Tân Đạo Việt – Những  Con Đường Tới Tương Lai (Kỳ 3)

Bài viết này là phần 3 / 3 trong loạt bài Tân Đạo Việt

Phần III : Trưởng Thành: Từ Cộng Đồng Lịch Sử Đến Chủ Thể Văn Minh

Một cộng đồng có thể tồn tại rất lâu mà chưa nhất thiết trưởng thành cùng với chiều dài lịch sử của mình. Sống sót chứng minh sức sống; trường tồn chứng minh sức bền. Nhưng trưởng thành đòi hỏi nhiều hơn thế: khả năng nhìn lại chính mình bằng con mắt phê phán, biết đặt giới hạn cho quyền lực, biết sống với khác biệt, biết nhận ra và sửa chữa sai lầm, và nhất là biết chuyển những kinh nghiệm đau đớn của quá khứ thành năng lực kiến tạo tương lai. 

Nếu hai phần trước tìm hiểu những nguồn lực đã giúp người Việt đi qua nhiều chu kỳ đứt gãy mà không biến mất, thì đến đây câu hỏi phải đổi khác: những năng lực từng giúp chúng ta trường tồn liệu có đủ để giúp chúng ta trưởng thành? 

Một cộng đồng lịch sử trở thành chủ thể văn minh không phải vì nó có một quá khứ thật dài, mà vì từ quá khứ ấy, nó hình thành được năng lực chủ động và có trách nhiệm đối với tương lai; không phải vì nó không phạm sai lầm, mà vì nó tạo dựng được những con người và thiết chế có khả năng nhận ra, tranh luận và sửa chữa sai lầm. 

13. TỪ CỘNG ĐỒNG SINH TỒN ĐẾN XÃ HỘI TRƯỞNG THÀNH 

Trong lịch sử Việt Nam, tồn tại chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Vị trí địa–chiến lược, nhiều thế kỷ Bắc thuộc, chiến tranh, chia cắt, thiên tai cùng những biến động liên tục của khu vực đã tôi luyện một cộng đồng có sức chịu đựng khác thường. Nhưng chính tại đây xuất hiện một nghịch lý: những phẩm chất đặc biệt hữu hiệu để sống sót trong hiểm nguy chưa chắc đã đủ để xây dựng một xã hội phát triển và tự đứng vững trong hòa bình. 

Fernand Braudel từng giúp sử học nhìn xuyên qua lớp sóng của biến cố để nhận ra những cấu trúc của longue durée – trường kỳ lịch sử. Với Việt Nam, cách nhìn ấy đặc biệt hữu ích. Bên dưới những triều đại, chế độ và chiến tranh nối tiếp nhau vẫn có thể nhận ra những cấu trúc bền lâu hơn: gia đình – làng xã; năng lực thích nghi; khả năng tiếp nhận cái đến từ bên ngoài rồi Việt hóa nó; cùng một ý chí mạnh mẽ chống lại nguy cơ bị hòa tan. 

Nhưng sống lâu không đồng nghĩa với trưởng thành. Một cây cổ thụ nghìn năm có thể minh chứng cho bộ rễ phi thường của nó; nhưng điều đó không tự động bảo đảm rằng cái cây ấy sẽ mọc được những cành mới thích ứng với một khí hậu sẽ đổi thay. Khi khảo sát hành trình “đến hiện đại từ truyền thống”, Trần Đình Hượu không đặt truyền thống trong một chiếc rương báu thỉnh thoảng mới mở ra để chiêm ngưỡng. Truyền thống sống ngay trong hiện đại, vừa như nguồn lực vừa như giới hạn. Cách nhìn ấy giúp tránh hai cực đoan đối nghịch: tự ti trước một số nước và tự mãn trước quá khứ của chính mình. 

Đặt Việt Nam bên cạnh những nền văn minh lâu đời khác càng cho thấy tuổi tác lịch sử không phải là thước đo của sự trưởng thành. Ba Tư đã đi qua nhiều tầng văn minh, từ thời cổ đại và đế chế Achaemenid đến thời Hy Lạp hóa, Hồi giáo, Mông Cổ, Safavid rồi Iran hiện đại. Trung Hoa cũng trải qua những chu kỳ triều đại, ngoại tộc chinh phục, phân liệt và thống nhất. Một cộng đồng có lịch sử lâu dài, vì thế không đương nhiên có một hiện tại trưởng thành tương xứng với tuổi đời của nó. 

Nhìn Việt Nam trên thang giá trị ấy không phải để hạ thấp sức sống và những thành tựu của hàng nghìn năm lịch sử. Trái lại, nó giải phóng chúng ta khỏi nhu cầu phải lấy quá khứ ra để làm giấy chứng chỉ cho giá trị hiện tại. Điều quan trọng hơn việc tổ tiên đã tồn tại bao lâu là những người đang sống hôm nay đúc kết được những  gì từ những gì từ các di sản tổ tiên đã để lại. Một cộng đồng trưởng thành không chỉ biết tưởng niệm chiến thắng; nó còn đủ bình tĩnh để nhìn vào thất bại, sai lầm và cả những cơ hội từng bị bỏ lỡ. 

Ở đây cần phân biệt ý thức trường tồn với ý thức văn minh. Ý thức trường tồn thường hỏi: Ai đã đe dọa chúng ta? Và chúng ta đã chống lại bằng cách nào? Anh hùng của chúng ta là ai? Chiến thắng ở đâu? Nhưng ý thức văn minh đặt thêm những câu hỏi khó chịu hơn: Sau chiến thắng, xã hội chúng ta đã trở nên như thế nào? Người dân bình thường sống ra sao? Quyền lực có được kiềm chế không? Người tài có cơ hội phát triển không? Người nghĩ khác có chỗ đứng không? 

Một dân tộc có thể huy động phi thường khi đứng trước ngoại xâm mà vẫn lúng túng trước công việc ít hào hùng hơn nhưng khó khăn không kém: xây dựng những thiết chế cho phép con người phát triển trong thời bình. 

