Nhân Kỷ Niệm Cách Mạng Tháng 8,  Nhận Định Một Ngộ Nhận Lịch Sử Tai Hại (Nguyễn Gia Kiểng)

Các sử gia giầu tự hào dân tộc đã khiến người Việt nghĩ là chúng ta có một lịch sử dài và oai hùng. Điều này rất sai, với hậu quả rất tai hại. Một dân tộc không hiểu lịch sử của mình cũng giống như một người không biết mình là ai, cần làm gì và có thể làm gì, rồi đi từ vụng dại này đến sai lầm khác. 

Nguyễn Gia Kiểng

Một lần nữa, nhân kỷ niệm 81 năm biến cố lịch sử Cách Mạng Tháng 8, từ ngày 19/08/1945 -ngày mà ông Hồ Chí Minh gọi là ngày Đảng Cộng Sản Việt Nam cướp chính quyền- đến ngày 02/09/1945 khi ông tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, hai câu hỏi cần được đặt ra là tại sao Đảng Cộng Sản đã thắng và tại sao nó vẫn còn duy trì được chế độ độc tài toàn trị.


Nhìn lại thành tích của Đảng Cộng Sản 

Nhắc lại, Đảng Cộng Sản Việt Nam được chính thức thành lập ngày 03/02/1930 tại Hồng Kông như một thành viên của Quốc Tế Cộng Sản (hay Quốc Tế 3), gần hai năm sau khi Đại Hội 6 của Quốc Tế Cộng Sản đã long trọng khẳng định rằng các thành viên chỉ có một tổ quốc duy nhất là Liên Xô. Tám tháng sau theo lệnh của Liên Xô nó đổi tên thành Đảng Cộng Sản Đông Dương. Nó không còn là một đảng Việt Nam. 

Năm sau, 1931, nó nổi dậy lần đầu tại nước ta dưới danh xưng Xô Viết Nghệ Tĩnh với khẩu hiệu ‘trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ’ nghĩa là giết sạch mọi người bị coi là trí thức, giầu có, địa chủ hoặc có uy tín. Cuộc nổi loạn dã man này đã bị dập tắt một cách tàn bạo sau khi phạm vô số tội ác.

Bình thường một đảng như vậy không thể có được một sự ủng hộ nào từ nhân dân Việt Nam mà còn phải bị lên án, nhưng vào thời điểm 1945 nó lại là đảng mạnh nhất và được ủng hộ nhất -kể cả bởi những trí thức nổi tiếng nhất- nên đã cướp được chính quyền một cách dễ dàng. (Xin nhắc lại chữ cướp là do chính ông Hồ Chí Minh dùng). Đây không chỉ là một điều vô lý mà còn là một điều nghịch lý.

