Chuỗi Dài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam : Tội Ác Từ Hội Nghị Thành Đô 1990 Sẽ Sáp Nhập Việt Nam Vào Trung Quốc Năm 2020 – 2040 – 2060.

Bài viết này là phần 24 / 28 trong loạt bài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Từ 1945 Đến 2019

Trước hội nghị Thành Đô

Giữa năm 2011, tổ chức Wikileaks đã công bố hàng ngàn tài liệu loại tối mật của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mà tổ chức Wikileaks có được, trong đó có “biên bản” cuộc họp giữa Nguyễn Văn Linh Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, và Đỗ Mười Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng, đại diện Việt Nam, với Giang Trạch Dân Tổng bí thư, và Lý Bằng Thủ tướng, đại diện Đảng cộng sản Trung Quốc ngày 3 & 4 tháng 9 năm 1990 tại thành phố Thành Đô của Trung Quốc. Wikileaks khẳng định, tin tức dưới đây nằm trong số 3.100 bức điện đánh đi từ cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ tại Hà Nội và Sài Gòn gửi về chính phủ Hoa Kỳ. Tài liệu này có đoạn ghi rõ :

“…Vì sự tồn tại của sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản, Đảng cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc giải quyết các mối bất đồng giữa hai nước. Phía Việt Nam xin làm hết mình để vun đắp tình hữu nghị lâu đời vốn có giữa hai đảng và nhân dân hai nước do Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây đắp trong quá khứ, và Việt Nam bảy tỏ mong muốn đồng ý sẵn sàng chấp nhận và đề nghị phía Trung Quốc để Việt Nam được hưởng quy chế “khu tự trị” trực thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…. Phía Trung Quốc đã đồng ý và chấp nhận đề nghị nói trên, cho thời hạn phía Việt Nam trong 30 năm (1990-2020) để Đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Hoa”.

Ông Nguyễn Văn Linh (Wikipedia – Nguyễn Văn Linh), tên thật là Nguyễn Văn Cúc, chào đời ngày 1/7/1915 tại Hưng Yên. Không thấy nói trình độ giáo dục, nhưng năm 14 tuổi có tham gia Học sinh đoàn do Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên lãnh đạo. Ngày 1/5/1930, khi rải truyền đơn chống Pháp thì bị bắt với án tù chung thân tại trại tù Côn Đảo. Năm 1936, chánh phủ Pháp thay đổi lãnh đạo và ông được trả tự do. Ông Linh vào Đảng cộng sản tại Hải Phòng.

Tháng 12/1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6, ông Nguyễn Văn Linh giữ chức Tổng bí thư Ban Chấp hành trung ương. Trong đại hội 7 năm 1991 và đại hội 8 năm 1996, giữ chức Cố vấn, Ban Chấp hành trung ương. Ông chết ngày 27/4/1998.

Ông Trần Quang Cơ (trích trong Google.vn). Giữ chức Đại sứ tại Thái Lan từ tháng 10/1982 đến tháng 10/1986. Giữ chức Thứ trưởng Ngoại giao từ tháng 1/1987 đến 1993 ông về hưu.

Từ đầu năm 2004, giới cán bộ ngoại giao và giới trí thức ở Việt Nam đã chuyền tay nhau tập hồi ký và suy nghĩ của ông Trần Quang Cơ, nguyên Thứ trưởng Ngoại giao. Tập hồi ký 82 trang viết từ năm 2001, hoàn tất tháng 5/2003, nhưng chưa được phép xuất bản. Tác giả cung cấp những tài liệu giá trị về những vấn đề Việt Nam trong giai đoạn nguy khốn nhất về hồ sơ chiến tranh Campuchia, và hồ sơ tái lập bang giao giữa hai nước đàn anh Trung Quốc với đàn em cộng sản Việt Nam.

Ngày 9/4/1987, Bộ Chính trị quyết định thành lập “Tổ Nghiên cứu Nội bộ” để tìm giải pháp trong bang giao với Liên Xô- Trung Quốc – Campuchia. Ông Trần Quang Cơ là một thành viên trong tổ nghiên cứu này.

