sản của hắn xâm lăng chúng tôi nên phải trả cái giá tương xứng theo qui luật trong cuộc sống”.
Xoay quanh con số đó, nhà văn nữ cộng sản Dương Thu Hương thì cho rằng, số thiệt mạng của miền Bắc là 10.000.000 người, con số của Trung úy cộng sản Việt Nam tên Khảm là 4.000.000 người chết, năm 1998 thì Bộ Thương binh & Xã hội cộng sản Việt Nam công bố số người miền Bắc chết trong chiến tranh là hơn 3.000.000 người. Thôi thì, cho dù 10 triệu, 4 triệu, hay 3 triệu cộng sản Việt Nam chết, đó cũng là cái giá phải trả trả khi xua quân xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi theo qui luật cuộc sống mà : “Làm điều gì thì nhận lại điều đó” là lẽ đương nhiên. Nói rõ hơn, là làm điều tốt sẽ nhận lại điều tốt, làm điều xấu sẽ nhận lại điều xấu.
Tổn thất của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta gồm cả quân và dân trong chiến tranh, cùng với quân của đồng minh, tổng cộng thiệt mạng khoảng 500.000 người. Sau chiến tranh, khoảng hơn 100.000 người Việt Nam Cộng Hòa cũ bị chết thảm khốc tại các khu kinh tế mới do Đảng cộng sản Việt Nam đuổi người dân vào đó để chúng cướp nhà cướp tài sản, và tù chính trị chết trong hơn 200 trại tập trung khắc nghiệt. Và theo tài liệu của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, ước tính trong 20 năm từ 1975 đến 1995, trong số người vượt biên vượt biển có khoảng 400.000 đến 500.000 người đã chết mất xác trong rừng sâu và trên biển cả, khi chạy trốn cộng sản Việt Nam đi tìm cuộc sống tự do cho bản thân và cho thế hệ tương lai !
Và tội ác kinh hoàng nhất là tội ác giáo dục xã hội chủ nghĩa.