Ngay sau đó nó đã thẳng tay tàn sát hàng trăm nghìn đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt, những người lấy đất nước Việt Nam làm lý tưởng chính trị, mở đầu cho cuộc nội chiến kéo dài 30 năm, từ năm 1945 đến năm 1975, làm đất nước tan hoang và gần sáu triệu người chết. Xen kẽ trong cuộc nội chiến khốc liệt này là cuộc di cư của hơn một triệu người từ Bắc vào Nam bỏ lại tất cả để tránh chế độ cộng sản, cuộc Cải Cách Ruộng Đất giết chết ít nhất 172.008 người vô tội, một tội ác kinh khủng mà chính ông Hồ Chí Minh cũng phải thú nhận, vụ Nhân Văn Giai Phẩm triệt hạ trí tuệ miền Bắc, cuộc thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế v.v. Mặc dầu vậy trong suốt cuộc chiến này vẫn có rất nhiều trí thức khoa bảng ủng hộ Đảng Cộng Sản và giúp họ chiến thắng. Tại Pháp, nơi tôi du học từ đầu thập niên 1960 khi cuộc nội chiến Nam Bắc bắt đầu trở thành khốc liệt, tất cả các du học sinh và thực tập sinh đều đến từ miền Nam và đại đa số từ những gia đình khá giả, một số rất đông là con cháu các viên chức cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng gần một nửa đã ủng hộ phe cộng sản một cách cuồng nhiệt. Người bạn học thân nhất của tôi tại Việt Nam, con một quan chức cao cấp Việt Nam Cộng Hòa, không nhìn mặt tôi nữa vì tôi chống cộng. Một anh khác đậu tiến sĩ bên Pháp rồi về nước vừa dạy đại học vừa làm giao liên cho phe cộng sản dù cha mình đã bị cộng sản giết sau Cách Mạng Tháng 8 (anh này sau cùng đã vượt biên và trở thành chí hữu của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên). Ngay tại Sài Gòn, khi tôi về nước để làm việc trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, phong trào ‘phản chiến’ cũng nổi dậy mạnh mẽ, phong trào này phản đối cuộc chiến tự vệ của miền Nam nhưng lại không lên án chế độ cộng sản miền Bắc đã chủ động cuộc nội chiến. Ngay vào lúc chế độ Việt Nam Cộng Hòa đang đứng trước nguy cơ sụp đổ vì đã rõ ràng bị Mỹ bỏ rơi vẫn còn một Hội Liên Trường của một số đông các trí thức có mẫu số chung là từng học trong các trường trung học miền Nam; một trong những mục tiêu chính  của hội là để tranh giành quyền lợi với ‘đám Bắc Kỳ’ trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong khi hoàn toàn không lên tiếng chống việc chế độ Hà Nội đang muốn khuất phục miền Nam. Ngay sau ngày 30/04/1975 Trịnh Công Sơn, thần tượng của nhiều thanh thiếu niên miền Nam, và một số ca sĩ đã tưng bừng lên đài phát thanh Sài Gòn ca hát ‘những bó đuốc reo vui tự do, đường đi đến những nơi lao tù ngày mai sẽ xây trường hay họp chợ’. Câu hát này đối với tôi thực mỉa mai bởi vì một trong những nhà tù mà tôi đã trải qua chính là một trường học trước đây, chế độ cộng sản cần nhiều trại học tập cải tạo, trên thực tế là những nhà tù khắc nghiệt, để đập ngã ý chí của miền Nam sau ngày 30/04/1975. Tôi đã có dịp tiếp xúc với những người cộng sản hoặc thân cộng này tại Pháp cũng như tại Việt Nam để nhận xét rằng, nói chung, họ có kiến thức cũng như đạo đức và tinh thần dân tộc hơn mức trung bình. Sự kiện họ ủng hộ cuộc nội chiến này của Đảng Cộng Sản cũng là một điều cực kỳ nghịch lý.

Chỉ sau khi Đảng Cộng Sản đã toàn thắng, đã hiên ngang lấy lại tên Đảng Cộng Sản Việt Nam và ngạo nghễ đổi tên nước thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để áp đặt toàn bộ chủ nghĩa Mác – Lênin thì mọi người mới thức tỉnh. Tuy vậy nó vẫn còn đang cai trị một cách tuyệt đối như một lực lượng chiếm đóng. Các lãnh đạo cộng sản đang khoe khoang là đất nước đã đạt được những tiến bộ lớn trong 40 năm qua từ khi họ đổi mới và áp dụng chính sách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng ai đã dìm đất nước xuống hố sâu? Nếu không có Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản thì giờ này nếu nước ta không hơn hay bằng Hàn Quốc và Đài Loan thì cũng không kém họ bao nhiêu. Đảng Cộng Sản là một thảm họa lớn cho đất nước.


Một ngộ nhận lịch sử tai hại

Tôi đã viết một vài bài phân tích những lý do đưa đến thắng lợi và sự kéo dài của chế độ cộng sản (1). Lần này xin được nêu một lý do khó nhìn thấy hơn nhiều nhưng cũng sâu xa hơn: một ngộ nhận về lịch sử Việt Nam.

Các sử gia giầu tự hào dân tộc đã khiến người Việt nghĩ là chúng ta có một lịch sử dài và oai hùng. Điều này rất sai, với hậu quả rất tai hại. Một dân tộc không hiểu lịch sử của mình cũng giống như một người không biết mình là ai, cần làm gì và có thể làm gì, rồi đi từ vụng dại này đến sai lầm khác. Nếu so sánh với nhiều dân tộc khác thì chúng ta chỉ là một dân tộc rất non trẻ. Chúng ta không có ‘bốn nghìn năm văn hiến’ hay ngay cả hai nghìn năm văn hiến như thường tự hào.