Ngày 20/5/1988, Nghị quyết 13 nhằm giải quyết vấn đề Campuchia trước năm 1990, và cố gắng tái lập bang giao với Trung Quốc. Ngày 14/3/1989, Bộ Chính trị quyết định rút hết quân khỏi Campuchia vào cuối tháng 9/1989.

Ngày 13/6/1990, Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Từ Đôn Tín, đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và nói : “Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí, chúng tôi đã chuẩn bị ý kiến về bang giao hai nước Trung Quốc-Việt Nam”.

Ngày 29/8/1990, Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy gặp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh trao thông điệp của Tổng bí thư Giang Trạch Dân, mời các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên Trung Quốc vào ngày 3/9/1990, để hội đàm bí mật về vấn đề Campuchia, và vấn đề bình thường hóa bang giao giữa cộng sản Việt Nam với Trung Quốc.

Điều lạ là ngày 24/8/1990, Trung Quốc đã bác bỏ việc bàn chuyện bình thường hóa, mà đòi phải giải quyết vấn đề Campuchia trước. Theo ông Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Ngoại giao nhận định : “Sự thay đổi đột ngột của Trung Quốc là do họ Hoa Kỳ, Nhật Bản, đặc biệt là các nước trong khối ASEAN, tỏ thái độ thân thiện với Việt Nam nên họ muốn phá Việt Nam”.

Ngày 30/8/1990, Bộ Chính trị họp thảo luận về việc gặp lãnh đạo Trung Quốc. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu : “Chúng ta cần hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ Chủ nghĩa xã hội và chống đế quốc, đồng thời hòa hợp giữa Phnom Penh với Khmer đỏ để giải quyết vấn đề Campuchia”. Quan điểm của Đại tướng Lê Đức Anh về hồ sơ Campuchia : “Phải bàn về hòa hợp dân tộc thực sự ở Campuchia, vì nếu không có Polpot thì chiến tranh vẫn tiếp tục”.

Ngày 2/9/1990, các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng đến Thành Đô đúng hẹn. Tháp tùng có ông Hồng Hà, Chánh văn phòng trung ương, ông Hoàng Bích Sơn, Trưởng ban đối ngoại, và ông Đinh Nho Liêm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhưng không có Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, vì cho rằng quan điểm ông Thạch không thích hợp trong cuộc họp này.

Trong hội nghị Thành Đô

Ngày 3/9/1990. Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng của Trung Quốc, đón các vị Đảng cộng sản Việt Nam là các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, và Phạm Văn Đồng tại khách sạn Kim Ngưu, Thành Đô.

Buổi họp đầu tiên chiều hôm nay 3/9/1990- ông Nguyễn Văn Linh nói đến nguyện vọng muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề Campuchia, và đặt trọng tâm vào vấn đề bình thường hóa bang giao Việt-Trung.

Ngày 4/9/1990. Buổi sáng tiếp tục họp. Những vấn đề hội nghị thảo luận hầu như đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, nên quyết định khởi thảo một bản kỷ yếu của Hội Nghị. Lúc 2 giờ 30 chiều, tại khách sạn Kim Ngưu, lãnh đạo hai nước Việt-Trung cử hành nghi thức ký kết chánh thức. Hai bên riêng biệt do Tổng bí thư và Thủ tướng ký. Đây là bước ngoặt mang tính lịch sử của bang giao hai nước Việt-Trung.

Điều lạ là tác giả hồi ký chỉ cho biết hai bên đạt được nhận thức chung một cách đầy đủ, nhưng không một chi tiết nào cho thấy hai bên đạt được những gì. Vậy, phải chăng những chi tiết đó thuộc loại tối mật ?

