
Những ngày đầu tháng Ba, tin nhắn đến vào một buổi trưa ẩm ướt: “Lê Anh Hùng lại bị bắt rồi.” Câu chữ ngắn, lạnh, nhưng phía sau là một hành trình dài hơn mười lăm năm, với những vòng quay quen thuộc của tra hỏi, tạm giam, giám định tâm thần, toà án, và những cánh cửa sắt đóng lại sau lưng một con người chỉ có vài thứ vũ khí: chữ nghĩa, niềm tin và một sự bướng bỉnh khó giải thích bằng ngôn ngữ “bình thường”.
Lê Anh Hùng không bắt đầu như một “nhà đối kháng chuyên nghiệp”. Anh đi vào đời bằng con đường báo chí, dịch thuật, bình luận thời sự, cộng tác với VOA, RFA, Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam. Khi anh viết công khai, nêu đích danh những nhân vật quyền lực như Hoàng Trung Hải hay Nguyễn Phú Trọng, cáo buộc họ phản bội lợi ích quốc gia, anh biết mình đã bước qua lằn ranh. Nhưng giống như nhiều người đi trước, anh chấp nhận điều đó như hệ quả tất yếu của việc gọi tên những điều đa số chỉ dám nghĩ thầm.
Lần đầu bị bắt cuối năm 2009, anh bị công an Quảng Trị khởi tố vì “vu khống”, rồi chuyển sang giám định pháp y tâm thần. Kết luận: “rối loạn hoang tưởng dai dẳng, mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.” Điều tra đình chỉ, không xét xử, nhưng buộc “chữa bệnh bắt buộc”. Cú gập này trong cuộc đời Lê Anh Hùng báo trước một mô-típ sẽ còn lặp lại: khi không biết xử lý thế nào một người nói quá nhiều điều “khó nghe”, hệ thống đẩy họ sang phía bên kia ranh giới giữa “bình thường” và “tâm thần”. Người ta bớt phải tranh luận với anh, chỉ cần nói: anh bị bệnh.
Thế nhưng “bản án tâm thần” không đủ để khiến anh im tiếng. Đỉnh điểm là buổi sáng cuối tháng Năm 2018, khi anh cầm băng rôn đứng giữa phố Tây Sơn đông đúc, với dòng chữ yêu cầu khởi tố “tên trùm gián điệp Tàu Hoàng Trung Hải” và “tên Việt gian bán nước Nguyễn Phú Trọng” – không còn là bài viết trên mạng, mà là tấm vải treo giữa không trung, trước mắt người qua lại.
Hơn một tháng sau, anh bị bắt lần thứ hai với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước” – một điều luật rộng đến mức bất cứ lời phê phán nào cũng có thể bị nhét vào. Anh bị chuyển vào viện pháp y tâm thần hơn ba năm. “Điều trị” ở đây không phải là những buổi trò chuyện tâm lý nhẹ nhàng: dây trói, thuốc tiêm, môi trường kiểm soát chặt chẽ, nơi ranh giới giữa chữa trị và trừng phạt bị làm mờ đi có chủ ý. Tháng 8/2022, toà án Hà Nội tuyên 5 năm tù theo điều 331.
Nhưng bên trong những bức tường nhà giam và bệnh viện, Lê Anh Hùng viết. Anh hệ thống lại suy nghĩ về quyền lực – cách nó được tạo ra, phân phối, kiểm soát trong lịch sử và trong bối cảnh Việt Nam. Những bản thảo được chuyền tay, được giấu, chuyển ra ngoài bằng những con đường không bao giờ được kể chi tiết. Từ những mảnh giấy trong phòng giam, một cuốn sách dần thành hình.
Tháng 7/2023, anh mãn hạn. Chưa đầy một năm sau, anh cho ra mắt “Quyền lực và vấn đề kiểm soát quyền lực trong xã hội” – không phải cuốn sách “giải khuây” hậu nhà tù, mà là kết tinh của những suy tưởng trong giai đoạn bị tước tự do. Những người đọc, từ nhà kinh tế, nhà ngoại giao đến nhà văn, ngạc nhiên trước mức độ hệ thống và khả năng nối kết lý thuyết quyền lực phương Tây với hiện thực Việt Nam. Câu hỏi bật ra không chỉ một lần: một người từng bị giám định là “rối loạn hoang tưởng dai dẳng” lại có thể viết ra một bản luận giải mạch lạc như thế sao?