Địa hình của chúng ta, xin nhấn mạnh địa hình từ Nam Quan đến Cà Mau chứ không phải lãnh thổ quốc gia, chỉ mới tạm ổn định từ khoảng 3.000 năm như là hậu quả của đợt nóng lên của trái đất bắt đầu từ hơn 15.000 năm trước. Vào lúc đó Biển Đông chưa có, chỉ có một vùng rộng lớn với đồi núi trập trùng bao gồm cả Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia, trên đó sống thưa thớt nhiều sắc dân với hai chủng tộc chính là Nam Á và Nam Đảo. Mức độ tập trung chưa đủ để tạo ra một nền văn minh, ngôn ngữ chủ yếu chỉ có một số nhỏ danh từ và động từ đơn giản. Người Việt hiện nay chủ yếu là gốc Nam Á. Do khí hậu nóng lên làm tan các khối băng mực nước dần dần dâng lên vài mét mỗi thế kỷ và tạo ra Biển Đông hiện nay sau hơn 10.000 năm, buộc các bộ tộc rải rác phải lùi dần vào các vùng đất cao. Tại miền Bắc nước ta họ chỉ bắt đầu biết đến nếp sống tạm được gọi là văn minh từ khi tiếp xúc và bị thống trị bởi những người di dân Trung Quốc -rất ít ỏi nhưng đã tiến bộ hơn rất nhiều- bắt đầu từ khoảng thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên (TCN). Những người di dân từ phương Bắc này đem đến chữ viết, kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt và tổ chức xã hội. Miền Nam với các vương quốc Chiêm Thành, Phù Nam, Chân Lạp vốn đã có nền văn minh Ấn Độ nên ban đầu tiến bộ hơn miền Bắc nhưng liên tục bị chiến tranh tàn phá. Chiêm Thành và một phần của Chân Lạp dần dần sáp nhập vào Việt Nam sau một tiến trình kéo dài gần 2.000 năm. Biên giới Việt Nam – Campuchia chỉ mới ổn vững từ cuối thế kỷ 18, biên giới Việt – Trung từ cuối thế kỷ 19. Việt Nam không bị sáp nhập vào Trung Quốc chủ yếu vì có vách núi ngăn cách nên số người di dân từ Trung Quốc sang quá ít. Những người đến từ Trung Quốc vì chỉ là một thiếu số rất nhỏ nên dù nắm được quyền thống trị trong phần lớn dòng lịch sử nước ta đã dần dần đã bị đồng hóa vào khối người Việt, chủ yếu gốc Nam Á, mà họ cai trị. 

Lịch sử nước ta chỉ tập trung vào miền Bắc. Miền Trung và miền Nam chỉ được biết đến trong quá trình của cuộc Nam Tiến, phần lịch sử trước đó, rất sôi động, bị chìm dần vào quên lãng. Đây là một thiếu sót rất lớn chứng tỏ chúng ta thiếu một lịch sử đúng đắn.

Tóm lại, trái với quan điểm của nhiều sử gia, chúng ta không có bốn nghìn năm văn hiến và thực ra cũng không có hai nghìn năm văn hiến đúng nghĩa. So với hầu hết các nước có dân số đáng kể chúng ta là một nước rất non trẻ. Dấu vết xây dựng đầu tiên là thành Cổ Loa bằng đất vào thế kỷ thứ 3 TCN nhờ bị chinh phục và thống trị bởi một nhóm người đến từ phương Bắc do Thục Phán cầm đầu. Xin đưa một thí dụ để ý thức về sự non trẻ của lịch sử nước ta. Nước Pháp, nơi tôi đang sống, không phải là nước nổi tiếng có lịch sử lâu dài nhưng cách Paris khoảng 200 km, tại Arcy-sur-Cure, người ta còn thấy di tích của một thị trấn đã có từ 200.000 năm với những tranh vẽ khá đẹp trên vách động từ khoảng 30.000 năm. Những di tích tương tự có khá nhiều tại Pháp.