Trong cuốn sách “Mao Chủ tịch của tôi” của tác giả Hà Cẩn, Viện Văn Học Trung Quốc đã được giới thiệu trong “Những sự thật không thể chối bỏ”, có đoạn viết : “Việt Nam cuối cùng cũng đã xích lại gần hơn nữa với Trung Quốc. Những gì thuộc về quan hệ tốt đẹp của hai đảng từ thời Mao Chủ tịch và Hồ Chủ tịch đã được Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cụ thể hơn sau chiến tranh biên giới năm 1979. Không có gì có lợi hơn cho cả Việt Nam và Trung Quốc khi đứng chung nhau”.

Sau hội nghị Thành Đô

Sau 2 ngày họp 3 và 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên bản” gồm 8 điểm. Trong đó : 5 điểm là quan điểm của Trung Quốc giải quyết hồ sơ Campuchia mà Đảng cộng sản Việt Nam không có quan điểm nào cả. 2 điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không có gì tranh cãi. Chỉ có 1 điểm nói đến cải thiện bang giao giữa hai đảng cộng sản Việt Nam và Trung Quốc mà thực chất chỉ là lập trường cũ của Trung Quốc đối với Việt Nam, nhưng không thấy nói lập trường cũ là như thế nào.

Ông Giang Trạch Giang nhấn mạnh : “Các nước phương Tây rất chú ý tới bang giao của chúng ta. Các đồng chí đến đây, các nước không ai biết. Chúng ta cảnh giác vấn đề này, họ cho rằng Việt Nam xã hội chủ nghĩa với Trung Quốc xã hội chủ nghĩa đều do Đảng cộng sản lãnh đạo, họ họp nhau làm gì đây”. Vì vậy, chúng ta giữ kín chuyện này, vì tình hình quốc tế hiện nay, nếu để họ biết hai Đảng cộng sản bắt tay nhau là sách lược không lợi cho chúng ta”.

Ông Trần Quang Cơ nhận định : “Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là một sai lầm hết sức đáng tiếc trong bang giao giữa hai nước.

Trong khi đó, sự kiện Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã tác động rất lớn đến ông Nguyễn Văn Linh, và dẫn đến tư tưởng phục tùng Trung Quốc, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù các ông Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công, Trần Xuân Bách cản ngăn, nhưng ông Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm : “Kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vững chắc bảo vệ xã hội chủ nghĩa. Dù Trung Quốc có bành trướng thế nào đi nữa thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”.

Tóm tắt tài liệu. Những sử liệu của Trung Quốc đã chứng minh nhóm dâng nước và bán nước do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu. Những ai thật sự lương thiện đã không theo cộng sản, hoặc nhận thấy cộng sản tồi tệ nên đã ly khai khỏi đảng, đều công nhận rằng “cộng sản là dối trá là ngụy biện”. Cái cách mà ông Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài của cộng sản. Vậy thì, mỗi chúng ta hãy đem những sự thật này đến với nhân dân Việt Nam, vì đó là con đường ngắn nhất để cứu nước trước thảm họa đang đến rất gần. Đấu tranh cho dân chủ, trước hết phải lật đổ cộng sản Việt Nam.

Trích nhật ký của Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng

“Cuối những năm 1970. Việt Nam đưa quân sang Campuchia. Năm 1979, bang giao Trung-Việt bế tắc. Tháng 12/1986, trước tình hình quốc tế thay đổi, đặc biệt là Liên Xô và Đông Âu tan rã. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tìm kiếm chính sách bình thường hóa với Trung Quốc. Sau khi hai bên Trung-Việt thông qua đường liên lạc, đồng ý hội nghị bí mật vào ngày 03-04/9/1990. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, chấp nhận đàm phán với các nhà lãnh đạo Trung Quốc”. 

“Ngày 27/8/1990. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh theo những dự thảo liên quan mà tôi đã báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu Bình. Cuộc họp này liên quan đến việc bình thường hóa bang giao song phương Trung-Việt là điều đặc biệt hệ trọng, nên để bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được tổ chức tại Thành Đô”.