Sau khi sách ra mắt, anh đi khắp nơi, thăm những cựu tù nhân lương tâm, trao sách, trò chuyện, ghi nhận câu chuyện của họ – vừa như người truyền đạo cho ý tưởng kiểm soát quyền lực, vừa nối kết lại một cộng đồng bị phân tán bởi đàn áp và sợ hãi.
Đến trưa ngày 9/3/2026, anh bị bắt lần thứ ba tại một xã nhỏ ở Lâm Đồng, khi đang lưu trú tại nhà một cựu tù nhân lương tâm. Vài ngày sau, báo chí nhà nước đưa tin: anh bị khởi tố theo điều 117 – nặng hơn, trực diện hơn, dành cho những ai bị coi là “tuyên truyền” chống nhà nước. Chỉ trong hơn mười lăm năm, một người viết đã ba lần bị cuốn vào guồng máy hình sự và tâm thần.
Nhìn dọc trục thời gian từ 2009 đến 2026, người ta có thể gọi đây là bài học về đàn áp. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, sẽ thiếu một nửa câu chuyện. Nửa còn lại: giữa những lần bị bắt, Lê Anh Hùng không chỉ chịu đựng mà còn chuyển hoá trải nghiệm cá nhân thành suy tư có cấu trúc về quyền lực, rồi cố gắng trao lại suy tư ấy cho người khác.
Những hồ sơ như của anh thường được xếp vào các cụm từ kỹ thuật: “tù nhân lương tâm”, “điều 331, 117”, “cưỡng bức điều trị tâm thần”… Những cụm từ ấy thuận tiện cho báo cáo nhân quyền, nhưng dễ khiến ta quên rằng đằng sau mỗi “trường hợp” là một người với gia đình, những ngày bình thường, những do dự và sợ hãi. Điều câu chuyện của Hùng gợi ra, khi dõi theo hơn mười lăm năm, là sự chênh lệch giữa cách nhà nước nhìn tiếng nói phản biện – như “vấn đề an ninh” cần giải quyết – và cách những người ấy nhìn chính mình: như công dân cố dùng tiếng nói cá nhân để điều chỉnh một hệ thống đang nghiêng lệch.
Trong logic của nhà nước, con người được đóng khung: “ngoan” hoặc “nguy hiểm”. Cách xử lý khá giống nhau: dùng điều luật mơ hồ như 331, 117 để kết án; hoặc chuyển sang bệnh viện tâm thần để vừa cô lập, vừa tước tính chính đáng của tiếng nói. Trong báo cáo quốc tế, người ta gọi đó là “lạm dụng tâm thần học để trừng phạt bất đồng chính kiến”; trong đời sống, đó là những ngày nằm bất động, những mũi tiêm làm chậm lại trí óc.
Câu chuyện của Hùng cho thấy một dạng “hình phạt dài hạn”: không phải một cú đánh duy nhất, mà ba vòng quay bắt–giam–giám định–xử–thả–bắt lại. Mỗi vòng, hệ thống thêm một lớp hồ sơ, một lớp nhãn mác. Sự kết hợp giữa kết luận hình sự và kết luận tâm thần tạo ra giam hãm kép: vừa là tội phạm, vừa là bệnh nhân.
Tuy vậy, bài học từ trường hợp Hùng không chỉ là sự khắc nghiệt của đàn áp. Bài học quan trọng không kém nằm ở năng lực chuyển hoá của những người dấn thân. Không phải ai bị giam cũng viết được sách; không phải ai bị tiêm thuốc cũng còn đủ tỉnh táo để nghĩ về “quyền lực” theo nghĩa trừu tượng. Chính việc Hùng dùng những năm tháng bị tước tự do để suy tư rồi biến nó thành sách cho thấy một kiểu phản kháng khác: duy trì, thậm chí nâng cấp, năng lực tư duy trong điều kiện được thiết kế để làm con người rối loạn. Việc cuốn sách được đọc và trích dẫn – dù chỉ trong các vòng tròn nhỏ – tự thân đã phá vỡ kịch bản mà hệ thống dành cho anh.