 Chúng ta chỉ bắt đầu có chủ quyền quốc gia từ hơn một nghìn năm nhưng chủ quyền quốc gia đó, trong hầu hết thời gian, không phải là của người Việt để bảo vệ người Việt. Hai triều đại được coi là vinh quang nhất trong lịch sử nước ta, nhà Lý và nhà Trần, kéo dài tổng cộng khoảng 400 năm, đều do những người từ phương Bắc tới và đều chỉ coi người bản xứ như những nô lệ. Cuốn sử đầu tiên  của nước ta, Đại Việt Sử Ký của Lê Văn Hưu, được viết ra vào cuối thế kỷ 13 nay đã thất lạc, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư do Ngô Sĩ Liên bắt đầu viết cuối thế kỷ thứ 15 chỉ được các thế hệ sau hoàn tất vào cuối thế kỷ 17. Cả hai cuốn sử này đều không phải là những sách sử Việt Nam đúng nghĩa, chúng chỉ có mục đích ghi lại những gì mà các vua, hoàng tộc và cận thần đã làm, dân tộc Việt Nam gần như vắng mặt. Thí dụ: năm Tân Sửu 1181 dưới thời nhà Lý xảy ra nạn đói kinh hoàng, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chỉ ghi một câu ngắn ‘năm ấy đói to, chết nửa nước’. Dân tộc Việt Nam không đáng kể. Nhà Trần còn có luật ‘đồng tộc tương hôn’, nghĩa là chỉ lấy nhau trong họ hàng vì không muốn pha trộn với dân Việt Nam. Cũng nên biết là dưới hai triều đại được coi là thời đại hoàng kim đáng tự hào nhất của Việt Nam này trong 400 năm đã xẩy ra 20 nạn đói. Cho đến khi người Pháp đến, vào cuối thế kỷ 19, người dân Việt Nam không có quyền nào trên đất nước mình, vua có thể tùy tiện bỏ tù vô thời hạn hoặc giết, thậm chí giết cả ba họ, bất cứ ai. 

Về văn hóa chúng ta càng non trẻ. Chữ Nôm (nghĩa là tiếng Việt viết bằng chữ Hán với một vài nét thêm để chỉ những tiếng thuần túy Việt) chỉ mới rụt rè xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ 10, bài thơ chữ nôm đầu tiên (Văn tế cá sấu của Hàn Thuyên) được viết ra cuối thế kỷ 13. Mãi tới nửa sau thế kỷ 18 các tác phẩm Cung Oán Ngâm KhúcChinh Phụ Ngâm Khúc mới xuất hiện. Thơ văn Việt Nam trên thực tế chỉ bắt đầu từ đó rồi mạnh hẳn lên từ thế kỷ 19 cùng với sự trỗi dậy của chữ Nôm, dù cho tới gần đây chúng ta chưa hề có một tác phẩm nào có giá trị về lý luận và tư tưởng ngoại trừ bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi. Điều này một lần nữa cho thấy văn học của chúng ta cũng rất mới và đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta rằng trí tuệ của một dân tộc chỉ có thể phát triển cùng với tiếng mẹ đẻ. Một câu hỏi nên được đặt ra là cho tới cuối thế kỷ 19, khi chữ Hán còn chiếm ngôi vị chữ viết chính thức duy nhất, có bao nhiêu người Việt biết đọc biết viết? Câu trả lời có lẽ là trong một trăm người chưa chắc đã có nổi một người.

Như vậy người Việt Nam có lý do gì để tự hào và yêu nước? Xin nhắc lại một câu chuyện. Khi mới ra nước ngoài, năm 1995, Nguyễn Chí Thiện, một nhà thơ lớn và một người yêu nước dũng cảm, đã rất bất bình sau khi đọc một bài viết của tôi trong đó tôi nói rằng hai tiếng ‘ái quốc’ hay ‘yêu nước’ chỉ có trong ngôn ngữ Việt Nam từ thế kỷ 20. Ông quả quyết sẽ tìm ra bằng chứng rằng tôi sai. Tuy vậy ông không tìm được và chúng tôi trở thành bạn thân. Ngôn ngữ Việt Nam cũng chứng tỏ sự chậm tiến về văn hóa của chúng ta: tất cả những từ trừu tượng hoặc có nghĩa suy tư và lý luận đều có gốc Hán.