“Ngày 30/8/1990. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ đến Thành Đô, để đàm phán nội bộ với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, và Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười. Bây giờ thử xem Việt Nam trả lời thế nào”.

Với dòng chữ tôi tô đậm trên đây, rõ ràng là Trung Quốc xem cộng sản Việt Nam không ra gì cả.

“Ngày 02/9/1990. Lúc 3 giờ 30 chiều, tôi lên chiếc máy bay riêng và cất cánh từ ngoại ô Bắc Kinh. Khoảng 6 giờ chiều đến sân bay Thành Đô, và di chuyển bằng xe đến Kim Ngưu tân quán (宾馆金牛). Bí Thư tỉnh ủy Dương Nhữ Đại chờ đón tại đây. Trong khi đồng chí Giang Trạch Dân đáp chiếc bay khác và đến Thành Đô sau tôi. Lúc 11 giờ đêm, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân, trao đổi chính sách cho cuộc đàm phán với phía Việt Nam vào ngày mai”.

“Thành Đô, ngày 3/9/1990. Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân tiếp tục nghiên cứu các nguyên tắc tiến hành đàm phán với phía Việt Nam. Khoảng 2 giờ trưa, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, và Cố Vấn ban chấp hành trung ương đảng Phạm Văn Đồng, cùng đến Kim Ngưu tân quán. Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi, chào đón họ tại tầng lầu 1. Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, mặc veston màu cà phê, phong thái học giả. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, mái tóc bạc trắng, cũng có thái độ mạnh mẽ, mặc veston màu xanh. Họ là những người trên bảy mươi tuổi, và Phạm Văn Đồng thị giác mắt nheo đục, mặc veston đại cán phù hợp với màu xanh, ông cũng là cựu chiến binh Trung Quốc”.

“Buổi chiều, cuộc đàm phán bắt đầu. Nguyễn Văn Linh, lần đầu tiên đọc bài phát biểu dài. Mục đích mong muốn giải quyết vấn đề Campuchia càng sớm càng tốt. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh có vẻ bày tỏ về nguyên tắc, còn trọng điểm là bình thường hóa bang giao Trung-Việt. Cuộc đàm phán tiếp tục cho đến 8 giờ tối, và vào tiệc lúc 8 giờ 30 tối. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân, tiếp tục làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh”. Ngày 4/9/1990. Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Tại thời điểm này, có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đã đi đến sự đồng thuận một cách thỏa đáng, và cùng quyết định soạn thảo bản “Kỷ yếu hội nghị”. 

Với những chữ mà tôi tô đậm có thể làm cho người đọc nghĩ rằng, nội dung đàm phán do Trung Quốc soạn thảo và cộng sản Việt Nam chấp nhận nhanh chóng, và Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đạt được mục đích khi ông nói rằng : “Dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”, để phản bác ý kiến các “đồng chí của ông” có ý ngăn cản ông đưa Việt Nam ngã vào vòng tay Trung Quốc.

(Trong hình. Hàng trước, từ trái sang phải : Vị trí số 1 tận cùng bên trái là ông Hoàng Bích Sơn. Vị trí số 3 là ông Phạm Văn Đồng. Số 4 ông Nguyễn Văn Linh. Số 5 ông Giang Trạch Dân. Số 6 ông Lý Bằng. Số 7 ông Đỗ Mười. Và vị trí số 9 tận cùng bên phải là ông Hồng Hà).

“Lúc 2 giờ 30 chiều, trên tầng lầu 1 của nhà khách Kim Ngưu. Tổng bí thư và Thủ tướng của hai bên Trung Quốc với Việt Nam cùng ký. Đây là bước ngoặt lịch sử trong bang giao Trung-Việt.

(Hết trích).

Sau ngày hội nghị Thành Đô kết thúc, nhật báo Tứ Xuyên loan tải một thông điệp của phái đoàn Việt Nam, rằng : “Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc chấp nhận đề nghị nói trên, và cho Việt Nam thời gian 30 năm để Đảng cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc”.