Nghịch lý ấy không chỉ có ở Việt Nam. Trong nhiều cộng đồng từng sống lâu dưới sức ép từ bên ngoài, hiểm nguy dễ tạo nên đoàn kết; nhưng khi hiểm nguy qua đi, những khác biệt tự nhiên của xã hội lại xuất hiện. Những phẩm chất từng hữu ích trong chiến tranh — thống nhất ý chí, phục tùng mệnh lệnh, cảnh giác với khác biệt — nếu tiếp tục được tuyệt đối hóa trong hòa bình có thể trở thành những vật cản. Một xã hội thời bình cần thương lượng, cạnh tranh, thử nghiệm, chấp nhận khả năng sai và tạo điều kiện để sửa sai. 

Sức mạnh giúp một cái cây đứng vững trong bão tố không hoàn toàn giống năng lực giúp nó vươn cao dưới bầu trời quang đãng. 

Văn chương có thể nói được những điều mà biên niên sử nhiều khi không nói hết. Nguyễn Trãi không chỉ để lại áng văn chiến thắng mà còn những câu thơ về cô độc, nhân tình và thế sự. Nguyễn Du nhìn lịch sử qua thân phận những con người bị áp bức bởi quyền lực và định mệnh. Sang thế kỷ XX, chiến tranh và cách mạng lại tạo nên những tầng ký ức khác: Hữu Loan, Văn Cao, Trần Dần, Quang Dũng ở miền Bắc; Nhất Linh, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác cùng nhiều tiếng nói của miền Nam và cộng đồng hải ngoại sau 1975. 

Không thể ép tất cả những tiếng nói ấy vào một ẩn dụ ý thức hệ duy nhất. Nên đọc những người anh em ấy như những cảm biến của xã hội, ghi lại những chấn động mà lịch sử chính thống không phải lúc nào cũng lưu giữ được. 

Sử học có thể xác định một chính sách được ban hành khi nào, một trận đánh diễn ra ở đâu, bao nhiêu người tham gia một cuộc di cư. Văn chương lại cho ta biết biến cố ấy đã đi vào tâm hồn từng con người như thế nào. Một bên tìm kiếm sự thật của sự kiện; bên kia lưu giữ sự thật của những trải nghiệm. Một dân tộc chỉ đọc những văn kiện của “bên thắng cuộc” sẽ đánh mất một phần ký ức; nhưng một dân tộc chỉ sống bằng những thương tổn được truyền lại cũng khó để thoát khỏi quá khứ. 

Trưởng thành vì thế không đòi hỏi người Việt phủ nhận những phẩm chất từng giúp mình trường tồn. Điều cần thiết là chuyển hóa chúng. Tình liên đới cộng đồng phải có thể trở thành trách nhiệm công dân; khả năng thích nghi phải đi xa hơn để trở thành sáng tạo; lòng yêu nước không chỉ bảo vệ lãnh thổ mà còn phải bảo vệ phẩm giá con người; sự cố kết khi chống ngoại xâm phải chuyển thành khả năng hợp tác giữa những con người khác biệt trong cùng một xã hội. 

Khi ấy, truyền thống không còn là chiếc mỏ neo giữ con tàu nằm yên một chỗ. Nó trở thành một phần của tấm bản đồ giúp con tàu biết mình đã từ đâu đến – và để có thể lựa chọn nơi mình muốn đi tiếp. 

Bởi vậy, bước chuyển từ Trường tồn sang Trưởng thành trước hết là một sự thay đổi câu hỏi. Không còn chỉ hỏi dân tộc đã chống lại những sức mạnh nào để tồn tại, mà phải hỏi người Việt đã được tạo điều kiện đến đâu để trở thành những cá nhân có phẩm giá, có khả năng phán đoán, có trách nhiệm và có quyền tham gia vào những quyết định ảnh hưởng đến đời mình. 

Từ đây, vấn đề dân tộc gặp vấn đề công dân. 

14. TRÍ THỨC VÀ “MẶT TRẬN THỨ NĂM” CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM  

Lịch sử Việt Nam thường được kể qua những mặt trận quân sự, ngoại giao, kinh tế và chính trị. Nhưng còn một mặt trận ít hữu hình hơn: cuộc giằng co giữa quyền lực và năng lực tự phản tỉnh của xã hội. Trên mặt trận ấy, trí thức không nhất thiết là người chống lại quyền lực. Vai trò quan trọng hơn của họ là nói được những điều quyền lực không tự nhìn thấy — hoặc không muốn nghe. 

Chu Văn An với Thất trảm sớ, Nguyễn Trường Tộ với những điều trần cải cách, Phan Châu Trinh với chủ trương khai dân trí xuất hiện trong những hoàn cảnh lịch sử rất khác nhau. Điểm gặp nhau giữa họ, vì thế không nằm ở một cương lĩnh chính trị chung mà ở một thái độ: lòng yêu nước không buộc người trí thức phải đồng ý với trật tự đang tồn tại. Ngược lại, đôi khi chính trách nhiệm với cộng đồng buộc họ phải chỉ ra những giới hạn của thể chế và cộng đồng ấy. 

Thế kỷ XX đẩy sự căng thẳng này lên một mức gay gắt hơn nhiều. Năm 1956, sau những sai lầm của Cải cách ruộng đất, luật sư Nguyễn Mạnh Tường trình bày trước Mặt trận Tổ quốc bài tham luận Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất – Xây dựng quan điểm lãnh đạo. Điều đáng chú ý không chỉ là việc ông phê phán một chính sách cụ thể. Ông đi sâu hơn, tìm nguyên nhân trong chính cơ chế lãnh đạo, từ đó đặt ra những vấn đề về pháp luật, trách nhiệm, kiểm soát quyền lực và những điều kiện cần thiết để sai lầm không tiếp tục tái diễn. 