Nếu chịu khó tìm hiểu các nước khác thì chúng ta sẽ thấy là so với họ lịch sử của chúng ta rất ngắn và chật vật. Cho tới thế kỷ 3 TCN chúng ta còn là một dân tộc bán khai. Do bị chinh phục bởi một số ít người đến từ phương Bắc chúng ta đã phải vội vã hấp thụ nền văn minh Trung Quốc đã có từ mấy nghìn năm trước và bị áp đặt chế độ Khổng Giáo sơ cứng.  Xã hội Khổng Giáo có thể được mô tả như sau: một gia đình nắm quyền tuyệt đối và sử dụng các sĩ phu làm tay sai để chà đạp và bóc lột quần chúng. 

Lịch sử ngắn ngủi và khó nhọc đó đã cho chúng ta một khả năng học hỏi và thích nghi rất phi thường nhưng cũng khiến chúng ta thiếu ba yếu tố mà bình thường chỉ có một kinh nghiệm sống chung rất lâu dài trong một xã hội đã văn minh mới đem đến được nhưng lại rất cần thiết để tránh những tai họa và vươn lên. Đó là tình cảm dân tộc, khả năng kết hợp và văn hóa thảo luận. 

Sự thiếu vắng ba đức tính tối cần thiết này vẫn có thể nhận thấy được ngay trong lúc này. 

Trước hết hãy nhìn tinh thần và tình cảm dân tộc. Trong nước rất nhiều người chỉ mong được ra nước ngoài sinh sống và làm dân một nước khác và nhiều người khác cũng tán thành ước muốn của họ; ngoài nước cộng đồng người Việt hải ngoại là cộng đồng hải ngoại mất căn cước dân tộc nhanh chóng nhất, tuyệt đại đa số, nhất là thế hệ thứ hai, không còn quan tâm tới đất nước nữa, thậm chí không còn nói được tiếng Việt.

Về khả năng kết hợp, cá nhân tôi chứng kiến hàng ngày sự yếu kém của người Việt. Thị trấn tôi ở thuộc ngoại ô Paris và may mắn có nhiều hồ nước xinh đẹp bao quanh bởi những bãi cỏ được chăm sóc kỹ. Dân cư ở đây một nửa là gốc Châu Á, số người Việt và người Hoa sấp sỉ bằng nhau. Người Việt phần lớn tốt nghiệp đại học trong khi đa số người Hoa chỉ có trình độ trung học. Tuy vậy gần như sáng nào đi dạo quanh hồ tôi cũng thấy ba hay bốn nhóm người Hoa đang tập thể dục, ca nhảy hay đi bộ cùng với nhau nhưng không bao giờ thấy một nhóm người Việt. Đa số người Việt không tham gia một hội nhóm nào. Chúng ta không có tập quán kết hợp, một tập quán cốt lõi của những dân tộc văn minh với một lịch sử dài. 

Còn văn hóa thảo luận? Còn rất nhiều người Việt, kể cả một số người có bằng cấp cao, lầm lẫn thảo luận với cãi lộn. Hầu hết người Việt vẫn chưa hiểu rằng đối thoại là điều kiện cần thiết để hoàn chỉnh kiến thức của mình và để đi đến đồng thuận và hợp tác, bởi vậy khi chúng ta đưa ra một ý kiến trái ngược với ý kiến của người đối thoại là lúc chúng ta cần một ngôn ngữ hòa nhã nhất. Có lẽ cũng chính vì thiếu văn hóa thảo luận mà chúng ta khó đồng ý và kết hợp với nhau.


Vượt lên trên di sản lịch sử để nhìn về tương lai

Trở lại với hai câu hỏi đặt ra từ đầu bài này.

Trước hết tại sao dù đã từ bỏ tổ quốc Việt Nam và tàn sát nhiều người vô tội thuộc thành phần tinh nhuệ của đất nước Đảng Cộng Sản vẫn được ủng hộ nhiều nhất và giành được chính quyền trong Cách Mạng Tháng 8? Dĩ nhiên họ là đảng duy nhất có phương tiện do Liên Xô cung cấp và cũng có kỹ thuật đấu tranh khủng bố của Quốc Tế Cộng Sản, nhưng điều nghịch lý là họ cũng là đảng được nhân dân Việt Nam ủng hộ nhất vào lúc đó. Điều này thực ra không nghịch lý như chúng ta có thể nghĩ mà chỉ là hậu quả của lịch sử ngắn ngủi và chật vật của nước ta. Quần chúng đâu có biết gì về Quốc Tế Cộng Sản và những tội ác của Xô Viết Nghệ Tĩnh. Họ có được thông tin gì đâu, nhưng ngay cả nếu họ biết hết những gì Đảng Cộng Sản đã làm thì chọn lựa tự nhiên nhất của họ vẫn là ủng hộ nó. Tại sao? Đó là vì lịch sử của chúng ta vừa quá ngắn vừa quá chật vật nên ‘đất nước’ đối với họ mới chỉ là ‘làng nước’, dân tộc đối với họ mới chỉ là làng xóm và những người cùng giai cấp vô sản đói khổ. Đảng Cộng Sản với khẩu hiệu xóa bỏ giầu nghèo và vô sản chuyên chính là chọn lựa tự nhiên của họ.

