
Nếu Trường tồn là năng lực không biến mất và Trưởng thành là năng lực trở thành một chủ thể hành động ý thức được mình là ai và mình phải làm gì, thì Khai mở đặt ra một câu hỏi khó hơn: Việt Nam sẽ chuyển mình như thế nào để thực hiện quyền tự do lựa chọn trong một thế giới mà tất cả luật chơi đều đang đồng thời thay đổi?
Đinh Hoàng Thắng
Đây không còn là thế giới tương đối quen thuộc của những thập niên sau Chiến tranh Lạnh, khi toàn cầu hóa dường như là một dòng chảy tiến bộ ngày càng rộng mở của nhân loại, các thị trường tưởng như tất yếu sẽ ngày càng hội nhập, và người ta vẫn có thể phân biệt tương đối rõ những đòi hỏi của kinh tế với an ninh, công nghệ với địa chính trị. Những ranh giới ấy hiện đang mờ nhạt dần. Thuế quan có thể trở thành công cụ chiến lược; chất bán dẫn đã trở thành vấn đề an ninh quốc gia; dữ liệu và trí tuệ nhân tạo đang sản sinh những hình thức quyền lực mới; còn các chuỗi cung ứng vừa gắn kết các nền kinh tế, vừa phơi bày ra những điểm dễ tổn thương trong tương quan giữa chúng với nhau.
Bởi vậy, có lẽ còn quá sớm để đơn giản gọi những gì đang xuất hiện là một “trật tự thế giới mới”. Một trật tự hàm ý những quy tắc đã đạt tới một mức độ ổn định nhất định. Những gì chúng ta đang chứng kiến giống một cục diện toàn cầu đang chuyển dịch trên quy mô lớn: cái cũ chưa biến mất, cái mới chưa định hình; cạnh tranh và hợp tác cùng tồn tại; sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế không loại bỏ đối đầu chiến lược mà còn có thể tạo thêm những nguồn dễ tổn thương mới.
Đối với Việt Nam, trạng thái bất định này mang theo cả nguy lẫn cơ!
“Nguy” nằm ở chỗ một quốc gia tầm trung, tiếp giáp Trung Quốc, phụ thuộc lớn vào thương mại quốc tế và gắn sâu vào các chuỗi cung ứng xuyên biên giới, khó có thể tự cách ly khỏi những cú sốc hệ thống bắt nguồn từ bên ngoài. Nhưng sỡ dĩ còn “cơ” là vì hệ thống đang chuyển đổi, những không gian lựa chọn về chiến lược và sách lược vẫn chưa hoàn toàn khép lại. Một quốc gia không nhất thiết phải trở thành cường quốc mới có giá trị chiến lược. Trong thế giới mạng lưới, vị thế của một nước ngày càng phụ thuộc không chỉ vào quy mô của nó, mà còn vào những gì nó kết nối, những năng lực nó sở hữu và mức độ các nước khác cần đến những gì nó có thể cung cấp.
Bởi vậy, “Khai mở” không đặt câu hỏi Việt Nam nên “đứng về phía nào”. Nó đặt ra một câu hỏi khác: Việt Nam phải trở thành một chủ thể hành động như thế nào để có thể tự mình lựa chọn, thay vì để người khác lựa chọn thay mình?
18. TỪ LỜI NGUYỀN ĐỊA LÝ ĐẾN NĂNG LỰC LỰA CHỌN
Địa lý đã và vẫn đang là một trong những nhân tố chi phối sâu sắc đối với lịch sử Việt Nam.
Một đất nước dài và hẹp, hướng ra Biển Đông, nằm ở nơi Đông Á lục địa gặp Đông Nam Á, đồng thời có chung biên giới với một trung tâm quyền lực khổng lồ ở phương Bắc: cấu trúc địa lý ấy đem lại những cơ hội giao lưu, nhưng cũng đưa tới những sức ép từ bên ngoài mà hầu như thế hệ người Việt nào cũng phải đối diện.
Có thể gọi đó là một “lời nguyền địa lý”, với điều kiện hiểu chữ “lời nguyền” không phải như định mệnh, mà như một bài toán không bao giờ có thể gạt khỏi cuộc khảo thí. Việt Nam không thể lựa chọn láng giềng, nhưng có thể lựa chọn cách sống bên cạnh láng giềng ấy. Việt Nam không thể thay đổi quy mô của Trung Quốc, nhưng có thể thay đổi sức mạnh của chính mình, bằng biên độ rộng và chất lượng sâu của các mối quan hệ và cái giá mà bất kỳ thế lực nào có ý định xâm lấn cũng phải cân nhắc trước khi tìm cách gây sức ép lên người Việt.
Theo nghĩa đó, lịch sử Việt Nam không chỉ là lịch sử đấu tranh với địa lý. Đó còn là lịch sử học cách tận dụng điều kiện địa lý.
Nguyễn Trãi từng nhìn ra cửa biển Bạch Đằng và viết: “Quan hà bách nhị do thiên thiết / Hào kiệt công danh thử địa tằng.” Thiên nhiên tạo ra “thế”, nhưng chính con người mới biến thế thành lịch sử. Bạch Đằng không tự đánh thắng một trận chiến. Núi sông có thể cung cấp địa thế; chúng không cung cấp mưu lược, tổ chức, ý chí hay thời cơ.
Điều ấy càng đúng trong thế kỷ XXI.
Biển Đông ngày nay không chỉ là không gian của những yêu sách chủ quyền cạnh tranh. Đây còn là một bộ phận của một trong những hành lang thương mại hàng hải quan trọng nhất thế giới. Vì vậy, địa lý Việt Nam đồng thời là một điểm dễ tổn thương nhưng vẫn là một tài sản kết nối. Nhưng địa lý chỉ trở thành tài sản chiến lược khi một quốc gia có thể chuyển vị thế thành năng lực.
Một cảng biển có vị trí thuận lợi chưa đương nhiên là một trung tâm logistics. Một quốc gia nằm trong các chuỗi cung ứng toàn cầu chưa chắc đã kiểm soát được bất kỳ mắt xích then chốt nào của những chuỗi ấy. Một nước thu hút được các nhà máy nước ngoài không tự động nắm được công nghệ, dữ liệu, sở hữu trí tuệ hay năng lực thiết kế phía sau chúng. Việc được nhiều cường quốc săn đón cũng không nhất thiết đem lại quyền tự do lựa chọn lớn hơn, nếu nền kinh tế và các thiết chế của nước đó vẫn phụ thuộc vào những nguồn lực mà mình không kiểm soát. Vậy một quốc gia phải “tạo nên giá trị gia tăng” cho nền kinh tế toàn cầu như thế nào để các nước khác tìm đến hợp tác và coi trọng những nguyện vọng của mình?
Chính để trả lời cho những tương tác ấy, quan hệ Việt – Trung ngày càng cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của điều mà Khảo luận này gọi là “bang giao tổng trì”. Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng không thể bị giản lược thành những cặp đối lập “được–mất”, hữu nghị hoặc đối đầu. Sự đan cài phức tạp giữa hai dân tộc giao cắt với hầu như mọi nghịch lý lớn của lịch sử Việt Nam: gần gũi văn hóa nhưng cố giữ khoảng cách; tiếp biến nhưng chống đồng hóa; chiến tranh và dung hòa; bất đối xứng quyền lực; quan hệ Đảng–Đảng; biên giới đất liền; Biển Đông; thương mại; chuỗi cung ứng; an ninh; và bài toán thường trực về tự chủ quốc gia.