Một chút so sánh tổng quát giữa hai nhật ký. Trung Quốc mời họp và Việt Nam chấp nhận, đến những diễn biến như địa điểm họp, ngày giờ họp, nội dung họp, soạn thảo Biên bản mà hội nghị gọi là “kỷ yếu hội nghị”, và hai bên cùng ký, thì nội dung nhật ký của Thứ Trưởng Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ với nhật ký của Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng, đều giống nhau.

Nhưng nội dung của Biên bản thì nhật ký của ông Lý Bằng chỉ viết : “…có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đã đi đến sự đồng thuận một cách thỏa đáng, làm cho người đọc hiểu là Đảng cộng sản Việt Nam nhanh chóng chấp nhận quan điểm của lãnh đạo Trung Quốc.

Trong khi nhật ký của ông Trần Quang Cơ viết như sau : “Sau 2 ngày họp 3 và 4/9/1990, kết quả được ghi lại trong “Biên bản” gồm 8 điểm. Trong đó : Năm điểm là quan điểm của Trung Quốc giải quyết hồ sơ Campuchia. Hai điểm liên quan đến quốc tế mà hai bên không có gì tranh cãi. Chỉ có một điểm nói đến cải thiện bang giao Việt Nam – Trung Quốc mà thực chất chỉ là lập trường cũ của Trung Quốc đối với Việt Nam”.

Điểm thứ 8 thì ông Trần Quang Cơ viết như sau : “Thỏa thuận Việt Nam-Trung Quốc ở Thành Đô, hoàn toàn không phải là một thành tựu đối ngoại của Việt Nam, mà ngược lại là hết sức sai lầm trong quan hệ giữa hai nước”.

“Trong bối cảnh Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ đã tác động đến tư tưởng của ông Nguyễn Văn Linh, tư tưởng phục tùng Trung Quốc, kẻ thù ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Mặc dù trong thời gian chuẩn bị, các ông Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công, Trần Xuân Bách ngăn cản, nhưng ông Nguyễn Văn Linh không nghe, vẫn giữ quan điểm : “Kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, làm chỗ dựa vững chắc bảo vệ xã hội chủ nghĩa. Dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”.

Nhận định

Người lãnh đạo như Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh kéo Trung Quốc lại để thay thế Liên Xô, chừng như ông ta không hiểu gì về lịch sử Việt Nam mà vua Trần Nhân Tông từ nửa cuối thế kỷ 13 đã nhìn thấy, rằng : “Trung Hoa phong kiến là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam”. Vua Trần Nhân Tông còn nhìn thấy kẻ thù vừa thâm lại vừa độc, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng gậm nhấm Việt Nam trên từng tấc đất tấc biển. Ngay trong thời đương đại, chiến tranh biên giới vào đầu năm 1979 mà ông Nguyễn Văn Linh cũng không hề quan tâm, khi sử dụng chủ trương “kéo Trung Quốc lại gần cộng sản Việt Nam”, mà thật ra làm sao ông Linh kéo được Trung Quốc lại, mà chính là ông Nguyễn Văn Linh và nhóm bán nước của ông chui vào tay áo của lãnh đạo Trung Quốc, cho nên bây giờ người Việt Nam trong nước được nhóm lãnh đạo hiện nay chuẩn bị cho vào cái thòng lọng của Trung Quốc sau 3 năm nữa !

Xin nhớ rằng, lãnh đạo Trung Quốc tấn công các tỉnh dọc biên giới Việt – Trung từ ngày 17/2/1979 đến ngày 17/3/1979. Chỉ một tháng thôi, với sự tàn phá kinh hoàng các tỉnh biên giới mà Trung Quốc gọi là dạy cho cộng sản Việt Nam bài học. Với một lực lượng gồm 300.000 quân + 550 xe tăng + 480 khẩu đại bác + 1.260 khẩu súng cối, Trung Quốc cho rằng “đây là cuộc điều quân quân trong một cuộc chiến lớn nhất từ sau chiến tranh Triều Tiên 1950. tướng Hứa Thế Hữu chỉ huy tấn công Lạng Sơn và Cao Bằng, và tướng Dương Đắc Chí chỉ huy tấn công vào Hoàng Liên Sơn.

