“Bao Giờ Trạch Đẻ Ngọn Đa…” Thì Những Giáo Huấn Của Tô Lâm Mới Thành Hiện Thực! (Thiều Quang) 

Có lẽ trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) chưa từng có một Tổng Bí thư nào vô tình hay hữu ý trở thành người phê phán mạnh mẽ nhất đối với các khiếm khuyết của chính chế độ mà mình đang phụng sự như ông Tô Lâm hiện nay… Nói cách khác, không thể chữa khỏi căn bệnh bằng chính những cơ chế đã sinh ra căn bệnh ấy. Thể chế độc tài – công an trị không thể “đánh đu” với những giá trị của các xã hội văn minh – hiện đại. 

Thiều Quang 

1. Khi “người chữa bệnh” cũng chính là “kẻ kê đơn” suốt tám mươi năm nay 

Trong chính trị, đôi khi một lời kêu gọi có sức tố cáo mạnh hơn cả một bản cáo trạng. Khi người đứng đầu chế độ liên tục nhấn mạnh sự cần thiết phải cải cách giáo dục (1), phải xây dựng một xã hội tử tế (2), phải tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế (3) và phải chăm lo tốt hơn cho đời sống nhân dân (4), điều đó vô hình trung đặt ra một câu hỏi rất đơn giản: ai là người đã quản lý những lĩnh vực ấy trong hơn tám thập niên qua? 

Nếu giáo dục đang cần cải cách sâu rộng, phải chăng nền giáo dục hiện hành đã không hoàn thành sứ mệnh của mình? Nếu thể chế tồn tại quá nhiều điểm nghẽn, phải chăng chính thể chế ấy đang cản trở sự phát triển? Nếu xã hội cần trở nên tử tế hơn, điều đó có phải là một sự thừa nhận rằng đời sống đạo đức và môi trường xã hội hiện nay đang lụi tàn một cách nghiêm trọng? Và nếu người dân vẫn phải vật lộn với chi phí học hành, viện phí, giá nhà, giá điện, giá nước và vô vàn gánh nặng khác, thì những lời hứa về tính ưu việt của chế độ trong nhiều thập niên qua đã “cuốn theo chiều gió” về trời? 

Nghịch lý nằm ở đâu? Kẻ đưa ra các lời hiệu triệu hôm nay không phải là lãnh đạo của một lực lượng đối lập vừa giành được chính quyền, cũng không phải người đứng đầu một chế độ mới kế thừa di sản của chế độ cũ. Ông là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước của chính cái tập đoàn đã lãnh đạo đất nước này liên tục từ năm 1945 đến nay. Bởi vậy, mỗi lời kêu gọi cải cách, xét đến cùng, đều là một sự thừa nhận rằng những gì đã làm trong quá khứ chưa bao giờ “cán đích” các khẩu hiệu vô hồn. 

2. Mỗi khẩu hiệu mới là một lời thú nhận thất bại 

Trong nhiều năm qua, dân Việt Nam đã quen với việc các hội nghị, đại hội hay diễn đàn chính trị liên tục đưa ra những khẩu hiệu mới. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là phần lớn các mục tiêu được nêu lên ngày nay thực chất không hề mới. Chúng đã xuất hiện dưới những hình thức khác nhau trong nhiều thập niên trước. 

Một nền giáo dục tiên tiến, một xã hội công bằng, một nền y tế phục vụ nhân dân, một nhà nước của dân, do dân và vì dân – tất cả đều từng là những lời hứa hẹn nền tảng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng điều khiến người dân không thể hiểu nổi là tại sao sau hơn tám mươi năm, những mục tiêu ấy vẫn được nhắc lại như những mục tiêu của tương lai thay vì hãy trưng ra một vài thành quả trong hiện tại. 

Người dân không cần những cuộc tranh luận học thuật phức tạp để nhận ra sự trớ trêu ấy. Họ nhìn thấy và cảm nhận trong đời sống hàng ngày. Trong những bệnh viện luôn quá tải, trong những khoản học phí ngày càng cao, trong những cuộc thi cử căng thẳng, trong những vụ tham nhũng liên tiếp bị phanh phui và trong những khó khăn mà hàng triệu gia đình phải đối mặt để duy trì sinh kế. 

Bởi vậy, càng nhiều khẩu hiệu được đưa ra lúc này, khoảng cách giữa lời hứa và hiện thực càng lộ rõ hơn bao giờ hết. Đó là lý do vì sao các giáo huấn mới của ông Tô Lâm không còn mang được ý nghĩa động viên hay định hướng chính sách. Chúng hoàn toàn là những lời thú nhận hiển nhiên, về những giới hạn của chính cái mô hình mà ĐCSVN đã và đang theo đuổi suốt nhiều thập niên. 