Sự kiện nhiều trí thức danh tiếng vào thời điểm 1945 đã nhiệt tình ủng hộ Đảng Cộng Sản cũng không nghịch lý như chúng ta tưởng. Họ cũng là sản phẩm của lịch sử nước ta và của Khổng Giáo, là hậu thân của giai cấp Sĩ, nghĩa là những người học để làm dụng cụ cho một quyền lực sẵn có chứ không phải để khai sáng và lãnh đạo. Đa số cũng không biết gì về chủ nghĩa và phong trào cộng sản vì trong suốt thập niên 1930 mà cả thế giới đang sôi động trên ngưỡng cửa của Thế Chiến 2, trí thức Việt Nam chỉ lo học để lấy bằng cấp và làm quan hoặc mê mải trong thơ mới, tiểu thuyết lãng mạn, nhạc trữ tình. Một phần những người trí thức ủng hộ cộng sản vào thời điểm 1945 cũng vì nhìn nó như một lực lượng bênh vực quần chúng nghèo khổ, về tình cảm họ còn hơn nhiều trí thức khoa bảng khác.

Còn câu hỏi thứ hai, tại sao sau Cách Mạng Tháng 8 và trong suốt cuộc nội chiến thảm khốc Đảng Cộng Sản vẫn được nhiều trí thức ủng hộ và vẫn còn giữ được chế độ toàn trị cho đến nay dù đã chỉ phạm hết sai lầm này đến tội ác khác? 

Với một cái nhìn bình tĩnh ta có thể thấy là quần chúng đã thất vọng với Đảng Cộng Sản, họ đã bày tỏ sự thất vọng đó qua làn sóng di cư từ Bắc vào Nam rồi sau này bằng đợt thuyền nhân ồ ạt ngay sau chiến thắng 30/04/1975, nhưng họ cũng đành chịu đựng như tổ tiên họ trong hàng nghìn năm đã cam chịu dưới các chế độ quân chủ trước đây. Hơn nữa họ không có lãnh đạo bởi vì các trí thức không đảm nhiệm vai trò này. Cá nhân tôi sau khi đã ra tù và trở thành chuyên viên dưới chế độ cộng sản tôi đã gặp rất nhiều người, kể cả sĩ quan và quan chức, từ miền Bắc vào. Sau một thời gian tiếp xúc để trở thành thân thiện và tâm sự với nhau một cách thành thực tôi không thấy một người nào thực sự yêu chế độ cộng sản cả, họ chỉ phục tùng vì sợ như cha ông họ đã phục tùng vì sợ các vua chúa. Đảng Cộng Sản có sức mạnh của một lực lượng khủng bố nhưng sự phục tùng ngoan ngoãn của dân chúng cũng là một di sản lịch sử.

Còn các trí thức? Trong cuộc nội chiến này một số người đứng về phe cộng sản vì dư luận thế giới lúc đó còn khá thuận lợi cho phong trào cộng sản và cũng vì ngưỡng mộ các lãnh tụ cộng sản mà không ý thức được rằng mình đang bị thôi miên bởi một bộ máy tuyên truyền. Một số khác, do bản năng dụng cụ thừa hưởng từ giai cấp sĩ phu, đã ủng hộ Đảng Cộng Sản bởi vì tin rằng nó sẽ thắng. Một lần nữa cần nhắc lại bản chất của Khổng Giáo theo đó ước mơ của kẻ sĩ chỉ là được làm công cụ cho kẻ thắng và giành được chính quyền chứ không phải là để thay đổi vận mệnh của đất nước. Khổng Tử đã để lại trong sách Luận Ngữ một lời dạy chắc nịch: ‘nước lâm nguy thì đừng đến, nước loạn lạc thì đừng ở’ (nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư). Đạo lý của kẻ sĩ, tiền thân của trí thức Việt Nam, chỉ là đạo lý nghề nghiệp, không khác bao nhiêu đạo lý của giai cấp Yakuza của nước Nhật trước đây.