Câu chuyện này cũng đặt ra câu hỏi với phần còn lại của xã hội: những tiếng nói phản biện đang thực sự nói thay cho ai? Khi Hùng cảnh báo về nguy cơ lệ thuộc Trung Quốc, sự tập trung quyền lực, thiếu vắng tam quyền phân lập – anh không chỉ nói cho những người cùng “phe ngoan cố”. Anh nói về những rủi ro cả xã hội phải gánh: kinh tế lệch lạc, môi trường bị tàn phá, chủ quyền bị xói mòn. Việc anh bị bắt lần thứ ba ngay trước kỳ bầu cử đặt ra câu hỏi cụ thể: trong tiến trình chính trị dựa trên “đại diện”, những người cảnh báo về khiếm khuyết của hệ thống ấy có chỗ đứng ở đâu?
Và có lẽ bài học khó chịu nhất mà trường hợp này đặt ra cho những người ở ngoài là câu hỏi về phần lựa chọn của chính mình. Không phải ai cũng có thể hay nên chấp nhận rủi ro như anh. Nhưng sự tồn tại của những người như anh, qua nhiều năm và nhiều vòng đàn áp, khiến câu hỏi “tôi chấp nhận điều gì để đổi lấy sự im lặng?” trở nên khó né tránh hơn.
Những tiếng nói phản biện ở Việt Nam không chỉ là “nạn nhân” hay “anh hùng” trong một câu chuyện xa lạ, mà là những tấm gương thử, soi vào vùng tối trong chính sự an toàn của chúng ta. Đó là lý do tại sao, dù đã ba lần bị bắt, câu chuyện về Lê Anh Hùng vẫn tiếp tục được kể – như lời nhắc rằng ở đâu đó, trong một căn phòng giam nào đó, vẫn có người đang cố viết tiếp những dòng dang dở về quyền lực và cách nó cần được giữ trong giới hạn.
Phạm Đình Bá
Nguồn: thekymoi.media
VNTB xin trân trọng giới thiệu với quý độc giả chương cuối trong quyển sách ” Quyền Lực và Kiểm Soát Quyền Lực” của cựu tù nhân lương tâm Lê Anh Hùng.
Để có thể có được những nhận định trong chương cuối cùng, tác giả đã trình bày những quan điểm, khái niệm về quyền lực trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Cách trình bày khoa học và xuyên suốt giúp cho độc giả hiểu hơn về quyền lực và việc kiểm soát quyền lực trong xã hội hiện đại.
Mọi đánh giá, xin dành cho độc giả sau khi đọc xong công trình công phu này của Lê Anh Hùng.
Những người đã đọc qua sách của cựu TNLT Lê Anh Hùng đã nhận xét gì?
Một người bị coi là mắc bệnh tâm thần mà chưa đầy một năm sau khi ra tù đã viết được cuốn sách này thì quả đáng khâm phục.
TS Nguyễn Quang A
Quyền lực chính trị vốn rất khó trung tính và khách quan, tùy thuộc vào cá nhân hay tập thể giành giật và thực thi nó theo con đường nào, bá đạo hay vương đạo. “Quyền lực và vấn đề kiểm soát Quyền lực trong Xã hội” thời mạt pháp hiện nay đang thực sự là một thách thức lớn đối với giới nghiên cứu. Chúc mừng tác phẩm mở lối đầy ấn tượng! Hy vọng ở Việt Nam, “tăng đoàn” của Lê Anh Hùng sẽ ngày càng đông đảo và quan trọng nhất là sẽ không bị “giải tán”.
Đinh Hoàng Thắng
Tiến sỹ Khoa học Chính trị, Corvinus University, Budapest, Hungary (nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan)
Vấn đề quyền lực ở Việt Nam hiện nay đang rất nóng, rất cần có sự lý giải cặn kẽ và hướng giải quyết đúng đắn. Tôi thấy cuốn sách “Quyền lực và vấn đề kiểm soát quyền lực trong xã hội” có nội dung bao quát, có tính hệ thống rất cao. Tôi chưa thấy ở Việt Nam, sách tiếng Việt mà có được sự tổng hợp hệ thống như vậy.