3. Cái “bóng đè” của mô hình đã bị lịch sử vượt qua 

Nếu nhìn rộng ra thế giới, người ta sẽ thấy câu chuyện không chỉ nằm ở Việt Nam. Trong thế kỷ XX, chủ nghĩa xã hội từng xuất hiện như một lời hứa hão huyền về công bằng, bình đẳng và giải phóng con người. Hàng trăm triệu người dân trên thế giới từng đặt niềm tin vào những lời hứa hão huyền ấy. Thế nhưng, lịch sử cuối cùng lại cho thấy những thực tế hoàn toàn khác. 

Ở hầu hết những nơi mô hình đó được triển khai dưới hình thức độc quyền chính trị, nó đều bộc lộ những khuyết tật chết người: nền kinh tế thiếu động lực sáng tạo, bộ máy quan liêu ngày càng phình to, quyền lực tập trung dẫn đến tham nhũng và xã hội mất dần khả năng tự điều chỉnh. Đó không còn là câu chuyện của một vài cá nhân yếu kém hay một số sai lầm chiến thuật. Nó là vấn đề mang tính cấu trúc của hệ thống cộng sản. Một hệ thống mà nhân chứng của thời đại từ những thế kỷ trước đã đúc kết: “Chủ nghĩa cộng sản là giấc mơ của vài người, nhưng là cơn ác mộng của toàn thể nhân loại” (Victor Hugo 1802 – 1885) (5). 

Chính vì vậy mà từ cuối thế kỷ XX, phần lớn các quốc gia từng đi theo mô hình ấy đã từ bỏ hoặc cải biến nó một cách căn bản. Sự sụp đổ của Bức tường Berlin không chỉ là sự kiện địa chính trị. Nó còn là biểu tượng cho sự phá sản bi thảm của một mô hình phát triển từng được xem là tương lai của nhân loại. 

Ngày nay, chỉ còn một số rất ít quốc gia tiếp tục duy trì danh nghĩa xã hội chủ nghĩa. Nhưng ngay tại các quốc gia đó, nền kinh tế thực tế cũng vận hành chủ yếu theo cơ chế thị trường. Điều còn lại nhiều khi không phải là mô hình kinh tế, mà là chiếc áo ý thức hệ được giữ lại vì những nhu cầu chính trị nội bộ: bảo vệ tính liên tục lịch sử, duy trì quyền lãnh đạo độc tôn và tạo ra một nền tảng chính danh cho quyền lực. 

Vấn đề là chiếc áo ấy ngày càng trở nên chật hẹp trước những đòi hỏi của xã hội hiện đại. Càng cố giữ nguyên nó, khoảng cách giữa khẩu hiệu và thực tế càng trở nên bi đát. 

4. ĐCSVN đang đứng giữa hai sức ép 

Sự xuất hiện dồn dập của các giáo huấn mới không phải là hiện tượng ngẫu nhiên. Nó phản ánh tâm trạng bất an của một hệ thống chính trị đang phải đối mặt với những áp lực ngày càng lớn từ cả bên trong lẫn bên ngoài. 

Trong nước, tăng trưởng kinh tế không còn tạo ra cảm giác hưng phấn như trước. Nhiều doanh nghiệp đóng cửa hoặc thu hẹp sản xuất. Thị trường lao động gặp khó khăn. Người trẻ ngày càng lo lắng về tương lai. Khoảng cách giàu nghèo tiếp tục gia tăng. Trong khi đó, các quyết định kinh tế và hành chính gây tranh cãi liên tiếp xuất hiện, làm dấy lên tâm trạng bất mãn trong nhiều tầng lớp xã hội, ngay trong hàng ngũ đảng viên cộng sản không tiền và không quyền. 

Người dân Việt Nam ngày nay cũng không đánh giá CNCS qua các khẩu hiệu được treo trong hội trường. Họ đánh giá qua những điều rất cụ thể: đồng lương có đủ sống hay không, con cái có tìm được việc làm hay không, bệnh viện có chữa được bệnh hay không, pháp luật có được áp dụng công bằng hay không. Đó là “những cuộc trưng cầu dân ý” thầm lặng nhưng quyết liệt và chúng diễn ra mỗi ngày. 

Trong khi đó, ở bên ngoài, Việt Nam đang đứng trước những thách thức ngày càng lớn về địa chính trị. Trên Biển Đông, các hoạt động áp đặt chủ quyền của Trung Quốc ngày càng tiếp diễn. Khoảng cách giữa các tuyên bố ngoại giao và năng lực thực thi trên thực địa ngày càng rõ rệt. Chính quyền vì thế rơi vào tình trạng mà dân gian gọi là “trên đe dưới búa”: bên trong là áp lực xã hội và kinh tế, bên ngoài là áp lực địa chiến lược và chủ quyền. 

Trong hoàn cảnh ấy, việc liên tục đưa ra những lời hiệu triệu mới khó có thể “bịp dân”, khó có thể giúp tạo ra cảm giác thay đổi, nó chỉ nói được một sự thật hiển nhiên, đó là tình trạng bế tắc, tình trạng vô phương cứu chữa của một con bện đang chuyển sang giai đoạn cuối! 

