Độc lập, tự do ở đâu khi dân mất đất và sắp mất cả quyền toàn vẹn thân thể? (Nhật Ngôn)

(VNTB) – Muốn học theo 43 nước tiên tiến, hãy trả lại cho dân những gì 43 nước đó đang có: Quyền tư hữu đất đai, quyền được cấp cứu không cần tạm ứng, quyền được ăn thực phẩm sạch, và quyền được nói không với việc lấy tạng của con mình.

Tuyên ngôn Độc lập 1945 viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Câu đó được viện dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ. Nhưng 80 năm sau, hãy hỏi một người nông dân Việt Nam: Quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền sở hữu của ông ở đâu?

1. NGÀN NĂM BẮC THUỘC, DÂN TA KHÔNG MẤT ĐẤT

Suốt 1000 năm Bắc thuộc, chính quyền đô hộ là người Hán, nhưng ruộng đất vẫn là của làng xã Việt. Chế độ công điền công thổ của làng, ruộng tư của gia đình vẫn được duy trì. Người nông dân nộp tô cho quan Tàu, nhưng vẫn có quyền cày cấy trên mảnh ruộng của cha ông để lại, vẫn có quyền để lại cho con cháu. Đất là của dân, làng giữ sổ địa bạ.

Không có triều đại phong kiến nào, kể cả nhà Hán, nhà Đường, nhà Minh khi cai trị trực tiếp, dám tuyên bố: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện.

2. GẦN TRĂM NĂM PHÁP THUỘC, DÂN TA KHÔNG MẤT ĐẤT

Thực dân Pháp cướp đất lập đồn điền, nhưng về mặt pháp lý, chúng vẫn phải thừa nhận chế độ tư hữu đất đai. Chúng lập Sở Địa chính, đo đạc, cấp bằng khoán điền thổ.

Vụ án Đồng Nọc Nạng năm 1928 ở Giá Rai, Bạc Liêu là bằng chứng đanh thép nhất: Một gia đình nông dân nghèo có bằng khoán đất hợp pháp đã dám kiện và chống lại bọn cường hào, hương chức có lính Pháp hậu thuẫn để giữ đất. Và quan tòa Pháp, dù là thực dân, vẫn phải xử dựa trên bằng khoán đó. Người nông dân thời Pháp thuộc có một tờ giấy để ra tòa đòi đất.

Quyền sở hữu đất đai là quyền tư hữu thiêng liêng, được luật pháp bảo hộ.

3. MIỀN NAM 20 NĂM LỬA KHÓI, DÂN TA KHÔNG MẤT ĐẤT

Dưới chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, Hiến pháp 1967 Điều 20 ghi rõ: Nhà nước thừa nhận và bảo hộ quyền tư hữu tài sản.

Chương trình Cải cách điền địa 1970-1973 “Người cày có ruộng” của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là cuộc cải cách ruộng đất ôn hòa và triệt để nhất lịch sử Việt Nam: Nhà nước mua lại ruộng đất của đại điền chủ với giá thị trường bằng công trái, rồi bán lại cho tá điền với giá rẻ, trả góp 20 năm. Hơn 1 triệu hecta được chia, 1,5 triệu nông dân thành chủ đất thực sự. Họ có bằng khoán, được thế chấp ngân hàng, được để lại cho con cháu.

Dù chiến tranh ác liệt, người nông dân miền Nam không mất đất. Họ mất mạng vì bom đạn, nhưng không mất quyền sở hữu.

4. TỪ KHI ĐẢNG CỘNG SẢN CƯỚP CHÍNH QUYỀN, DÂN TA MẤT ĐẤT

Năm 1953, Cải cách ruộng đất long trời lở đất. Khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”. Hàng trăm ngàn người bị quy là địa chủ dù chỉ có vài mẫu ruộng, bị đấu tố, bị bắn. Họ hoàn toàn không phạm phải tội ác để để phải bị xử bắn. Đất của họ bị chia. Nhưng chia xong, đất không thuộc về nông dân.

Đến Hiến pháp 1980, Điều 19 ghi rõ: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Đến Hiến pháp 2013, Điều 53 vẫn giữ nguyên: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.

Từ đó, người nông dân Việt Nam từ chủ đất trở thành người đi thuê đất của chính Nhà nước mình, qua tờ giấy gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải quyền sở hữu.

Vụ Đồng Tâm 2020 là đỉnh điểm: Dân giữ đất bằng máu. Ba người dân và ba chiến sĩ công an chết chỉ vì tranh chấp một cánh đồng. Nếu đất là sở hữu tư nhân có bằng khoán như thời Pháp, như thời Đồng Nọc Nạng, thì tranh chấp đó được giải quyết ở tòa dân sự. Nhưng vì đất là sở hữu toàn dân, nên Nhà nước vừa là người đi thu hồi đất, vừa là người ra quyết định cưỡng chế, vừa là người định giá đền bù. Người dân mất đất, mất luôn cả quyền kiện.

Đó là sự vô lý lịch sử: Ngàn năm Bắc thuộc không mất đất, trăm năm Pháp thuộc không mất đất, 20 năm chiến tranh Quốc-Cộng không mất đất. Chỉ sau khi hòa bình, thống nhất dưới sự cầm quyền của một đảng duy nhất lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm nền tảng – một học thuyết chủ trương xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất – thì dân ta mới mất đất.