Bởi vậy, giảm lệ thuộc vào Trung Quốc không có nghĩa là thoát khỏi mọi quan hệ với Trung Quốc. Địa lý không cho Việt Nam lựa chọn ấy, và lợi ích quốc gia cũng không đòi hỏi sự lựa chọn giản đơn như vậy.
Thách thức là chuyển từ lệ thuộc bất đối xứng sang tương thuộc lẫn nhau có thể quản trị được.
Điều đó đòi hỏi một cách nhìn tỉnh táo hơn cả tâm lý bài Trung lẫn những ảo tưởng do diễn ngôn hữu nghị tạo ra. Trung Quốc đồng thời là một láng giềng không thể tránh, một thị trường và nguồn cung lớn, và một cường quốc có những lợi ích không phải lúc nào cũng trùng hợp với lợi ích của Việt Nam. Chính vì quan hệ ấy rộng, sâu và cận kề về địa lý, tự chủ không thể được bảo vệ chỉ bằng những tuyên bố ngoại giao trau chuốt. Nó phải được thể chế hóa, được bảo đảm bằng các năng lực kinh tế, công nghệ, quốc phòng, thể chế và kết nối với mạng lưới quốc tế.
Từ đây xuất hiện một nghịch lý quan trọng: để sống độc lập bên cạnh một cường quốc, bước đi quan trọng nhất có thể không phải là giảm mọi kết nối với cường quốc ấy, mà là gia tăng những quan hệ đối ngoại khác và những năng lực bên bên trong quốc gia mà mình nhất thiết phải bám trụ và dựa vào.
Đó là lý do “đa phương hóa, đa dạng hóa” chỉ mang lại lợi thế thực chất khi chúng tạo ra quyền tự do lựa chọn lớn hơn.
Nếu những đầu vào chiến lược vẫn chủ yếu đến từ một nguồn; nếu xuất khẩu vẫn dễ bị tổn thương trước một vài thị trường; nếu công nghệ cốt lõi vẫn phải mua từ bên ngoài; và nếu doanh nghiệp trong nước vẫn tập trung vào các hoạt động, hàng hóa và dịch vụ có thể dễ dàng chuyển sang nơi khác, thì có thêm đối tác ngoại giao, kể cả “đối tác chiến lược toàn diện” (CSP), chưa chắc đã đem lại nhiều tự chủ chiến lược hơn.
Việt Nam thường được nhìn nhận là tương đối thành công trong việc phòng ngừa rủi ro giữa các nước lớn, nhờ vị trí địa chiến lược, mạng lưới quan hệ ngày càng mở rộng và tầm quan trọng gia tăng trong các chuỗi cung ứng đang được tái cấu trúc. Nhưng giới hạn dài lâu của trạng thái “ở giữa” ấy cũng rất rõ: vị thế Việt Nam cuối cùng sẽ tùy thuộc vào khả năng chuyển một vị trí thuận lợi thành những năng lực thể chế mà các nước khác khó thay thế. Việt Nam không thể thay đổi vị trí của mình; Việt Nam chỉ có thể huy động vốn con người và vốn xã hội để tận dụng tốt nhất vị trí ấy cùng những khả năng mà nó mở ra — trước hết là những khả năng do chính người dân trong nước hiện thực hóa.
Bởi vậy, vượt qua lời nguyền địa lý, vì thế, không có nghĩa là phải đánh bại địa lý.
Nó có nghĩa là không để địa lý quyết định thay thế vị trí của mình trong lịch sử và trong các vấn đề thế giới.
19. TỪ “ĐỨNG GIỮA” ĐẾN THAM GIA MẠNG LƯỚI
Trong nhiều năm, vị thế Việt Nam được mô tả bằng những hình ảnh như “cân bằng”, “phòng ngừa rủi ro”, “ngoại giao cây tre”, hoặc đứng ở một khoảng giữa các cường quốc. Những cách mô tả ấy phản ánh một phần thực tế của một đất nước quyết không để mình bị cuốn hoàn toàn vào đối đầu giữa các nước lớn. Nhưng chúng cũng có thể tạo ra một ảo tưởng: thế giới về cơ bản là một bàn cờ do một vài đấu thủ lớn chi phối, còn nhiệm vụ của Việt Nam chủ yếu là tìm một ô tương đối an toàn để khu trú.
Có thể đi sâu hơn vào vấn đề này. Nhà sử học Trần Quốc Vượng từng cho rằng một trong những câu hỏi lý luận lớn và phức tạp là quan hệ quy định lẫn nhau giữa những thực thể được gọi là quốc gia–dân tộc với cái toàn thể rộng lớn hơn mà chúng ta gọi là lịch sử nhân loại hay lịch sử thế giới, trong đó còn một tầng trung gian: các khu vực và các nền văn minh. Theo ông, chiều kích tương tác ấy còn đặc biệt kém phát triển trong sử học Marxist. Cách đặt vấn đề này giúp tránh hai sai lầm đối nghịch: xem lịch sử dân tộc như một hệ sinh thái biệt lập, hoặc hòa tan nó vào một chủ nghĩa phổ quát trừu tượng.
Có thể hình dung Việt Nam như một giọt nước trong đại dương. Giọt nước có những thuộc tính riêng, nhưng không thể tồn tại bên ngoài đại dương; thủy triều, hải lưu và bão tố của biển lớn đều đưa đẩy nó. Tuy nhiên, quan hệ ấy không hoàn toàn một chiều. Chính đại dương được tạo thành từ vô số giọt nước, và những dòng chảy lớn của nó hình thành từ tương tác giữa vô vàn yếu tố nhỏ hơn. Việt Nam được thế giới định hình, nhưng thông qua lựa chọn, năng lực và kết nối của mình, Việt Nam cũng tham gia định hình một phần thế giới mà mình đang sống.
Cách nhìn này đặc biệt phù hợp với cục diện toàn cầu hiện nay. Quyền lực không còn chỉ phân bố giữa các quốc gia; nó còn lưu chuyển qua những mạng lưới chồng lấn về công nghệ, tài chính, năng lượng, dữ liệu và chuỗi cung ứng. Một quốc gia có thể hợp tác về an ninh với một đối tác, phụ thuộc công nghệ vào một đối tác khác, có thị trường xuất khẩu lớn nhất ở một nước thứ ba, đồng thời phải thích ứng với các hệ thống quy định do nhiều trung tâm quyền lực khác nhau thiết lập. Quốc gia–dân tộc không biến mất dưới tác động của toàn cầu hóa. Đúng hơn, nó phải học cách phát huy năng lực chủ thể trong một môi trường mà việc thực thi chủ quyền ngày càng tận dụng sự tùy thuộc lẫn nhau.
Đây là ý niệm về sức mạnh liên kết: linh hoạt hơn, mang tính hợp tác hơn và vận động theo nhiều hướng hơn so với cả sức mạnh cứng lẫn sức mạnh mềm. Thông qua liên kết – thông qua những cơ chế kiềm chế và đối trọng dẫn tới quan hệ đối tác, cùng việc tìm kiếm thế cân bằng – một dân tộc có thể thu được lợi ích lâu dài từ nhiều dân tộc khác.
Một biểu hiện nổi bật là sự phân hóa đang xuất hiện trong nền kinh tế toàn cầu xoay quanh Hoa Kỳ, Trung Quốc và Liên minh châu Âu. Sebastian Contin Trillo-Figueroa đặt tên cho “chiều kích hóa” của quá trình này là “phân nhánh ba” (trifurcation): không phải sự chia cắt đơn giản thành hai khối đối đầu, mà là sự xuất hiện của những không gian pháp lý–kinh tế chồng lấn và cạnh tranh. Thuế quan, kiểm soát xuất khẩu, tiêu chuẩn công nghệ, quy định về dữ liệu, sàng lọc đầu tư và thực thi pháp luật ngoài lãnh thổ ngày càng trở thành công cụ của quyền lực địa kinh tế. Vì vậy, một doanh nghiệp hay một quốc gia có thể đồng thời hoạt động trong nhiều mạng lưới với những quy tắc không phải lúc nào cũng tương thích.