5. Không thể có xã hội tử tế bằng những công cụ đã tạo ra chính sự tha hóa và thiếu vắng trách nhiệm công dân 

Điều trớ trêu trong các phát biểu của Tô Lâm trong thời gian qua là hầu hết những điều ông được báo chí “lề đảng” tung hô đều là những giá trị phổ quát mà thế giới văn minh đã theo đuổi từ lâu. Không ai phản đối một xã hội tử tế. Không ai phản đối một nền giáo dục khai phóng. Không ai phản đối việc người dân được chăm sóc y tế tốt hơn và trẻ em được học hành tốt hơn. 

Nhưng lịch sử cũng cho thấy những giá trị ấy không thể được tạo ra chỉ bằng các bài diễn văn “suông” hay các nghị quyết chính trị “rỗng”. Chúng chỉ xuất hiện khi xã hội có những cơ chế bảo đảm cho sự minh bạch, trách nhiệm giải trình, cạnh tranh lành mạnh, quyền giám sát của công dân và sự vận hành bình thường của một nhà nước pháp quyền. 

Không thể có một nền giáo dục khai phóng trong khi tư duy vẫn bị kiểm soát bởi những khuôn mẫu giáo điều. Không thể có một xã hội tử tế nếu quyền lực không chịu sự giám sát độc lập. Không thể tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế nếu những nền tảng tạo ra các điểm nghẽn ấy vẫn được xem là bất khả xâm phạm. 

Không ai phải đứng ra kêu gọi xây dựng một xã hội tử tế nếu xã hội ấy đã thực sự tử tế. Cũng như không ai phải liên tục nói về sự trung thực nếu sự dối trá chưa trở thành một vấn đề đáng báo động. Nói cách khác, không thể chữa khỏi căn bệnh bằng chính những cơ chế đã sinh ra các căn bệnh ấy! 

6. “Bao giờ trạch đẻ ngọn đa…” 

Người dân Việt có nhiều cách diễn đạt rất sâu sắc để nói về những điều không thể xảy ra. Đó là một trong những bài ca dao khuyết danh: “Bao giờ trạch đẻ ngọn đa/ Sáo đẻ dưới nước tha ra ngoài đồng…” (6). 

Nhìn từ góc độ ấy, các giáo huấn mới nhất của Tô Lâm trong hơn một năm qua phản ánh một nghịch lý lớn của thời cuộc. Thể chế độc tài – công an trị không bao giờ có thể “đánh đu” với những giá trị của các xã hội văn minh – hiện đại nhưng lại bị ràng buộc bởi những giới hạn của mô hình đã tạo ra các vấn đề mà chính ĐCSVN đang cố dẫy dụa trong “lồng quyền lực” của họ. 

Nếu những nguyên nhân sâu xa ấy không được nhìn nhận và xử lý một cách rốt ráo, thì các khẩu hiệu mới rồi cũng sẽ có chung số phận với vô số các khẩu hiệu đã từng xuất hiện trong quá khứ. Chúng sẽ tiếp tục được nhắc lại trong các diễn văn, tiếp tục xuất hiện trên các băng-rôn và nghị quyết, nhưng sẽ không bao giờ trở thành hiện thực trong đời sống. 

Bởi vậy, câu hỏi quan trọng nhất không phải là khi nào Việt Nam sẽ có một nền giáo dục tốt hơn, một xã hội tử tế hơn hay một nền y tế nhân văn hơn. Câu hỏi thực sự là liệu tập đoàn Tô Lâm có dám đi tới tận cùng của những cải cách cần thiết để tạo ra các giá trị ấy hay không? 

Nếu câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ, thì người dân sẽ tiếp tục nhớ đến câu ca dao khuyết danh nhưng đầy chất triết lý. Và những thần dân ấy vẫn hiểu được rằng, cũng giống như chuyện “con trạch đẻ trên ngọn cây đa”, những lời hứa đẹp đẽ ấy sẽ không bao giờ có thể bước ra khỏi thế giới của sáo ngữ của thứ “chủ nghĩa bịp dân” (populism) rẻ tiền, để đi vào thế giới của hiện thực sống động. 

Khi lãnh đạo cao nhất kêu gọi xây dựng một xã hội tử tế, điều đó cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng trong xã hội hiện nay đang tồn tại không ít biểu hiện của sự vô cảm, tha hóa và xuống cấp các chuẩn mực đạo đức công cộng. Bi kịch của Tô Lâm không nằm ở chỗ ông nhìn thấy đúng các căn bệnh của đất nước. Bi kịch nằm ở chỗ những phương thuốc ông đưa ra đòi hỏi phải thay đổi chính hệ thống đã đưa ông lên vị trí quyền lực cao nhất. 

Thiều Quang 

Tham khảo 

About the author