Gần như cùng thời điểm trên, Trần Đức Thảo tiếp cận vấn đề từ triết học. Trong Nội dung xã hội và hình thức tự do, ông phê phán những căn bệnh “quan liêu, mệnh lệnh, giáo điều, bè phái, sùng bái cá nhân”, đồng thời đặt tự do cá nhân trong quan hệ với khả năng đóng góp của con người cho cộng đồng. 

Nếu người thứ nhất lên tiếng bằng ngôn ngữ của Pháp luật, người thứ hai bằng ngôn ngữ của Triết học, thì Hữu Loan cùng một số nhà thơ đương thời lại chạm tới tầng sâu hơn của Thân phận con người. Ở đó, những khái niệm như giai cấp, cách mạng, chiến thắng hay sai lầm không còn là những danh từ chính trị trừu tượng. Chúng đi qua gia đình, cái chết, tình yêu, nỗi sợ và phẩm giá. 

Văn chương không chứng minh được một sự kiện theo cách sử học làm, nhưng nó lưu giữ phần lịch sử mà thống kê không thể giữ: con người đã cảm thấy gì khi lịch sử đi qua đời họ. 

Ba ngôn ngữ — Pháp luật, Triết học và Thi ca — vì thế có thể được đọc như ba tầng của cùng một nhu cầu tự phản tỉnh. Pháp luật đòi hỏi quyền lực được phép đi xa đến đâu. Triết học nêu vấn đề con người có thể tự do đến mức nào trong cộng đồng. Thi ca lại chất vấn sau khi những hệ thống lớn đi qua đời sống, còn lại gì trong con người mỗi chúng ta. Không ngôn ngữ nào biểu đạt được đầy đủ nếu đứng riêng; chỉ đặt cạnh nhau, chúng mới cho thấy một xã hội chỉ có thể trưởng thành khi có nhiều cách tự chất vấn để hiểu được chính mình. 

Đó cũng không phải câu chuyện riêng của Việt Nam. Trong lịch sử nhiều xã hội, những bước ngoặt quan trọng thường bắt đầu khi một câu hỏi trước đó chỉ được thì thầm trong phạm vi hẹp có thể bước ra không gian công cộng. Vì vậy, trình độ trí tuệ của một xã hội không thể chỉ đo bằng số trường đại học, viện nghiên cứu hay học vị. Nó còn phải được đo bằng khoảng cách giữa điều giới trí thức biết và điều họ được phép nói; giữa tri thức xã hội đang có và khả năng để tri thức ấy tác động vào những quyết định chung. 

Khi khoảng cách ấy quá lớn, một dạng lãng phí vô hình xuất hiện. Người biết thì học cách im lặng; người quyết định lại ngày càng nhận được ít sự thật hơn. Bộ máy vẫn có thể vận hành, báo cáo vẫn có thể nộp đủ, nhưng năng lực học hỏi của cả hệ thống thì dần dần teo tóp lại. 

Từ đó, tự do học thuật, tự do tranh luận và quyền phê bình không còn là những đặc quyền dành riêng cho trí thức. Chúng trở thành một phần của hạ tầng nhận thức của quốc gia — thứ hạ tầng không nhìn thấy bằng mắt nhưng quyết định một xã hội có khả năng hiểu đúng thực tại và sửa mình hay không. 

Kinh nghiệm giáo dục miền Nam trước năm 1975 cung cấp một trường hợp đáng khảo sát trong mạch suy tư này. Triết lý giáo dục được xác lập tại Đại hội Giáo dục Quốc gia năm 1958 đặt trên ba nguyên tắc: Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng, về sau trở thành những định hướng quan trọng trong việc xác định mục tiêu và phương pháp giáo dục của Việt Nam Cộng hòa. Không cần lý tưởng hóa nền giáo dục ấy để thừa nhận rằng đây là một di sản đáng được nghiên cứu trong lịch sử chung của giáo dục Việt Nam. 

Hồi ức của PGS. Nguyễn Kim Hồng đáng chú ý chính vì ông từ miền Bắc vào công tác tại Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975. Ông kể lại sự ngạc nhiên trước quy mô của Sài Gòn, cơ sở vật chất, trình độ của một bộ phận giảng viên khoa học xã hội, cách ứng xử của sinh viên miền Nam, đặc biệt là sự coi trọng lễ nghĩa và giá trị cá nhân trong gia đình và nhà trường. 

Đó là một chứng ngôn cá nhân, không phải phép đo để kết luận nền giáo dục nào hơn nền giáo dục nào. Nhưng chính với tư cách một chứng ngôn, nó cho ta ô cửa sổ để nhìn vào cuộc hợp lưu giữa hai kinh nghiệm giáo dục từng diễn ra trong những điều kiện rất khác nhau. 

Những điều quan trọng hơn sự so sánh ấy là thái độ đối với di sản. Sau cuộc chiến giữa những người cùng một dân tộc, “bên được cuộc” không chỉ tiếp quản lãnh thổ, công sở, trường học hay thư viện. Nó còn đứng trước một lựa chọn khó khăn hơn nhiều: phải làm gì với vốn trí tuệ mà phía bên kia đã tạo ra? 

Có thể bác bỏ một chế độ chính trị mà không cần bác bỏ mọi tri thức từng được sản sinh dưới chế độ ấy. Có thể thay đổi một hệ thống mà không nhất thiết phải bắt đầu lại từ con số không. 

Ở bình diện văn minh, khả năng kế thừa đôi khi còn quan trọng hơn khả năng đoạn tuyệt. Nhật Bản thời Minh Trị không trở thành phương Tây chỉ vì học khoa học, luật pháp và công nghệ phương Tây; họ tìm cách hấp thu những công cụ mới vào một xã hội vẫn ý thức mạnh mẽ về căn tính của mình. La Mã học Hy Lạp; châu Âu trung cổ tiếp nhận lại một phần di sản cổ điển qua các học giả Ả Rập; các xã hội Đông Á tiếp nhận chữ Hán và Phật giáo rồi chuyển hóa chúng theo những cách rất khác nhau. 