Học thuyết Marx-Lenin nói: Xóa bỏ sở hữu tư nhân để giải phóng con người khỏi áp bức. Nhưng thực tế Việt Nam đã chứng minh ngược lại: Xóa bỏ sở hữu tư nhân về đất đai đã biến người nông dân từ người chủ thành kẻ làm thuê trên chính quê hương mình, và biến đất đai thành nguồn lợi lớn nhất cho tham nhũng.

5. TỪ MẤT ĐẤT ĐẾN MẤT QUYỀN TOÀN VẸN THÂN THỂ

Khi quyền sở hữu đất đai – quyền tư hữu cơ bản nhất để mưu cầu hạnh phúc – đã mất, thì các quyền hiển nhiên khác cũng lần lượt mất theo quy luật của chủ nghĩa toàn trị.

Tuyên ngôn 1945 nói quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc là bất khả xâm phạm. Nhưng:

– Quyền được sống ở đâu khi trẻ em phải đi ăn xin qua quỹ từ thiện để được mổ tim vì không có tiền tạm ứng? Khi thực phẩm bẩn đầu độc cả dân tộc vì y tế dự phòng thất bại?

– Quyền tự do ở đâu khi người dân không có quyền tự do báo chí để giám sát danh sách chờ ghép tạng?

– Quyền mưu cầu hạnh phúc ở đâu khi người dân không có quyền sở hữu đất để tích lũy tài sản cho con?

Và bây giờ, khi dự luật hiến tạng trẻ vị thành niên được trình ra, với phiếu khảo sát phát đến tận học sinh 7 tuổi ghi rõ thông tin cá nhân, với lịch trình ghép nối giữa tàu bệnh viện 1,35 tỷ USD, du lịch y tế đón khách nước ngoài và khám sức khỏe toàn dân bằng VNeID, thì người dân có quyền lo sợ bước tiếp theo: Mất quyền an toàn và toàn vẹn cơ thể.

Nếu đất đai là sở hữu toàn dân, thì thân thể người có phải cũng sẽ trở thành tài sản toàn dân được điều phối vì lợi ích toàn dân hay không? Khi một đứa trẻ chết não, ai là người quyết định nó chết? Hội đồng do bệnh viện ghép tạng lập ra. Ai là người hưởng lợi? Bệnh viện và người nhận tạng có tiền. Gia đình đứa trẻ nghèo được gì ngoài một tờ giấy khen nhân văn?

Đó là logic của sở hữu toàn dân được mở rộng từ đất đai sang thân thể.

KẾT LUẬN: 6 TRIỆU NHÂN MẠNG VÌ CÁI GÌ?

Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1975 có khoảng 4 đến 6 triệu người Việt chết vì chiến tranh, bao gồm cả hai miền, cả lính và dân. Tất cả những người đó đều được nói là hy sinh cho độc lập, tự do.

Độc lập là gì? Là không còn ngoại bang cai trị. Không ai thấy ngoại bang cai trị, nhưng tất cả đều bị cai trị bởi chủ nghĩa Marx -Le và bị tước quyền sở hữu đất đai. Như vậy thì có độc lập không?

Tự do là gì? Tự do theo nghĩa của Tuyên ngôn 1945 và Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, là quyền sở hữu tài sản, quyền tự do ngôn luận, quyền được bảo vệ toàn vẹn thân thể.

Nếu độc lập mà người dân mất quyền sở hữu đất đai, quyền mà ngay cả thời Bắc thuộc và Pháp thuộc vẫn còn giữ được, thì nền độc lập đó là độc lập gì, độc lập cho ai?

Nếu tự do mà người dân không có quyền sở hữu, quyền tự do định đoạt tài sản, đất đai thì tự do đó ở đâu? Và bây giờ, người dân cũng sẽ không có quyền từ chối việc con mình 7 tuổi, trẻ vị thành niên bị ghi tên vào danh sách khảo sát hiến tạng, thì tự do đó ở đâu?

Chủ nghĩa Marx-Lenin du nhập vào Việt Nam hứa hẹn sẽ xóa bỏ áp bức bóc lột, đem lại ruộng đất cho dân cày. Nhưng sau 80 năm, ruộng đất không còn là của dân cày. Nó là của toàn dân, tức là của không ai cả, để rồi ai có quyền có tiền thì có đất. Và bây giờ, khi đất đã hết để chia, thì người ta lại bàn đến việc chia cả nguồn tạng.

Một dân tộc đã hy sinh 6 triệu nhân mạng để giành độc lập, tự do không thể để kết thúc bằng việc mất cả đất đai lẫn quyền toàn vẹn thân thể dưới mỹ từ nhân văn.

Muốn học theo 43 nước tiên tiến, hãy trả lại cho dân những gì 43 nước đó đang có: Quyền tư hữu đất đai, quyền được cấp cứu không cần tạm ứng, quyền được ăn thực phẩm sạch, và quyền được nói không với việc lấy tạng của con mình.

Đó mới là độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự.

Nhật Ngôn

Nguồn: vietnamthoibao.org

About the author