Tuy nhiên, quyền lực trong hệ thống ấy không chỉ thuộc về những chủ thể lớn nhất. Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan, Đài Loan và những nền kinh tế khác không phải siêu cường vẫn nắm giữ các vị trí then chốt, bởi họ sở hữu công nghệ, thiết bị hoặc năng lực sản xuất mà chuỗi giá trị toàn cầu khó có thể thay thế. Trong một thế giới mạng lưới, quyền lực vì thế không chỉ được đo bằng lãnh thổ, dân số hay nguồn lực quân sự, mà còn bằng khả năng chiếm giữ một vị trí mà sự vắng mặt của nó sẽ gây khó khăn cho những bộ phận khác trong hệ thống.
Thực tế này đòi hỏi Việt Nam phải vượt khỏi tâm thế chỉ “đứng giữa”. Nếu thế giới chỉ là bàn cờ của các cường quốc, các nước nhỏ chủ yếu phải học cách tránh bị nghiền nát giữa những quân cờ lớn hơn. Nhưng nếu thế giới còn là một mạng lưới, một quốc gia tầm trung có thể gia tăng tự chủ bằng cách trở thành một nút có giá trị trong mạng lưới ấy. Câu hỏi chiến lược không còn đơn thuần là Việt Nam nên đứng ở đâu giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, mà là Việt Nam có thể tạo ra hoặc sở hữu điều gì khiến các mạng lưới quan trọng cũng cần đến mình, và vì vậy chủ động tìm đến Việt Nam với những đề nghị có lợi.
Sự chuyển đổi trong tư duy chiến lược, từ tập trung vào vị trí sang xây dựng năng lực, có ý nghĩa căn bản. Vị trí phần lớn do địa lý trao cho; năng lực phải được kiến tạo.
Do đó, khái niệm điểm nghẽn chiến lược (strategic chokepoint) cần được hiểu rộng hơn một eo biển trên bản đồ. Điểm nghẽn của thế kỷ XXI có thể là một tuyến hàng hải, nhưng cũng có thể là một công nghệ chế tạo, một loại chất bán dẫn, một khoáng sản thiết yếu, một tiêu chuẩn kỹ thuật, một nguồn dữ liệu, một hệ thống thanh toán hay một công đoạn chuyên biệt trong chuỗi cung ứng. Việt Nam không thể và cũng không cần kiểm soát tất cả những mắt xích ấy. Điều quan trọng là xác định những lĩnh vực trong đó địa lý, nguồn nhân lực và năng lực tổ chức có thể kết hợp để tạo ra giá trị đủ quan trọng và đủ khó thay thế.
Trí tuệ nhân tạo hiện làm cho thách thức này càng có ý nghĩa lớn hơn. Đối với những quốc gia còn đang đuổi kịp, AI mở ra khả năng thu hẹp một số khoảng cách, nhưng cũng có thể tạo thêm một tầng lệ thuộc. Một xã hội có thể sử dụng hàng triệu công cụ AI mà vẫn chủ yếu là người tiêu dùng, nếu dữ liệu, hạ tầng tính toán, mô hình, sở hữu trí tuệ và phần lớn giá trị kinh tế đều nằm ở nơi khác. Vì vậy, thách thức không chỉ là nhanh chóng ứng dụng AI, mà là đi nhanh nhưng “không đi trong mù”: khai thác công nghệ mới đồng thời phát triển con người, dữ liệu và các năng lực cần thiết để kiểm soát ít nhất một phần giá trị mà công nghệ ấy tạo ra.
Ở đây hiện lên một nguyên tắc rộng hơn: công nghệ có thể khuếch đại năng lực của một chủ thể hành động, nhưng không thể tự tạo ra ý hướng tự chủ cần thiết để trở thành một chủ thể thực sự làm chủ sự hiện hữu của mình. Một quốc gia thiếu năng lực lựa chọn có thể sở hữu những công nghệ tiên tiến nhất mà vẫn hoạt động chủ yếu trong những điều kiện do bên ngoài xác lập. Một quốc gia biết mình cần gì và có khả năng tổ chức tương ứng lại có thể sử dụng chính công nghệ ấy để mở rộng không gian hành động của mình.
Tuy nhiên, điều này lại đưa chúng ta trở về với hình ảnh người Việt như một “giọt nước”. Mở mình ra đại dương không có nghĩa là hòa tan trong đó. Kết nối càng rộng, năng lực nội sinh càng quan trọng, bởi mạng lưới chỉ làm tăng sức mạnh của một quốc gia khi quốc gia ấy có điều gì đó có giá trị để đưa vào mạng lưới. Nếu không, hội nhập có thể mở rộng thị trường và tạo tăng trưởng mà không mở rộng tương xứng quyền tự do lựa chọn.
Vì vậy, bước chuyển cần thiết không phải từ “đứng giữa” sang “chọn phe”, mà từ đứng giữa sang tham gia, từ tham gia sáng tạo giá trị, và từ tạo giá trị sang có năng lực góp phần định hình những mạng lưới mà mình thuộc về. Việt Nam có thể vẫn chỉ là một giọt nước trong đại dương mênh mông của lịch sử nhân loại, nhưng trưởng thành có nghĩa là hiểu rằng giọt nước ấy vừa được những dòng chảy lớn đưa đi, vừa có khả năng góp phần tạo nên chính những dòng chảy đó.
Theo nghĩa ấy, ngoại giao không thể chỉ là nghệ thuật tìm một vị trí an toàn giữa các lực tác động từ bên ngoài. Nó phải trở thành một bộ phận của năng lực quốc gia: chuyển địa lý thành kết nối, kết nối thành giá trị và giá trị thành quyền tự do lựa chọn. Chỉ khi ấy, Việt Nam mới có thể chuyển từ chỗ nằm trên bàn cờ sang tham gia định hình những nước đi của cuộc cờ.
20. TỪ HỘI NHẬP ĐẾN NĂNG LỰC NỘI SINH
Trong những thập niên Đổi mới kinh tế, hội nhập quốc tế là một trong những lựa chọn chiến lược có hệ quả sâu rộng nhất của Việt Nam. Từ một nền kinh tế tương đối khép kín, Việt Nam đã tham gia sâu vào thương mại toàn cầu, thu hút những dòng đầu tư nước ngoài lớn, mở rộng thị trường xuất khẩu và gia nhập nhiều mạng lưới sản xuất xuyên quốc gia. Nhưng chính thành công ấy đặt ra câu hỏi xác định giai đoạn tiếp theo: tham gia sâu hơn vào thế giới có nhất thiết làm cho một quốc gia mạnh lên tương xứng hay không?
Không có gì tự động bảo đảm điều đó. Hội nhập có thể tạo tăng trưởng mà chưa tạo đủ tự chủ. Nó có thể đưa một quốc gia vào các chuỗi cung ứng mà chưa giúp quốc gia ấy kiểm soát những hoạt động tạo ra giá trị lớn nhất. Một nền kinh tế có thể trở thành nước xuất khẩu lớn trong khi vẫn phụ thuộc nặng nề vào đầu vào, linh kiện, công nghệ và thị trường bên ngoài. Trong những thời kỳ thuận lợi, các giới hạn ấy có thể được che khuất; khi cạnh tranh địa kinh tế gia tăng, chúng nhanh chóng trở thành những nguồn dễ tổn thương.