Văn minh không lớn lên bằng cách giữ mình nguyên vẹn trước mọi ảnh hưởng. Nó lớn lên bằng khả năng tiêu hóa những gì đến từ bên ngoài và biến chúng thành một phần của chính mình. 

Đặt những kinh nghiệm khác nhau của Việt Nam cạnh nhau không nhằm phán xử miền Bắc hơn miền Nam hay ngược lại. Câu hỏi đáng đặt hơn là: sau những đứt gãy chính trị trong lòng một dân tộc, cộng đồng ấy có đủ khả năng giữ lại vốn trí tuệ được tạo ra từ ở cả hai phía hay không? 

Nếu một trật tự mới chỉ tiếp nhận những gì củng cố tính chính danh của mình và loại bỏ những gì từng thuộc về phía bên kia, thì tổn thất cuối cùng không chỉ thuộc về một bên. Nó trở thành sự mất mát trong vốn văn minh chung của cả dân tộc. 

Một dân tộc trưởng thành vì thế không chỉ cần những trí thức dám nói. Nó còn cần điều khó hơn: những thiết chế biết lắng nghe trí thức. 

Nếu một người chỉ được tôn vinh sau khi đã chết, hoặc một ý kiến chỉ được công nhận nhiều thập niên sau khi người nói phải trả giá vì nó, sự phục hồi ấy có thể mang ý nghĩa đạo lý, nhưng chưa chứng minh được năng lực tự sửa sai của hệ thống. Thước đo của trưởng thành không nằm ở việc một xã hội sản sinh được bao nhiêu người can đảm nói thật, mà ở việc nó xây dựng được bao nhiêu cơ chế để người nói thật không phải trả giá chỉ vì đã nói điều cần nói. 

15. TỪ QUYỀN LỰC HUY ĐỘNG ĐẾN NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO 

Trong chiến tranh và cách mạng, năng lực huy động có thể quyết định sự sống còn. Nó tập trung nguồn lực, đơn giản hóa mệnh lệnh và biến hàng triệu cá nhân thành một sức mạnh chung. Việt Nam thế kỷ XX đã chứng tỏ một năng lực đặc biệt trong mô hình ấy. 

Nhưng thành công trong tình trạng khẩn cấp cũng có thể tạo ra quán tính. Những phương thức hữu hiệu để chiến thắng trong chiến tranh có thể tiếp tục được sử dụng trong hòa bình, trong khi phát triển lại đòi hỏi một logic khác. 

Một nhà nước kiến tạo không phải là một nhà nước yếu hơn nhà nước huy động. Nó mạnh theo một cách khác. Sức mạnh của nó không nằm ở khả năng ban ra thật nhiều mệnh lệnh, mà ở khả năng xác lập luật chơi ổn định, cung cấp hàng hóa công, bảo đảm trách nhiệm giải trình, tiếp nhận cả những thông tin nghịch nhĩ và sửa chính sách trước khi sai lầm trở thành khủng hoảng. 

Montesquieu nhìn giới hạn quyền lực như một điều kiện để bảo vệ tự do. Hayek, từ một truyền thống khác, cảnh báo về giới hạn của tri thức tập trung. Hai cách tiếp cận gặp nhau ở một trực giác căn bản: không một trung tâm quyền lực nào có thể biết tất cả những gì xã hội biết. 

Một làng chài hiểu vùng nước của mình theo cách mà cơ quan trung ương không thể hiểu hết; doanh nghiệp biết thị trường của nó; giáo viên biết học sinh; bác sĩ biết bệnh nhân; địa phương biết những đặc thù mà một quy định chung khó có thể dự liệu đầy đủ. Nhà nước hiện đại không thể tự mình thay thế toàn bộ kho tri thức phân tán ấy. 

Năng lực cao hơn của nhà nước là kết nối những nguồn tri thức đó, đặt ra luật chơi và biết sửa luật chơi khi thực tế chứng minh rằng nó bị lệch chuẩn. 

Tập trung quyền lực và tập trung trí tuệ là hai việc hoàn toàn khác nhau. Quyền lực có thể được gom về một trung tâm rất nhanh; trí tuệ của xã hội thì không. Khi hai điều ấy bị đánh đồng, người có quyền quyết định rất dễ đi đến ảo tưởng rằng quyền quyết định đồng nghĩa với khả năng biết đâu là điều đúng. 

Một thiết chế trưởng thành phải vận hành theo logic ngược lại: quyền lực càng lớn càng cần nhiều nguồn thông tin độc lập, nhiều cơ chế kiểm chứng và nhiều cơ hội để nghe những điều người cầm quyền không muốn nghe. 

Lịch sử Việt Nam sau chiến tranh cho thấy khả năng tự điều chỉnh thường xuất hiện khi sức ép của thực tế đủ lớn. Đổi Mới năm 1986 không phải sự phủ định toàn bộ quá khứ, mà trước hết là sự thừa nhận rằng một số cơ chế quản lý cũ không còn phù hợp với đời sống. 

Trong đối ngoại, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị tháng 5/1988, với vai trò quan trọng của Nguyễn Cơ Thạch, thường được nhìn nhận như một bước chuyển đáng kể, góp phần đưa Việt Nam từng bước thoát khỏi cô lập và đi tới đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. 

Điều đáng suy nghĩ ở đây không phải sự thăng trầm của vài ba cá nhân. Quan trọng hơn là một thực tế: Ý tưởng có thể sống lâu hơn địa vị chính trị của người đã đề xuất nó. 

Việt Nam từ 1995 gia nhập ASEAN, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và mở rộng hội nhập quốc tế. Những chuyển động ấy là kết quả của nhiều nguyên nhân và nhiều con người, nhưng chúng cho thấy khi lợi ích quốc gia được nhìn trong một khuôn khổ rộng hơn ý thức hệ, không gian hành động của đất nước cũng được mở rộng. 

Cải cách kinh tế cho ta một bài học tương tự. Những hình thức khoán trong nông nghiệp nảy sinh từ thực tiễn địa phương trước khi trở thành chính sách rộng hơn cho thấy sáng kiến đôi khi đi từ dưới lên trước khi được thừa nhận từ trên xuống. 