Nhà văn Nguyễn Nguyên Bình, Hội Nhà văn Hà Nội (nguyên Trung tá Quân đội Nhân dân Việt Nam)
Tôi biết Lê Anh Hùng là một dịch giả, là một nhà bình luận thời sự. Và tôi cũng biết anh đã bước đến cánh cửa nhà tù, thông qua việc điều trị “tâm thần” không hồ sơ, bệnh án. Nhưng với cuốn sách “Quyền lực và vấn đề kiểm soát quyền lực trong xã hội”, Lê Anh Hùng đã tự giới thiệu bằng một bức chân dung hoàn toàn thông minh, trí tuệ và luôn thao thức cho một xã hội có các công dân biết nhận thức đúng về thời đại mà mình đang sống.
Nhạc sỹ Tuấn Khanh
Cuốn sách anh viết không tô màu cho những giá trị Tây phương, mà nêu vấn đề một cách khách quan để độc giả có thể tìm hiểu. Đây là cuốn sách về quyền lực rất đáng đọc không chỉ cho các quan chức Việt Nam, mà còn cho khối xã hội dân sự cũng như các hội nhóm khác đang mong muốn đấu tranh cho một Việt Nam tốt đẹp hơn.
Nguyễn Viết Dũng, cựu TNLT
*****
Chương 15 – Lựa chọn nào cho Việt Nam?
Hiện thực màu xám
Đối chiếu những gì mà nội dung cuốn sách đã bàn tới cho đến thời điểm này với thực tế ở Việt Nam, rõ ràng chính thể Việt Nam hiện nay đã vi phạm gần như tất cả các nguyên tắc cơ bản của kiểm soát quyền lực. Tất cả quyền lực trong xã hội hầu như tập trung trong tay một chủ thể độc nhất – đó là Đảng Cộng sản Việt Nam, chính đảng duy nhất không chỉ được phép tồn tại và hoạt động mà còn được hiến định là “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội” (nghĩa là chính thể độc đảng, không đa nguyên đa đảng); nhà nước không được tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập theo đúng nghĩa; người dân không được hưởng các quyền tự do chính trị, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do biểu tình, v.v.; và hệ thống các tổ chức chính trị – xã hội và chính trị – xã hội – nghề nghiệp trên thực tế chỉ là “cánh tay nối dài” của Đảng Cộng sản (chứ không phải là các tổ chức xã hội dân sự theo đúng nghĩa), v.v.
Hậu quả của thực trạng trên có lẽ không cần phải nhắc thêm nhiều: một nền kinh tế chậm phát triển bất chấp tốc độ tăng trưởng hàng năm vẫn tương đối cao (tăng trưởng thiếu bền vững, thiếu thực chất) [1] ; một xã hội với nền tảng đạo đức ngày càng xuống cấp, suy đồi; tình trạng bất bình đẳng, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày càng gia tăng; xã hội ngày càng thiếu trật tự và mất an toàn; một dân chúng luôn bị đè nén, luôn phải sống trong sợ hãi, không dám mở miệng, và bất kỳ ai dám cất lên tiếng nói của lương tri, của lý trí trước hiện tình của xã hội và đất nước thì đều bị coi là một “tù nhân dự khuyết”…
Về mặt ngoại giao, với tiềm lực ngày càng bị Trung Quốc bỏ xa, Việt Nam luôn bị quốc gia láng giềng phương Bắc o ép đủ bề, trong khi ảnh hưởng đối với Campuchia và Lào thì ngày càng mai một, bởi hai quốc gia láng giềng phía Tây này (đặc biệt là Campuchia) đã đi theo quỹ đạo ảnh hưởng của Bắc Kinh.