Bởi vậy, cần phân biệt độ mở với năng lực khai mở. Tự thân “độ mở” đo lường mức độ một nền kinh tế kết nối với thế giới bên ngoài. “Năng lực khai mở” liên quan đến việc liệu những kết nối ấy có thể được chuyển thành tri thức, công nghệ, doanh nghiệp, vốn con người và những năng lực của chính mình hay không. Một quốc gia thực sự mở không chỉ vì hàng hóa và vốn dễ dàng đi qua biên giới, mà còn vì xã hội của nó có thể học hỏi, hấp thụ, đổi mới và cuối cùng tạo ra giá trị mà các nước khác tìm đến.
Từ góc nhìn này, đầu tư nước ngoài không nên chỉ được đo bằng vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu. Câu hỏi khó hơn là điều gì còn lại sau mười hoặc hai mươi năm: bao nhiêu công nghệ đã được hấp thụ, bao nhiêu nhà cung ứng nội địa đã trưởng thành, bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam đã vươn lên những nấc cao hơn của chuỗi giá trị. Nếu một nhà máy có thể chuyển đi nơi khác và phần lớn tri thức, công nghệ cùng năng lực quyết định cũng ra đi theo nó, thì nước tiếp nhận chủ yếu nắm giữ địa điểm sản xuất hơn là làm chủ năng lực khiến hoạt động sản xuất ấy trở nên khả thi.
Những thay đổi của kinh tế toàn cầu hiện nay khiến câu hỏi này ngày càng cấp bách. Điều từng được xem chủ yếu dưới góc độ hiệu quả – mua ở đâu rẻ nhất, sản xuất ở đâu thuận tiện nhất – nay được cân nhắc nghiêm túc như các vấn đề an ninh, khả năng chống chịu và quyền làm chủ vận mệnh. Các cường quốc sử dụng thuế quan, trợ cấp, kiểm soát xuất khẩu, chính sách công nghiệp và tiêu chuẩn công nghệ để tái định hình chuỗi cung ứng. Trong môi trường ấy, lợi thế của một quốc gia không thể tiếp tục chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ hay ưu đãi đầu tư. Nó ngày càng phụ thuộc vào chất lượng con người, hạ tầng, hệ thống pháp luật, độ đáng tin cậy của thể chế và khả năng xây dựng những năng lực khó thay thế.
Cảnh báo của Stephen M. Walt về những “vũng lầy chiến lược” có hàm ý vượt ra ngoài các cuộc chiến mà ông trực tiếp bàn tới. Các quốc gia có thể mắc kẹt không chỉ vì một cuộc can thiệp đã sai lầm ngay từ đầu, mà còn vì những chính sách vẫn được duy trì sau khi các giả định ban đầu của chúng không còn đúng. Thiếu hiểu biết, tư vấn một chiều, tư duy bầy đàn, sự tự tin thái quá và uy tín đã đặt cược vào các quyết định trước đó có thể khiến việc thừa nhận cần điều chỉnh đường hướng ngày càng khó khăn. Do đó, năng lực chiến lược không chỉ nằm ở quyết tâm theo đuổi một chính sách, mà đôi khi còn ở khả năng nhận ra lúc nào cần sửa đổi, làm thế nào để hạn chế tổn thất, hoặc chuyển hẳn sang một phương hướng mới.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với những quốc gia không có nguồn lực vô hạn. Một cường quốc có thể gánh chịu cái giá của sai lầm suốt nhiều năm mà vẫn còn khả năng phục hồi đáng kể. Một quốc gia tầm trung hiếm khi có sự xa xỉ ấy. Vì vậy, Việt Nam cần một năng lực mà các chiến lược phát triển không phải lúc nào cũng nhấn mạnh đầy đủ: năng lực tự sửa sai. Điều đó đòi hỏi thông tin đủ chính xác để chất vấn những giả định, tranh luận đủ cởi mở để làm lộ diện các phương án khác, và những cơ chế bảo đảm rằng các tín hiệu không thuận tai vẫn có thể đến được với người chịu trách nhiệm quyết định.
Tuy nhiên, năng lực nội sinh không chỉ là tránh sai lầm. Đó còn là khả năng chuyển nguồn lực hiện có thành năng lực mới. Giáo dục phải tạo ra những con người có khả năng tiếp tục học hỏi, thay vì chỉ hoàn thành một chương trình; doanh nghiệp phải tiến từ gia công lên thiết kế và đổi mới; khoa học phải gắn với sản xuất; và người Việt ở nước ngoài phải có những kênh để tri thức cùng mạng lưới của họ đóng góp vào năng lực quốc gia. Một nền kinh tế chỉ nhập khẩu máy móc sẽ luôn chờ đợi thế hệ máy móc tiếp theo từ nơi khác. Một xã hội học được cách tạo ra tri thức có thể bắt đầu tự xây dựng thế hệ tiếp theo ấy.
Trí tuệ nhân tạo đem lại một phép thử đặc biệt rõ cho sự phân biệt này. Chiến lược AI quốc gia mới của Việt Nam nhấn mạnh nhân lực, hạ tầng, dữ liệu, nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ, thay vì chỉ ứng dụng AI. Ý nghĩa của định hướng ấy nằm ở câu hỏi bên dưới: Việt Nam sẽ chủ yếu trở thành thị trường cho trí tuệ nhân tạo của người khác, hay sẽ có năng lực tự tạo ra một phần dữ liệu, sản phẩm, doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ và giá trị của mình?
Nguyên tắc đi nhanh nhưng không đi mù vì thế vượt xa lĩnh vực AI. Trong một thời đại mà công nghệ thay đổi nhanh hơn nhiều chu kỳ chính sách, đi quá chậm có thể đồng nghĩa với mất cơ hội; nhưng chạy theo mọi làn sóng công nghệ mới cũng có thể tạo thêm những tầng lệ thuộc. Khai mở đòi hỏi điều khó hơn cả thận trọng lẫn hào hứng: đủ nhanh để không lỡ thời cơ, đủ sáng suốt để biết mình đang đi đâu, và đủ năng lực để không trao toàn bộ tay lái cho công nghệ, vốn hay những mô hình được tạo ra ở nơi khác.
Khoảng cách giữa một chiến lược quốc gia trên giấy với một năng lực quốc gia thực sự luôn là khoảng cách phải được vượt qua bằng tổ chức và thực thi. Những mục tiêu đầy tham vọng chỉ trở thành sức mạnh có thể huy động khi được các trường học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và bộ máy hành chính tiếp nhận, triển khai, để cuối cùng trở thành những năng lực sống động, hiện hữu trong những con người cụ thể.
Bởi vậy, giai đoạn hội nhập toàn cầu tiếp theo không thể đơn giản chỉ là hội nhập nhiều hơn. Nó phải có nghĩa là hấp thụ sâu hơn, học hỏi nhanh hơn và sáng tạo nhiều hơn. Nếu giai đoạn đầu của Đổi mới mở cửa Việt Nam ra thế giới, thì giai đoạn Khai mở mới phải giúp Việt Nam chuyển những gì tiếp nhận từ thế giới thành năng lực của chính mình.
Bởi một quốc gia chỉ có quyền tự do lựa chọn mang ý nghĩa thực chất khi đồng thời có năng lực hành động hiệu quả để thực hiện những lựa chọn mình mong muốn.