Quan trọng hơn, các chính quyền chống cộng -Quốc Gia Việt Nam rồi Việt Nam Cộng Hòa- đã không đưa ra được một lý do thuyết phục nào để các trí thức thấy phải ủng hộ họ và động viên quần chúng ủng hộ họ. Từ Bảo Đại qua Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu, không ai hiểu rằng cuộc nội chiến này nằm trong khuôn khổ Chiến Tranh Lạnh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản, và do đó phải thành tâm đề cao dân chủ như một lý tưởng đẹp để chống lại cộng sản chuyên chính. Tất cả đều chỉ mong được làm những nhà độc tài cánh hữu; tất cả đều chỉ lên lên cầm quyền do hoàn cảnh tình cờ chứ hoàn toàn không phải là những người có lý tưởng chính trị và có bản lĩnh chính trị. Tất cả đều không có tổ chức chính trị làm hậu thuẫn và chỉ dựa trên quan hệ gia đình, bè bạn hay đồng hương. Các bộ trưởng thì không bao giờ muốn hòa mình vào với quần chúng nghèo khổ. Mặc dù đối thủ trước mắt là Đảng Cộng Sản nhưng trong suốt cuộc nội chiến các chính quyền quốc gia không hề có một cơ quan nghiên cứu về những điểm mạnh và yếu của chủ nghĩa cộng sản, phong trào cộng sản thế giới và Đảng Cộng Sản Việt Nam. Mặc dù sự sống còn tùy thuộc vào viện trợ Mỹ nhưng không có một cơ quan nào để nghiên cứu về tình trạng nước Mỹ và phương cách tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ. Thật không thể tưởng tượng được.

Tại sao Đảng Cộng Sản vẫn còn cầm quyền tuyệt đối được tới ngày nay mặc dù đã tích lũy quá nhiều sai lầm và tội ác, mặc dù chủ nghĩa cộng sản và phong trào cộng sản thế giới đã sụp đổ là một câu hỏi lớn mà các thế hệ mai sau sẽ chất vấn những con người hôm nay. Chất vấn càng nghiêm khắc hơn vì Đảng Cộng Sản, xuất thân với chiêu bài bênh vực người nghèo và chống lại sự bóc lột của người giầu, ngày nay đã biến thành một đảng của những người giầu để bóc lột người nghèo. Chế độ này không còn bất cứ lý do chính đáng nào để tiếp tục tồn tại. Nó chỉ tiếp tục tồn tại bởi vì đất nước vẫn chưa hình thành được một lực lượng thay thế. Tương lai Việt Nam chỉ có thể là dân chủ và cuộc vận động dân chủ cần một tổ chức dân chủ mạnh do trí thức lãnh đạo trong khi trí thức Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng, nhiều người vẫn còn quá nặng đầu óc nhân sĩ để dấn thân vào một tổ chức.

Nhưng tại sao trí thức Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng? Đó là vì do di sản lịch sử chúng ta vẫn thiếu ba yếu tố bắt buộc để đấu tranh chính trị là tình cảm dân tộc, khả năng kết hợp và văn hóa thảo luận. Cả ba yếu tố này bình thường đều cần một thời gian sống chung và chia sẻ những quan tâm chung rất dài để hình thành trong khi lịch sử của chúng ta vừa ngắn lại vừa không lành mạnh, đã thế nhiều sử gia còn vô tình khiến chúng ta tự mãn và không nhìn ra khuyết điểm của mình. 

Tuy vậy chúng ta không có lý do để bi quan. Cả ba yếu tố này đều là những yếu tố tâm lý và văn hóa, và đặc tính của những vấn đề tâm lý và văn hóa là ngay khi ý thức được vấn đề người ta gần như cũng đã nhìn ra giải đáp. 

Nguyễn Gia Kiểng

(26/08/2026)

Tham khảo

(1)Một vài bài về CMT8 và cuộc nội chiến 1945 – 1975

About the author