Điều đáng chú ý không phải tranh công xem ai là người nghĩ ra trước, mà là một quy luật: thực tiễn thường phát hiện giới hạn của giáo điều trước khi lý luận chính thống sẵn sàng thừa nhận giới hạn ấy. 

Một hệ thống biết học hữu dụng là hệ thống rút ngắn được khoảng thời gian giữa hai thời điểm đó. 

Ngược lại, mọi hệ thống tập trung cao độ đều gặp một nghịch lý thông tin. Cấp dưới càng sợ sai, thông tin đi lên càng có xu hướng đẹp hơn thực tế. Người lãnh đạo càng cần biết sự thật, bộ máy bên dưới lại càng có động cơ che đi những gì họ nghĩ rằng lãnh đạo không muốn nghe. 

Đây không đơn thuần là vấn đề đạo đức cá nhân. Nó là vấn đề thiết kế thể chế: làm thế nào để một thông tin khó nghe có thể đi đến nơi ra quyết định mà người mang thông tin ấy không bị trừng phạt vì bị coi là thiếu trung thành hay kém năng lực? 

Nhiều thất bại thể chế trên thế giới không bắt đầu vì xã hội không có thông tin, mà vì thông tin không thể đi tới nơi cần nó nhất. Một tổ chức có thể thuê hàng nghìn chuyên gia mà vẫn quyết định sai nếu các chuyên gia hiểu rằng nói điều cấp trên không muốn nghe sẽ gây bất lợi cho chính mình. 

Tranh luận có thể làm một quyết định chậm lại. Nhưng đôi khi chính sự chậm trễ ấy ngăn được một sai lầm mà hậu quả kéo dài hàng chục năm. 

Vì vậy, tự sửa sai phải được thể chế hóa. Sửa một chính sách tồi sau mười năm vẫn tốt hơn không sửa, nhưng một xã hội trưởng thành cần những cơ chế phát hiện sai lầm sớm hơn: báo chí điều tra, tranh luận khoa học, mức độ độc lập cần thiết của tư pháp, trách nhiệm giải trình của công quyền và những kênh hợp pháp để công dân phản biện chính sách. 

Những thiết chế ấy không làm nhà nước yếu đi. Chúng làm giảm cái giá mà cả nhà nước lẫn xã hội phải trả cho sự mù lòa thông tin. 

Giáo dục thuộc cùng một cấu trúc. Một nền giáo dục chủ yếu huấn luyện học sinh tìm “đáp án đúng” có thể tạo ra những con người giỏi thích nghi với hệ thống hơn là những công dân biết suy nghĩ về hệ thống ấy. 

Giáo dục trưởng thành không dạy người trẻ nghi ngờ tất cả. Nó dạy họ phân biệt chứng cứ với khẳng định, thẩm quyền với chân lý, bất đồng với phản bội. Một xã hội vừa muốn sáng tạo vừa e ngại tư duy độc lập sẽ rơi vào một nghịch lý: muốn có phát minh mới nhưng lại không thoải mái trước những câu hỏi mới. 

Ở tầng sâu hơn, nhà nước kiến tạo phải chuyển từ cách nhìn xã hội như một đối tượng cần quản lý sang nhìn xã hội như một nguồn năng lượng phát triển. Doanh nghiệp, đại học, hội nghề nghiệp, cộng đồng địa phương, giới sáng tạo và từng công dân không chỉ là những đơn vị chờ chính sách từ trên ban xuống. Đó là những nơi tri thức, sáng kiến và giải pháp được sinh ra — nhiều khi theo những cách mà không một trung tâm nào có thể thiết kế đầy đủ từ trước. 

Nhà nước càng mở được không gian cho những nguồn năng lượng ấy, sức mạnh quốc gia càng bớt phụ thuộc vào một trung tâm duy nhất. 

Bởi vậy, chuyển từ quyền lực huy động sang quyền lực kiến tạo không phải là chuyển từ “nhà nước mạnh” sang “nhà nước yếu”. Đó là chuyển từ sức mạnh của mệnh lệnh sang sức mạnh của năng lực xã hội; từ khả năng buộc xã hội tuân theo sang khả năng tạo điều kiện để xã hội tự phát triển. 

Một dân tộc trưởng thành cần một nhà nước đủ mạnh để bảo vệ lợi ích chung, nhưng cũng đủ tự tin để hiểu rằng trí tuệ của cả xã hội luôn lớn hơn trí tuệ của bất cứ một bộ máy hay một nhóm quyền lực nào. 

16. “BA VIỆT NAM”: KÝ ỨC, SỰ THẬT VÀ MỘT DÂN TỘC CHƯA HOÀN TOÀN HÒA GIẢI 

Không thể nói đến trưởng thành nếu ký ức chỉ thuộc về người chiến thắng. Nhưng hòa giải cũng không thể được xây dựng bằng cách đảo ngược độc quyền ký ức — thay lịch sử của bên thắng bằng lịch sử của bên thua. Điều cần thiết là một không gian trong đó những ký ức từng đối nghịch có thể cùng tồn tại mà ký ức này không cần triệt tiêu ký ức kia. 

Việt Nam thế kỷ XX không chỉ có hai miền địa lý. Sau chiến tranh, có thể hình dung ít nhất ba không gian ký ức. 

Một là ký ức của những người gắn cuộc đời mình với Cách mạng Tháng Tám, các cuộc chiến tranh và chiến thắng năm 1975. 

Hai là ký ức của những người từng sống dưới thời Việt Nam Cộng hòa, rồi trải qua mất mát, cải tạo hoặc rời bỏ quê hương. 

Ba là ký ức của những thế hệ sinh sau 1975, ở cả trong lẫn ngoài nước, không trực tiếp chịu trách nhiệm về cuộc chiến nhưng vẫn thừa hưởng những câu chuyện của nó. 