21. TỪ THÍCH ỨNG ĐẾN TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC
Việt Nam đã thể hiện một năng lực thích ứng đáng kể. Hàng thế kỷ sống bên cạnh những trung tâm quyền lực lớn, tiếp đó là chiến tranh, chế độ thuộc địa, chia cắt, những thay đổi của trật tự quốc tế và hội nhập kinh tế đã hun đúc một sự linh hoạt nhiều lần hiện diện trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ riêng thích ứng chưa bảo đảm tự chủ. Một quốc gia có thể rất giỏi thích ứng với các quy tắc do người khác tạo ra mà vẫn không có nhiều khả năng tác động tới những quy tắc ấy hoặc xây dựng quy tắc của chính mình.
Điểm khác biệt nằm ở chỗ thích ứng là phản ứng, là đáp ứng hoàn cảnh, còn tự chủ là năng lực tự do lựa chọn. Thích ứng hỏi phải làm gì để ứng phó với những hoàn cảnh đã xuất hiện. Tự chủ nhìn tới một chân trời xa hơn: hôm nay phải xây dựng điều gì để ngày mai có thêm lựa chọn? Do đó, tự chủ chiến lược không có nghĩa là tự cung tự cấp, càng không phải rút khỏi các kết nối quốc tế. Trong một thế giới tùy thuộc lẫn nhau, tự chủ thực tế thường được tạo ra bằng cách đa dạng hóa những sự phụ thuộc, tăng cường năng lực trong nước và ngăn bất kỳ quan hệ đơn lẻ nào trở thành không thể thay thế.
Điều này đặc biệt quan trọng trong quan hệ với các cường quốc. Một quốc gia nhỏ hoặc tầm trung thông thường không thể đối xứng với họ về sức mạnh vật chất, nhưng bất đối xứng về năng lực trong lĩnh vực này hay lĩnh vực khác không nhất thiết phải trở thành lệ thuộc toàn diện. Một phần mất cân đối có thể được bù đắp bằng luật pháp quốc tế, quan hệ đối tác, mạng lưới kinh tế, địa lý chiến lược và trên hết là nội lực của xã hội. Năng lực của một quốc gia càng lớn, các quan hệ đáng tin cậy càng rộng, thì cái giá mà bên ngoài phải trả để ép quốc gia ấy vào một lựa chọn không mong muốn càng cao.
Vì vậy, “không chọn phe” chỉ phát huy giá trị cao nhất khi dựa trên khả năng lựa chọn tự do và rộng rãi. Nếu một quốc gia không thể từ chối một yêu cầu, thay thế một nhà cung cấp, chuyển đổi một thị trường, bảo vệ một lợi ích hoặc chịu đựng sức ép ngắn hạn, thì ngôn ngữ cân bằng có thể chỉ che giấu một sự lệ thuộc chưa được gọi tên. Tự chủ không nằm ở việc duy trì khoảng cách ngôn từ ngang bằng với mọi cường quốc; nó nằm ở số lượng và chất lượng những phương án thực sự còn sẵn có khi khủng hoảng ập đến.
Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc minh họa đặc biệt rõ những giới hạn của lối cân bằng giản đơn. “Quan hệ tổng trì” giữa hai nước xuyên qua chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, chuỗi cung ứng và địa lý. Không thể quản trị quan hệ ấy bằng cách tìm cách “thoát” Trung Quốc, nhưng cũng không nên để độ sâu của quan hệ trao cho Trung Quốc quyền phủ quyết những lựa chọn chiến lược của Việt Nam. Vì thế, thách thức không phải là xác định một mức độ gần hay xa Trung Quốc mang tính tuyệt đối, mà là duy trì một quan hệ cần thiết mà không đánh mất khả năng nói “không” khi lợi ích quốc gia đòi hỏi.
Nguyên tắc tương tự cũng cần áp dụng cho cả Hoa Kỳ lẫn các đối tác phương Tây khác. Quan hệ sâu hơn với họ có thể đem lại thị trường, công nghệ, giáo dục, vốn và không gian chiến lược rộng hơn, nhưng không quan hệ đối tác bên ngoài nào có thể thay thế việc xây dựng nội lực. Nếu một cường quốc ở xa chủ yếu được xem là phương tiện thoát khỏi sức ép của một cường quốc ở gần, thì Việt Nam chỉ đổi một tâm thế lệ thuộc này lấy một tâm thế lệ thuộc khác. Sự bảo đảm bền vững hơn cho các nước nhỏ và tầm trung không nằm ở việc tìm được một người bảo trợ hoàn hảo, mà ở khả năng khiến nhiều đối tác có lợi ích gắn với sự ổn định, độc lập và thành công của mình.
Tuy nhiên, đối tác bên ngoài chỉ tạo nên một nửa của tự chủ. Nửa còn lại nằm trong chính chủ thể hành động có ý thức về mục đích của mình. Một xã hội không thể nghe những thông tin không thuận tai, một hệ thống hành chính không thể sửa chính sách trước khi cái giá trở nên quá lớn, hay một nền kinh tế để nguồn lực mắc kẹt quá lâu trong những lĩnh vực kém hiệu quả – tất cả đều làm giảm năng lực hành động kiến tạo của quốc gia. Vì vậy, mong muốn có tự chủ chiến lược cuối cùng lại đưa chúng ta về với chất lượng thể chế trong nước, năng lực tổ chức và khả năng tự sửa sai của một cộng đồng chính trị. Kết hợp lại, những yếu tố ấy tạo nên quá trình Trưởng thành và Khai mở được “nội hóa hóa” trong đời sống tâm lý–xã hội của cộng đồng.
Để đạt được kết quả ấy còn phải chống lại một cám dỗ khác: đồng nhất tên gọi của một mô hình thể chế với kết quả thực tế của nó. So sánh Hoa Kỳ, Trung Quốc, Việt Nam, Singapore hay các nước Bắc Âu đôi khi dẫn tới một câu hỏi hữu ích hơn là chỉ dán những nhãn gọi “tư bản” hoặc “cộng sản”: quyền lực và của cải nối kết với nhau qua những cơ chế nào, ai kiểm soát sự nối kết ấy và cuối cùng ai được hưởng thành quả tăng trưởng? Nhưng đó cũng chỉ là một chiều kích. Nó không thể thay thế việc đặt những câu hỏi thấu đáo về pháp quyền, quyền công dân, trách nhiệm giải trình hay khả năng thay đổi chính sách. Không hệ thống chính trị nào có thể được đánh giá chỉ bằng danh nghĩa và hình thức, hoặc chỉ bằng tốc độ tăng trưởng.
Điều cần giữ lại từ những so sánh trên đây là một nguyên tắc đơn giản: tự thân không nhãn hiệu ý thức hệ nào bảo đảm quản trị tốt hay kết quả tốt. Điều quan trọng hơn là các thiết chế cụ thể có ngăn được cơ cấu quyền lực và lợi ích tư gắn chặt lâu dài với nhau hay không; có tồn tại cơ chế sửa đổi chính sách hay không; và phát triển có mở rộng khả năng sống, sáng tạo và lựa chọn của những người dân bình thường hay không. Một xã hội có thể thay khẩu hiệu nhiều lần trong khi cấu trúc vận hành bên dưới hầu như vẫn nguyên vẹn.
Vì thế, Khai mở đối với người Việt không nên được hiểu là đi tìm mô hình nhập khẩu tiếp theo. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, các nước Bắc Âu và Hoa Kỳ đều có thể đem lại những kinh nghiệm đáng nghiên cứu, nhưng mỗi thành công đều nảy sinh từ một lịch sử, cấu trúc xã hội và môi trường địa chính trị riêng. Học hỏi chỉ hữu ích khi Việt Nam có thể nhận ra và thấu hiểu những nguyên lý có thể tiếp thu từ các mô hình nước ngoài, đồng thời hiểu rằng không thể đơn giản sao chép rồi khắc chúng vào tâm hồn Việt.