Sau 30 ngày, quân Việt Cộng và dân Việt Nam tổn thất theo bản tin của Trung Quốc thì khoảng 50.000 người Việt Nam chết. Trong khi báo Times loan tin phía cộng sản Việt Nam khoảng 10.000 quân lính tử trận và 1.600 quân lính bị Trung Quốc bắt làm tù binh. Người dân Việt Nam thiệt hại hết sức nặng nề :

1) Các thị xã Lạng Sơn + Cao Bằng + Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn.

2) Tất cả 320/320 xã + 735/904 trường học các cấp + 428/430 bệnh viện bệnh xá + 41/41 nông trường + 38/42 lâm trường +81 xí nghiệp + hầm mỏ + 80.000 mẫu tây hoa màu + 400.000 gia súc, tất cả bị hủy hoại hoàn toàn.

3) Khoảng 1.700.000 dân bị mất sạch nhà cửa + tài sản + phương tiện sinh sống.

Vậy mà, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh vẫn cố gắng để được kẻ thù ôm vào vòng tay -ngang qua hội nghị Thành Đô- để được ngồi yên trên chiếc ghế Tổng bí thư. Thật là ghê tởm với lãnh đạo cái Đảng cộng sản, một thứ rác phế thải của nhân loại !

Hậu quả của nó chưa hết. Quân Trung Quốc trong khi “dạy cho cộng sản Việt Nam bài học trong 30 ngày” đã có hàng chục ngàn người quân lính chết, dù ở sát biên giới nhưng họ nhất định chôn quân lính của họ ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Trong cùng thời gian, quân lính cộng sản Việt Nam chết cũng chôn trong một nghĩa trang riêng. Điều rất lạ, là Đảng cộng sản Việt Nam cấm quân lính của họ không được đến nghĩa trang làm lễ tưởng niệm hằng chục ngàn đã chết trong chiến tranh biên giới tháng 2/1979, nhưng họ lại ra lệnh tu bổ nghĩa trang của quân lính Trung Quốc, và được lãnh đạo Trung Quốc khen ngợi.

Những tài liệu của Trung Quốc đã chứng minh nhóm dâng nước cho Trung Quốc do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu. Những người Việt Nam tử tế đã không theo cộng sản, những người đi theo cộng sản nhưng khi nhận ra cộng sản độc tài tàn bạo nên đã ly khai khỏi đảng, đều công nhận rằng “cộng sản là độc tài, là dối trá, là ngụy biện”. Cái cách mà ông Nguyễn Văn Linh dối gạt dân khi nói đến chủ trương “cởi trói” chính là cách ngụy biện cho đường lối độc tài cộng sản, đến mức ông ta còn nói “dù Trung Quốc bành trướng thế nào đi nữa, thì Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa”. Với trọng tâm của Biên bản Thành Đô, ông Trần Quang Cơ nói là “hết sức sai lầm” trong bang giao giữa hai nước, trong khi ông Lý Bằng nhấn mạnh là “bước ngoặt lịch sử”.

Cho dù có phải hay không phải, thì những sự kiện từ sau hội nghị Thành Đô 1990 đến nay, vẫn là một chuỗi sự thật trên quê hương Việt Nam mà Đảng cộng sản Việt Nam không thể phủ nhận, vì chính họ đã và đang tiếp tay cho Trung Quốc thực hiện. Dưới đây là một số bằng chứng.

Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Từ 1945 Đến 2019

Chuỗi Dài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam : Tội Ác Với Quân Lính Của Họ Khi Trung Quốc Tấn Công Đá Gạc Ma Chuỗi Dài Tội Ác Của Đảng Cộng Sản Việt Nam : Tội Ác Trong Ủy Hội Sông Mekong

About the author