Điều đặc biệt đáng lo ngại là Việt Nam đang rơi vào tình cảnh bị Trung Quốc ngày một siết chặt các gọng kìm kiềm toả từ bốn hướng. Trong bối cảnh Trung Quốc không ngừng trỗi dậy một cách đầy đe dọa đối với trật tự thế giới dựa trên luật pháp, Việt Nam – quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất từ sự trỗi dậy đó – không thể tồn tại và phát triển bên cạnh người láng giềng phương Bắc này nếu không thay đổi theo hướng dân chủ hoá, mở đường cho sự phát triển lành mạnh và bền vững của nước nhà. Chỉ có dân chủ hoá đất nước quyền lực mới có thể được kiểm soát; chỉ có dân chủ hoá Việt Nam mới có thể trở nên hùng cường cả về kinh tế lẫn quốc phòng; chỉ có dân chủ hoá Việt Nam mới có thể thống nhất được lòng người, trong Nam và ngoài Bắc, trong nước và ngoài nước, và thực sự hoà giải, hoà hợp dân tộc; chỉ có dân chủ hoá Việt Nam mới nhận được sự tin tưởng, hợp tác và hỗ trợ thực tâm của các dân tộc tiến bộ trên thế giới, đặc biệt là Mỹ và các đồng minh phương Tây. Đây là những điều kiện cần và đủ để Việt Nam có thể tồn tại và phát triển bên cạnh nanh vuốt của chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc.
Thay đổi, nhưng theo cách nào?
Thay đổi thể chế chính trị của một quốc gia là điều hết sức không đơn giản. Một số người cho rằng cựu Tổng Bí thư Lê Duẩn từng có ý định duy trì hệ thống kinh tế ở Miền Nam trong những ngày tháng đầu tiên sau khi đất nước thống nhất, làm tiền đề cho sự thay đổi hệ thống ở Miền Bắc.1 Tuy nhiên, ý định được cho là sáng suốt đó của ông cuối cùng đã không trở thành hiện thực. Có lẽ, dù ở cương vị lãnh đạo tối cao và với uy tín gần như tuyệt đối vào thời điểm đó, ông vẫn không vượt qua nổi sức ỳ của hệ thống, lực cản của các nhóm lợi ích trong bộ máy lúc bấy giờ, nhất là khi thực tiễn của đất nước nói riêng và của hệ thống xã hội chủ nghĩa nói chung vẫn chưa đủ giúp họ “sáng mắt sáng lòng” và bối cảnh quốc tế thì chưa thuận lợi.
Không giống như bối cảnh đất nước năm 1975, điều thuận lợi cho một sự thay đổi chính trị ở Việt Nam lúc này là tình hình khu vực và thế giới đã thay đổi, hệ thống xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ, chỉ còn vài quốc gia theo chủ thuyết cộng sản, nhưng nước nào cũng “tiến lên chủ nghĩa xã hội” theo con đường của nước ấy, chưa kể một Trung Quốc xã hội chủ nghĩa đã không còn che giấu dã tâm Đại Hán, mà luôn chực chờ tìm cách thôn tính một Việt Nam xã hội chủ nghĩa láng giềng, như những bài học lịch sử hàng ngàn năm qua đã dạy chúng ta.
Mặc dù phần lớn bộ máy có lẽ đều đã “sáng mắt sáng lòng” trước hiện thực đất nước và thế giới, đồng thời hiểm hoạ phương Bắc đã hiện lên lồ lộ, nhưng sự thay đổi ở Việt Nam, dù chỉ diễn ra từ từ và từng bước, xem ra vẫn hết sức khó khăn, thậm chí nhiều khi còn bị đảo ngược, như những gì chúng ta đã được chứng kiến trong vài chục năm gần đây. Nguyên nhân chính trước hết là do sức ỳ của một hệ thống già cỗi và bệ rạc, thứ hai là do lực cản của các nhóm lợi ích trong bộ máy, và thứ ba là do “bàn tay lông lá” của Bắc Kinh – các ông chủ Trung Nam Hải dĩ nhiên không muốn Việt Nam dân chủ hoá rồi đi vào quỹ đạo của Mỹ và phương Tây, mà họ muốn một Việt Nam yếu hèn, bạc nhược, dễ sai bảo, để nếu không bị thôn tính thì cũng nằm trong quỹ đạo ảnh hưởng của họ.
___________
Chú thích:
[1] Các quốc gia như Hàn Quốc, Singapore hay Đài Loan chỉ sau 30 năm tăng trưởng liên tục đã trở thành những “con hổ Châu Á” (cả ba quốc gia hiện đều được xếp vào nhóm các quốc gia phát triển), trong khi Việt Nam cũng đã tăng trưởng liên tục ở mức cao kể từ năm 1986 đến nay song mới chỉ lọt vào nhóm các quốc gia có mức GDP đầu người trung bình thấp.
Nguồn: vietnamthoibao.org