Theo nghĩa ấy, tự chủ chiến lược không phải một trạng thái đạt được một lần rồi vĩnh viễn được bảo đảm. Đó là một quá trình liên tục tạo thêm lựa chọn và giảm những điểm mà ở đó người khác có thể quyết định thay mình. Có khi điều đó đòi hỏi thêm một đối tác; có khi là một công nghệ mới; có khi là thể chế tốt hơn; và có khi là khả năng thừa nhận rằng một chính sách từng hữu ích đã đi tới giới hạn.
Một dân tộc trưởng thành không chứng tỏ sức mạnh bằng việc không bao giờ đổi hướng. Sức mạnh còn nằm ở chỗ biết khi nào nên tiếp tục, khi nào cần điều chỉnh và khi nào phải tìm một con đường khác.
Điều này đưa Khai mở vào cuộc đối thoại với một vấn đề cổ xưa chưa bao giờ mất tính thời sự: địa lý có thể tạo ra thế – một cấu hình của thực tại; con người có thể đề ra mưu – những tính toán lớn – và kế – những phương án cụ thể; nhưng lịch sử chỉ mở cửa khi một cộng đồng nhận ra thời – những thực tế của thời cuộc.
Đây là lúc cần nhớ lại tư duy của tướng Hoàng Minh Thảo.
22. TỪ THẾ ĐẾN THỜI
Trong tư duy chiến lược Việt Nam, thế là một khái niệm đặc biệt giàu ý nghĩa. Nhìn ra Bạch Đằng, Nguyễn Trãi thấy núi sông có thể tạo nên một cấu hình thuận lợi, nhưng địa hình tự nó không thể làm nên lịch sử. Câu thơ thứ hai của ông đặt năng lực hành động của con người vào trung tâm: những anh hùng đã từng làm nên danh tiếng tại nơi ấy. Thiên nhiên tạo ra thế; con người nhận ra thế, sử dụng thế và, trong những thời khắc đặc biệt, biến đổi các quan hệ từng tưởng như cố định.
Nhiều thế kỷ sau, vị tướng–học giả Hoàng Minh Thảo diễn đạt cô đọng logic chiến lược ấy bằng bốn khái niệm gắn bó với nhau: Mưu – Kế – Thế – Thời. Mưu là tầm nhìn chiến lược – nhìn thấy điều người khác chưa thấy. Kế chuyển tầm nhìn thành một đường hướng hành động. Thế là cấu hình lực lượng và điều kiện đã được tạo dựng hoặc tích lũy. Thời là thời điểm những yếu tố ấy hội tụ và làm cho chuyển đổi trở nên khả thi. Không yếu tố nào đứng riêng. Cơ hội thiếu thế thuận có thể trôi qua mà không được tận dụng; vị thế thuận lợi thiếu chiến lược có thể bị lãng phí; và ngay cả kế hoạch tinh vi nhất cũng sẽ thất bại nếu đọc sai những giới hạn và thời điểm của hoàn cảnh.
Vận dụng “Mưu – Kế – Thế – Thời” trong thế kỷ XXI không có nghĩa là chuyển kinh nghiệm quân sự thành một học thuyết phát triển quốc gia. Giá trị sâu hơn của nó nằm ở cách nhìn lịch sử như “trường tương tác hay là sự tích hợp của nhiều yếu tố” (field theory). Hoàn cảnh tạo ra những ràng buộc, nhưng không quyết định mọi kết quả. Con người có thể tích lũy năng lực để thay đổi tương quan, và phải đủ tỉnh táo để nhận ra khi một cửa sổ cơ hội đang mở. Ở đây, trí tuệ chiến lược truyền thống của Việt Nam gặp những đòi hỏi của một Việt Nam đang đối diện với thế giới chuyển đổi.
Việt Nam ngày nay sở hữu một số yếu tố của “thế”. Địa lý đặt Việt Nam ở giao điểm giữa Đông Á lục địa và Đông Nam Á biển; một nền kinh tế có độ mở cao nối Việt Nam với nhiều mạng lưới sản xuất; quan hệ quốc tế đã mở rộng đáng kể; và dân số đang vượt trăm triệu người tạo ra một thị trường cùng nền tảng nhân lực lớn. Cạnh tranh giữa các trung tâm quyền lực cũng làm tăng giá trị chiến lược của những nước có thể kết nối các mạng lưới khác nhau mà không bị sáp nhập hoàn toàn vào một khối duy nhất.
Tuy nhiên, có được một phần “thế” không có nghĩa là đã có đủ sức mạnh, càng không có nghĩa là đã tận dụng đúng “thời”. Một nhà máy chuyển tới Việt Nam có thể phản ánh quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng, nhưng chỉ trở thành sức mạnh quốc gia bền vững nếu doanh nghiệp và người lao động Việt Nam hấp thụ được công nghệ của nó. Một quan hệ đối tác được nâng cấp có thể mở ra một cánh cửa, nhưng giá trị cuối cùng tùy thuộc vào những gì đi qua cánh cửa ấy. Cạnh tranh giữa các cường quốc có thể làm tăng tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam, nhưng cũng có thể gia tăng sức ép nếu đất nước thiếu năng lực xử lý những đòi hỏi xung đột.
Vì thế, không nên hiểu “thời” như một món quà do lịch sử ban tặng. Một thời điểm thuận lợi chỉ thực sự trở thành thời cơ đối với chủ thể đã sẵn sàng nhận ra và sử dụng nó. Có những quốc gia gặp hoàn cảnh quốc tế thuận lợi rồi chỉ đứng nhìn nó trôi qua, vì thể chế không chuyển động, giáo dục không theo kịp, doanh nghiệp không trưởng thành, hoặc nhà nước không thể chuyển quyết định thành hành động. Những xã hội khác lại sử dụng những khoảng thời gian tương đối ngắn để tích lũy các năng lực nâng đỡ mình trong nhiều thập niên.
Một lần nữa, có thể đọc ngược cảnh báo của Walt về “những vũng lầy chiến lược”. Nếu thiếu hiểu biết, tư duy bầy đàn, tư vấn một chiều và tự tin thái quá có thể khiến một quốc gia không nhận ra mình đang đi sai hướng, thì năng lực chiến lược phải bao gồm khả năng xem xét lại các giả định, lắng nghe những tín hiệu không thuận tai và thay đổi trước khi cái giá của sai lầm trở nên quá sức chịu đựng. Nhận ra “thời”, vì vậy, không chỉ là biết khi nào nên tiến. Đôi khi, đó là nhận ra một thời đã qua và một thời mới đã đến thay thế, mang theo những cạm bẫy mới và những cơ hội mới.
Khả năng phán đoán đúng thời cuộc đặc biệt quan trọng trong những giai đoạn chuyển đổi. Nhiều thất bại lịch sử không bắt đầu từ một lựa chọn sai. Một chính sách hay một quyết định có thể đã phù hợp ở thời điểm ấy; một mô hình quản trị có thể từng tạo động lực; một thiết chế có thể từng giải quyết được vấn đề riêng của hoàn cảnh lúc bấy giờ. Khó khăn bắt đầu khi thành công trong một giai đoạn được biến thành bằng chứng rằng cùng một lựa chọn phải mãi mãi là đường hướng đúng. Khi ấy, kinh nghiệm đông cứng thành quán tính, rồi quán tính tự nâng mình lên thành nguyên tắc.