“Ba Việt Nam” ấy không phải ba quốc gia. Đó là ba miền của một ký ức dân tộc chưa hoàn toàn gặp được nhau. 

Khái niệm ký ức tập thể của Maurice Halbwachs giúp giải thích vì sao một cuộc chiến có thể kết thúc trên chiến trường nhưng chưa kết thúc trong tâm trí con người. Ký ức không chỉ nằm trong từng cá nhân. Nó được duy trì trong mỗi gia đình, cộng đồng và các nhóm xã hội, vì thế có thể được truyền qua nhiều thế hệ. 

Một người sinh sau biến cố vẫn có thể thừa hưởng nỗi đau, niềm kiêu hãnh hay định kiến của biến cố ấy qua câu chuyện của cha mẹ, sách giáo khoa, nghĩa trang, ngày kỷ niệm, bài hát — và đôi khi qua chính những điều mà gia đình quyết định không bao giờ nói tới. 

Hồi ký của các phía vì thế nên được đọc như ta nhìn qua những ô cửa sổ, chứ không phải như những bản án cuối cùng. Hồi ức của Trần Quang Cơ về ngoại giao Việt Nam, suy tư của các trí thức miền Nam, ký ức của những người từng phục vụ Việt Nam Cộng hòa, của những người miền Nam tham gia cách mạng, của những người đi cải tạo, những người vượt biển — mỗi nguồn lưu giữ một phần của sự thật. 

Sử luận trưởng thành không đòi những ký ức ấy phải giống nhau. Nó đòi kiểm chứng từng nguồn và đồng thời tìm hiểu vì sao cùng một biến cố lại sinh ra những ký ức khác nhau đến thế. 

Ở đây phải phân biệt giữa sự thật lịch sử với ký ức lịch sử. 

Sự thật lịch sử đòi hỏi tư liệu, đối chiếu và kiểm chứng. Ký ức có thể nhớ sai một ngày tháng mà vẫn nói thật về nỗi sợ. Nó có thể phiến diện trong cách giải thích một biến cố mà vẫn phản ánh trung thực tâm trạng của một cộng đồng. 

Ký ức không thể thay thế chứng cứ lịch sử. Nhưng cũng không thể loại nó khỏi lịch sử chỉ vì nó mang tính chủ quan. Trưởng thành là khả năng đặt hai tầng sự thật ấy cạnh nhau và đặt sao cho chúng có thể đối thoại. 

Văn Cao để lại một trường hợp đặc biệt đau đớn. Trong bài thơ Đồng chí của tôi, viết trong bối cảnh Cải cách ruộng đất, người bị dẫn tới cái chết vẫn khẳng định căn cước chính trị của mình. Giá trị của bài thơ không nằm ở việc thay thế hồ sơ sử học của một vụ việc cụ thể, mà ở nghịch lý tinh thần mà nó giữ lại: con người có thể vẫn trung thành với lý tưởng ngay cả khi bộ máy nhân danh lý tưởng ấy triệt hạ chính mình. 

Văn chương ở đây trở thành ký ức của một vùng xám, nơi nạn nhân và người tin vào cách mạng có thể cùng tồn tại trong một con người. 

“Vùng xám” ấy đặc biệt quan trọng đối với sử luận. Lịch sử chính trị thường chia con người thành những phạm trù rạch ròi: cách mạng hay phản cách mạng, thắng hay thua, đúng hay sai. Đời sống trong thực tế phức tạp hơn nhiều. 

Có người yêu nước nhưng bất đồng với chính quyền. Có người từng đứng ở một phía rồi sau đó đóng góp cho đất nước thống nhất. Có người rời Việt Nam nhưng dành cả đời cho văn hóa Việt. Có người chiến đấu trong hàng ngũ chiến thắng nhưng khi nhìn lại vẫn mang trong mình những nỗi đau về một phần trải nghiệm đã qua. 

Nếu sử luận không chứa nổi những vùng xám ấy, lịch sử có thể trở nên dễ kể hơn — nhưng con người trong lịch sử lại bị làm cho nghèo đi. 

Sau 1975, câu hỏi chuyển sang một bình diện khác: một dân tộc đối xử thế nào với di sản của phía bên kia? 

Trường đại học, sách vở, kinh nghiệm quản trị, đời sống văn hóa và ký ức xã hội của miền Nam đều thuộc về lịch sử Việt Nam, bất kể người ta đánh giá chính trị thế nào về Việt Nam Cộng hòa. Một đất nước không cần lãng quên một chế độ đã mất để khỏi phải thừa nhận rằng dưới chế độ ấy từng tồn tại những giá trị đáng được kế thừa. 

Nhìn ra ngoài Việt Nam, không có một công thức duy nhất cho hòa giải. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nước Đức cần nhiều thập niên để hình thành một văn hóa ký ức đủ mạnh, trong đó quá khứ Quốc xã trở thành đối tượng thường xuyên của giáo dục và tranh luận công cộng. 

Nam Phi sau apartheid đi theo một con đường khác với Ủy ban Sự thật và Hòa giải. Cách làm ấy không giả định rằng xã hội có thể hòa giải chỉ bằng cách quên đi, mà đưa tất cả – lời chứng của nạn nhân, trách nhiệm của người gây hại, ân xá có điều kiện và vấn đề bồi thường – vào một tiến trình công khai. 

Những mô hình ấy đều có giới hạn và tiếp tục gây tranh luận. Ý nghĩa của chúng đối với Việt Nam không nằm ở việc sao chép, mà ở một bài học: hòa giải là một công việc của thể chế, không chỉ là tuyên truyền hay lời kêu gọi đạo đức. 

So sánh với tiến trình hòa giải Việt–Mỹ càng làm nổi bật một nghịch lý. Ngày 15 tháng 9 năm 2026 tại Đà Nẵng, Việt Nam bàn giao cho phía Hoa Kỳ tấm biển “Camp Reasoner” cùng một chòi canh từ một căn cứ cũ của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong chiến tranh. Các nguồn chính thức của Việt Nam mô tả hành động này bằng ngôn ngữ của thiện chí, nhân đạo, hòa giải và hàn gắn. 