Không mô hình phát triển nào được miễn khỏi phép thử này. Cuộc chuyển đổi công nghệ đang diễn ra là một ví dụ. AI có thể giúp các nước còn dưới những chuẩn mực năng lực hiện đại tiếp cận tri thức nhanh hơn, nâng năng suất và bước vào những lĩnh vực trước đây chưa từng mở ra với họ. Nhưng AI cũng có thể nới rộng khoảng cách giữa những xã hội tạo ra công nghệ và những xã hội chỉ tiêu dùng công nghệ. Vì vậy, cái “thời” của AI – thách thức đối với sự hiện hữu và vai trò chủ thể ở thời điểm này của lịch sử nhân loại – không nằm ở chuyện ai sử dụng chatbot trước. Điều quan trọng hơn nhiều là ai có thể chuyển công nghệ mới thành năng lực con người, doanh nghiệp và quốc gia, trong khi vẫn giữ được khả năng phán đoán độc lập.
Điều tương tự cũng đúng với địa kinh tế. Sự phân mảnh của thương mại và công nghệ, các điểm nghẽn chiến lược, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng và nhu cầu đa dạng hóa sản xuất đang tạo ra những cơ hội cho Việt Nam mà trong một cục diện toàn cầu khác có thể không tồn tại. Nhưng những cơ hội ấy sẽ không mở ra mãi. Các nước khác cũng nhìn thấy chúng; công nghệ có thể làm thay đổi những lợi thế hiện có về chi phí lao động; các chuỗi cung ứng rồi sẽ xác lập những trạng thái cân bằng mới. Nếu Việt Nam chỉ hưởng lợi từ quyết định dịch chuyển của người khác mà không dùng giai đoạn này để xây dựng năng lực của mình, thì “thời” sẽ qua trước khi một “thế” mới của Việt Nam được tạo dựng.
Bởi vậy, “Mưu – Kế – Thế – Thời” đưa chúng ta trở về một câu hỏi bên trong: Việt Nam có thể suy nghĩ đủ xa, tổ chức hành động đủ hiệu quả và tự sửa sai đủ nhanh hay không? “Mưu” mà thiếu tổ chức vẫn chỉ là ý tưởng; “kế” thiếu thực thi vẫn chỉ là lời nói; “thế” thiếu nội lực có thể trở thành điểm yếu, thành bất lợi để người khác khai thác; còn “thời” thiếu một chủ thể tỉnh táo, tự tin và có khả năng lựa chọn sáng suốt thì chỉ trở thành cơ hội được nhớ lại trong những tiếc nuối sau khi đã mất.
Nếu “lời nguyền địa lý” là điều Việt Nam không thể lựa chọn, thì “Mưu – Kế – Thế – Thời” biểu thị những chiều kích của sức mạnh và thành công mà trong đó năng lực hành động của con người có thể phát huy. Địa lý trao một vị trí; lịch sử trao những hoàn cảnh; thế giới có thể mang tới cơ hội. Tương lai nào sẽ hình thành từ những điều ấy vẫn là trách nhiệm của chính người Việt.
23. KHAI MỞ KHÔNG PHẢI ĐI TÌM CON ĐƯỜNG CÓ SẴN
Mỗi khi đứng trước một bước ngoặt lớn của lịch sử, con người thường có khuynh hướng tự nhiên là tìm một mô hình đã thành công ở nơi khác. Một con đường đã có người đi dường như an toàn hơn một miền đất chưa có bản đồ.
Robert Frost – người được Tổng thống John F. Kennedy mời đọc thơ tại lễ nhậm chức khi nhà thơ ngoại bát tuần – đã gợi lên nỗi phân vân của con người trước hai lối rẽ giữa rừng thu. Không thể đi một lúc cả hai lộ trình. Đường xa chập chùng nối tiếp, cơ hội trở lại có khi không còn nữa. Nhưng nhiều năm sau, người lữ khách ngoảnh nhìn và kể lại câu chuyện lựa chọn thuở ấy đã làm nên sự khác biệt. Với câu chuyện Khai mở, tứ thơ này gợi một suy ngẫm: trưởng thành là dám lựa chọn giữa bất toàn và nhận lấy trách nhiệm về con đường mình đã quyết.
Suốt lịch sử Việt Nam hiện đại, các thế hệ nối tiếp nhau cũng từng đứng giữa lối rẽ, và nhìn ra bốn phương để tìm câu trả lời: từ công cuộc cải cách của Nhật Bản, những học thuyết cách mạng từ châu Âu, kinh nghiệm Liên Xô và Trung Quốc, các mô hình phát triển Đông Á, Singapore và Hàn Quốc, cho tới những nền dân chủ phương Tây…
Mỗi cuộc tìm kiếm ấy diễn ra trong những điều kiện lịch sử cụ thể, và mỗi cuộc tìm kiếm đều để lại những trải nghiệm cần được đánh giá công bằng. Những tư tưởng từng mở ra khả năng giải phóng về sau có thể bộc lộ giới hạn; những mô hình tạo ra phát triển trong một xã hội không thể đơn giản cấy ghép sang xã hội khác. Lịch sử không phủ nhận giá trị của những lựa chọn trước đây chỉ vì hoàn cảnh đã thay đổi. Nhưng lịch sử cũng không cho phép một lựa chọn từng có giá trị trở thành câu trả lời vĩnh viễn.
Đây có lẽ là bài học quan trọng nhất khi Việt Nam bước vào một cục diện toàn cầu mà ngay cả các cường quốc cũng chưa biết hình dạng cuối cùng của nó. Nếu tương lai chưa định hình, thì không thể có một mô hình hoàn hảo đang đợi Việt Nam ở cuối đường. Hoa Kỳ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và các nước Bắc Âu đều có những thành tựu cũng như những vấn đề riêng. Học hỏi họ là cần thiết; biến bất kỳ ai trong số đó thành bản thiết kế cuối cùng cho Việt Nam lại đồng nghĩa với từ bỏ trách nhiệm tự suy nghĩ.
Bởi vậy, Khai mở khác với đơn thuần mở cửa. Mở cửa chủ yếu là tháo bỏ những rào cản ngăn một xã hội giao tiếp với thế giới bên ngoài. Khai mở đi xa hơn. Nó đòi hỏi một xã hội có khả năng tiếp nhận cái mới mà không mất năng lực phán đoán, học hỏi người khác mà không trở thành bản sao của họ, và thay đổi mà không phải phủ nhận tất cả những gì đã làm nên chính mình.
Góc nhìn này cũng cho phép nhìn những tranh luận ý thức hệ của thế kỷ XX từ một khoảng cách rộng hơn. Những nhãn gọi như “cộng sản”, “tư bản”, “xã hội chủ nghĩa” và “thị trường tự do” từng chia thế giới thành những phe tưởng như không thể dung hòa. Trong thế kỷ XXI, cách các xã hội thực sự vận hành phức tạp hơn nhiều so với điều những nhãn gọi ấy gợi ra. Nhà nước có thể can thiệp sâu vào một nền kinh tế thị trường; doanh nghiệp tư nhân có thể phát triển mạnh dưới một hệ thống tự nhận là xã hội chủ nghĩa; các nền dân chủ cũng có thể chật vật trước sự tập trung của cải và ảnh hưởng của tiền bạc đối với chính trị.
Điều đó không có nghĩa là ý thức hệ, cấu trúc hiến định hay quyền chính trị đã hết quan trọng. Trái lại, chính vì các nhãn gọi không đủ để giải thích chất lượng của một xã hội, chúng ta càng phải nhìn kỹ vào những thiết chế cụ thể: quyền lực bị giới hạn như thế nào, pháp luật được áp dụng ra sao, của cải và cơ hội được tạo ra bằng cách nào, công dân có thể buộc người cầm quyền chịu trách nhiệm hay không, và hệ thống có thể phát hiện, sửa chữa sai lầm trước khi chúng trở thành khủng hoảng hay không. Một xã hội không trở nên tốt đẹp chỉ vì tự đặt cho mình một cái tên đáng ngưỡng mộ.