Đó là một việc làm đáng ghi nhận. Nhưng chính vì thế nó đặt ra một câu hỏi không thể không suy nghĩ: nếu hai quốc gia từng trực tiếp giao chiến có thể đi xa đến mức tôn trọng cả di vật của một cựu thù, thì hòa giải giữa những người Việt cùng nhận mình từ một “bọc trăm trứng” có thể đi xa đến đâu? 

Câu chuyện Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, cách gọi những người đã chết, quyền tưởng niệm và vị trí của ký ức Việt Nam Cộng hòa trong lịch sử chung vì vậy không chỉ thuộc về quá khứ. Nó liên quan trực tiếp đến mức độ trưởng thành của cộng đồng hiện tại. 

Quyết định chuyển nghĩa trang sang quy chế dân sự đã có từ năm 2006–2007, nhưng những câu hỏi về bảo tồn, tu bổ và ý nghĩa hòa giải của nơi này chưa khép lại. 

Biểu tượng có sức mạnh riêng của nó. Một nghĩa trang không còn là một đơn vị quân sự. Những người nằm dưới mộ không thể tham gia thêm một cuộc chiến chính trị nào nữa. Vì thế, cách người sống đối xử với người chết nói nhiều về người sống hơn là về người chết. 

Khi một cộng đồng có thể chăm sóc phần mộ của những người từng đứng ở phía đối nghịch mà không cảm thấy căn cước hiện tại của mình bị đe dọa, điều ấy không có nghĩa là phủ nhận thực tế của chiến thắng. Ngược lại, nó có thể cho thấy một mức tự tin cao hơn của bên chiến thắng: chiến thắng đã đủ vững để lòng trắc ẩn không còn bị coi là nguy hiểm. 

Hòa giải không đòi hỏi mọi người phải đồng ý về lịch sử. Điều đó vừa bất khả thi vừa không cần thiết. Nó đòi hỏi một nền tảng đạo lý căn bản hơn: người chết không còn là kẻ thù; đau khổ của một gia đình không mất giá trị chỉ vì người thân của họ từng đứng ở phía bên kia; và quyền thuộc về dân tộc không thể vĩnh viễn phụ thuộc vào lý lịch chính trị của cha ông. 

Nhưng hòa giải cũng không thể chỉ dừng ở tình cảm. Nếu định kiến cũ vẫn tồn tại trong ngôn ngữ, hồ sơ, chính sách, giáo dục và cách phân loại con người, những lời kêu gọi đoàn kết dân tộc khó vượt khỏi nghi thức. 

Hòa giải trưởng thành phải đi từ thiện chí vào đời sống: quyền trở về, quyền tưởng niệm, quyền đóng góp, cơ hội bình đẳng và trên hết là quyền được nhìn nhận như một thành viên của cộng đồng dân tộc mà không bị buộc phải từ bỏ ký ức của gia đình mình. 

Bởi vậy, cộng đồng người Việt ở nước ngoài không nên chỉ được nhìn như nguồn kiều hối, chất xám hay đầu tư. Họ còn mang theo một phần lịch sử Việt Nam. Trong những gia đình ấy có ký ức về miền Nam, vượt biển, cải tạo và mất mát; nhưng cũng có những thế hệ mới không còn nói tiếng Việt thành thạo mà vẫn tìm về văn hóa tổ tiên. 

Khả năng để những ký ức ấy trở lại câu chuyện chung của dân tộc mà không phải vượt qua một cuộc sát hạch về lòng trung thành chính trị cũng là một thước đo của trưởng thành. 

Hòa giải, xét đến cùng, là câu chuyện của tương lai nhiều hơn quá khứ. Một Việt Nam muốn huy động nguồn lực của hàng triệu người Việt ở nước ngoài và muốn trở thành một chủ thể văn minh trong thế giới không thể dừng ở thống nhất địa lý. 

Nó cần một ý niệm về cộng đồng đủ rộng để những người Việt mang các ký ức khác nhau vẫn có thể nhận ra mình trong cùng một câu chuyện quốc gia. Nếu không, thì lời cảm thán của Tiến sĩ  Nguyễn Phương Mai từ Sydney (Úc)  – sau khi tóm tắt lại các giả thiết về các nhóm nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề hàn gắn đối với người Việt, mà theo tác giả, dân tộc này “không có Sông Ngân” – có thể thành hiện thực? 

17. TỰ SỬA SAI – THƯỚC ĐO KHÓ NHẤT CỦA SỰ TRƯỞNG THÀNH 

Mọi dân tộc đều có thể phạm sai lầm. Mọi nhà nước đều có thể từng theo đuổi những chính sách thất bại. Mọi nền văn minh đều từng trải qua những thời kỳ mà các giá trị được tuyên bố không tương ứng với cách người ta hành động. 

Khác biệt quan trọng không nằm ở việc một đất nước có một quá khứ không tì vết hay không, mà ở khả năng nhận ra, gọi đúng tên và sửa chữa những sai lầm của mình. 

Karl Popper nhìn ưu thế của xã hội mở không phải ở khả năng sản sinh những người cai trị hoàn hảo, mà ở khả năng thay đổi quyết định và thay người cầm quyền mà không phải phá hủy xã hội. Hannah Arendt, từ một hướng khác, đặt vấn đề trách nhiệm cá nhân trong những hệ thống mà hành động của con người rất dễ hòa tan vào guồng máy. 

Những suy tư ấy gặp kinh nghiệm Việt Nam ở một điểm: hy vọng lâu dài của một quốc gia không thể đặt trên giả định rằng trên đỉnh quyền lực lúc nào cũng có một “minh quân”. Cần những cơ chế khiến cả người lãnh đạo tốt lẫn người lãnh đạo tồi đều bị ràng buộc bởi pháp luật và trách nhiệm. 

Điều này cũng chạm đến một truyền thống sâu hơn trong tư tưởng chính trị Đông Á. Từ mệnh đề “dân vi quý” của Mạnh Tử đến tư tưởng về sức dân của Nguyễn Trãi, người xưa đã hiểu rằng quyền lực không thể hoàn toàn tách khỏi đời sống của dân chúng. 

Nhưng từ lời khuyên người cầm quyền phải có đạo đức đến việc xây dựng những cơ chế khiến quyền lực phải chịu trách nhiệm là một khoảng cách rất lớn. Một phần quan trọng của văn minh chính trị hiện đại được hình thành chính trong khoảng cách ấy: từ hy vọng người cầm quyền có đức độ sang xây dựng thể chế có thể giới hạn quyền lực ngay cả khi người cầm quyền không đủ tài đức. 

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, “sửa sai” là một cụm từ mang sức nặng đặc biệt. Cải cách ruộng đất được tiếp nối bằng chiến dịch sửa sai. Những bế tắc của kinh tế kế hoạch hóa dẫn tới Đổi Mới. Trong đối ngoại, Việt Nam chuyển từ tình trạng cô lập cuối thập niên 1970 và 1980 sang đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. 

Những chuyển động ấy cho thấy một điều quan trọng: hệ thống Việt Nam không hoàn toàn đánh mất năng lực thích nghi lâu đời của người Việt. 

Nhưng thích nghi khi bị thực tế dồn ép khác với tự sửa sai đã được thể chế hóa. 

Nếu chỉ thay đổi khi khủng hoảng đã đủ nghiêm trọng, cái giá xã hội phải trả có thể rất lớn. Trưởng thành đòi hỏi năng lực phản tỉnh phải hiện diện trong đời sống bình thường: chính sách có thể được thử nghiệm và đánh giá; số liệu bất lợi không bị che giấu; chuyên gia có quyền bất đồng; nhà báo có thể đặt câu hỏi; công dân có nơi khiếu nại; quá khứ có thể được nghiên cứu mà người nghiên cứu không vì thế trở thành đối tượng bị nghi ngờ. 

Có thể hình dung ba tầng của năng lực tự sửa sai. 

Tầng thấp nhất là sửa một quyết định sau khi hậu quả tiêu cực của nó đã không thể phủ nhận. 

Tầng cao hơn là sửa cơ chế đã sản sinh ra quyết định ấy. 

Tầng cao nhất là xây dựng một hệ thống có khả năng phát hiện sai lầm trước khi sai lầm trở thành thảm họa. 

Tầng thứ ba này đòi hỏi những thiết chế có mức độc lập cần thiết, dữ liệu đáng tin cậy, báo chí chuyên nghiệp, tự do khoa học và một văn hóa chính trị không coi việc thừa nhận sai lầm là mất thể diện. 

Đây cũng là khác biệt giữa giữ thể diện và nhận trách nhiệm. Trong một nền văn hóa quá nặng chuyện “giữ thể diện”, sửa sai dễ bị hiểu như thú nhận thất bại. Từ đó nảy sinh xu hướng dùng một quyết định mới để bảo vệ quyết định cũ, rồi lại dùng những biện pháp khác để bảo vệ quyết định mới. 

Trong nền văn hóa trách nhiệm thì ngược lại. Khả năng nói “chúng ta đã sai” có thể chính là biểu hiện của sức mạnh. Một nhà khoa học trưởng thành không mất uy tín vì sửa giả thuyết khi chứng cứ mới xuất hiện; một thiết chế trưởng thành cũng không nên sợ mất uy tín khi biết sửa mình. 

Nhìn theo nghĩa ấy, khoa học và dân chủ chia sẻ một phẩm chất văn minh: không ai nắm giữ chân lý cuối cùng. 

Khoa học tiến lên vì giả thuyết có thể bị bác bỏ. Chính trị tiến lên khi chính sách có thể bị chất vấn và quyền lực có thể bị giám sát. Ở đâu mọi phê bình đều bị hiểu như thù địch, ở đó năng lực học hỏi của hệ thống sẽ dần dần bị thu hẹp lại. 

Nhưng bài học này không chỉ dành cho nhà nước. 

Một xã hội trưởng thành cũng phải biết tự sửa mình. Định kiến vùng miền, sính bằng cấp, văn hóa quan hệ, thói quen né tránh trách nhiệm, sự dễ dãi với thông tin sai lệch hay xu hướng biến mọi bất đồng thành cuộc phán xét đạo đức giữa người với người — không thể đổ tất cả những thứ ấy cho bộ máy cầm quyền. 

Nếu chính sách thay đổi mà những tập quán xã hội sinh ra vấn đề vẫn nguyên vẹn, cải cách sẽ liên tục gặp lại những căn bệnh cũ dưới những tên gọi mới. 

Gia đình và giáo dục vì thế trở lại như hai thiết chế nền tảng của trưởng thành. Một đứa trẻ được dạy phải tuyệt đối phục tùng người lớn không thể đột nhiên trở thành công dân biết tranh luận khi bước sang tuổi mười tám. Một học sinh quen học thuộc “đáp án đúng” sẽ khó trở thành nhà nghiên cứu dám đặt câu hỏi với sách giáo khoa. Một công chức được hình thành trong môi trường coi an toàn quan trọng hơn sáng kiến sẽ không tự động trở thành nhà cải cách chỉ vì một nghị quyết kêu gọi đổi mới. 

Con người tạo ra thiết chế, nhưng thiết chế cũng tạo ra con người. 

Vì vậy, “Trưởng thành” không phải một phẩm chất tâm lý mơ hồ của dân tộc. Nó là một quá trình văn minh diễn ra đồng thời trong cá nhân, gia đình, nhà trường, xã hội và nhà nước. 

Cá nhân học chịu trách nhiệm. Gia đình học tôn trọng khác biệt. Nhà trường học

Tiến Sĩ Đinh Hoàng Thắng

Tân Đạo Việt

Tân Đạo Việt: Những Con Đường Mở Tới Tương Lai

About the author