Nhìn trên chiều dài lịch sử, điều này còn đòi hỏi một sự khiêm nhường nhất định. Những triều đại từng có vẻ là khuôn khổ bền vững của quốc gia cuối cùng đều trở thành những chương của quá khứ; những trật tự quốc tế từng được xem là vĩnh viễn cũng lần lượt biến đổi. Không có lý do gì để cho rằng một hệ hình chính trị hiện đại nào đó đứng ngoài điều kiện lịch sử ấy. Quốc gia tồn tại lâu hơn mọi triều đại, và một dân tộc tồn tại lâu hơn mọi học thuyết từng tuyên bố nhân danh mình.
Thừa nhận tính hữu hạn của các hệ hình chính trị không có nghĩa là chờ đợi sự sụp đổ của một hệ thống cụ thể, càng không phải cố tiên đoán khi nào lịch sử sẽ ngoặt hướng. Câu hỏi hữu ích hơn là một dân tộc phải phát triển những năng lực nào để, bất kể thay đổi cuối cùng diễn ra dưới hình thức gì, dân tộc ấy cũng không mất khả năng quyết định tương lai của mình. Nếu lịch sử liên tục dạy một điều, thì đó là những xã hội chỉ chuẩn bị để bảo tồn cái đang tồn tại thường chính là những xã hội bất ngờ nhất khi các khuôn khổ hiện hữu không còn giải quyết được những vấn đề mới.
Vì vậy, trước hết Khai mở phải có nghĩa là mở rộng trường lựa chọn. Một nền kinh tế có nhiều nguồn cung hơn sẽ ít dễ bị cưỡng ép hơn; một quốc gia có nhiều đối tác hơn sẽ có không gian ngoại giao rộng hơn; một xã hội có nhiều nguồn tri thức và nhiều tiếng nói đa dạng hơn sẽ có khả năng phát hiện sai lầm sớm hơn. Cùng một logic nối liền địa kinh tế, công nghệ, thể chế và văn hóa: năng lực thực chất càng lớn, số phương án càng nhiều; số phương án càng nhiều, tương lai càng ít có nguy cơ bị quyết định bởi một lựa chọn duy nhất không còn lối thoát.
Có thể nhìn trí tuệ nhân tạo dưới cùng ánh sáng ấy. Câu hỏi cuối cùng không phải máy móc sẽ thông minh đến đâu, mà là con người có giữ được trách nhiệm đối với những quyết định được đưa ra với sự hỗ trợ của máy móc hay không. Công nghệ càng mạnh, câu hỏi về chủ thể con người càng cấp bách. Nếu con người sử dụng AI để mở rộng tri thức và năng lực phán đoán, AI có thể trở thành một công cụ của Khai mở. Nếu họ tự nguyện trao lại cho nó quyền phán đoán và trách nhiệm, thì một công nghệ giúp tăng năng lực có thể trở thành một hình thức lệ thuộc mới.
Các quốc gia cũng vậy. Một cường quốc có thể giúp Việt Nam về thị trường, công nghệ hoặc an ninh; một mạng lưới quốc tế có thể tạo ra những cơ hội mà Việt Nam không thể tự mình tạo ra; một học thuyết có thể cung cấp những khái niệm hữu ích để hiểu thế giới. Nhưng đối tác, mạng lưới và học thuyết phải mở rộng năng lực lựa chọn của Việt Nam, chứ không thay thế Việt Nam trong vai trò chủ thể đưa ra lựa chọn.
Ở đây, hình ảnh “giọt nước” Việt Nam trở lại. Giọt nước không thể ra lệnh cho đại dương, cũng không thể giả vờ rằng những dòng chảy lớn không tồn tại. Nhưng nó cũng không nhất thiết phải đánh mất hình hài hay lịch sử của mình. Trưởng thành là biết mình thuộc về một thế giới lớn hơn mình. Khai mở là bước vào thế giới ấy với năng lực tiếp nhận, kết nối và lựa chọn mà không hòa tan trong đó.
Vì thế, hành trình từ Trường tồn tới Khai mở không kết thúc bằng việc tìm ra một đại lộ đã được người khác vạch sẵn. Nếu thế kỷ XX nhiều lần đặt người Việt trước câu hỏi phải đi theo con đường nào, thì thế kỷ XXI đòi hỏi một năng lực khó hơn: khảo sát nhiều con đường, nhận ra khi một con đường đã tới giới hạn, và có khả năng mở một lối mới khi những tấm bản đồ cũ không còn chỉ về tương lai; tự làm nên con đường của mình qua những năm tháng sắp tới.
Đây là nơi Khai mở không còn chủ yếu là câu hỏi về môi trường bên ngoài, mà trở thành câu hỏi người Việt là ai: một đối tượng trong tay người khác, hay một tác giả có đủ quyền năng để tự viết và tự dàn dựng vở diễn của mình, một vở diễn xứng đáng được lịch sử tán thưởng?
Vì vậy, Phần tiếp theo sẽ không còn chủ yếu hỏi thế giới đang đi về đâu. Nó phải hỏi: Người Việt cần trở thành một chủ thể hành động tập thể như thế nào để sống trong một tương lai chưa thể biết trước, mà không trao cho người khác quyền quyết định tương lai ấy sẽ mang đến những gì?
Đấy cũng là nội dung của phần cuối.
PHẦN V: TÂN ĐẠO VIỆT : TỪ NĂNG LỰC ĐẾN KIẾN TẠO TƯƠNG LAI
Một phiên bản Anh ngữ của Kỳ 4 có thể đọc tại đây
———————–
TS. Đinh Hoàng Thắng
Tài liệu tham khảo cho PHẦN IV
- Nguyễn Trãi, Ức Trai thi tập, đặc biệt bài “Bạch Đằng hải khẩu”. Nguồn nay làm cơ sở cho mạch tư tưởng được triển khai trong các mục 18 và 22: “Trời tạo thế, con người làm nên lịch sử”.
- Trần Quốc Vượng, Việt Nam, cái nhìn địa-văn hóa, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998. Đây là một nguồn tham khảo cho Phần IV: không gian địa–văn hóa của Việt Nam, quan hệ giữa tính đặc thù của Việt Nam với khu vực và thế giới rộng lớn hơn, cùng cơ sở khái niệm cho hình ảnh “giọt nước Việt Nam trong đại dương — và đại dương trong giọt nước”.
- Hoàng Minh Thảo, các công trình và bài giảng về nghệ thuật quân sự và tư duy chiến lược Việt Nam, đặc biệt khung khái niệm “Mưu – Kế – Thế – Thời” — nguồn trực tiếp cho mục 22.
- Lê Hồng Hiệp và Anton Tsvetov (chủ biên), Vietnam’s Foreign Policy under Doi Moi [Chính sách đối ngoại Việt Nam thời Đổi mới], ISEAS–Yusof Ishak Institute, Singapore, 2018.
- Nicholas Chapman, “Vietnamese Foreign Policy in the Post-Doi Moi Era: A Case for Strategic Autonomy” [Chính sách đối ngoại Việt Nam thời hậu Đổi mới: Luận cứ cho tự chủ chiến lược], TRaNS: Trans-Regional and -National Studies of Southeast Asia, Cambridge University Press, 2026. Nguồn này liên quan trực tiếp tới mục 21 về tự chủ chiến lược, đa phương hóa, đa dạng hóa và xây dựng các mạng lưới quan hệ nhằm bảo vệ chủ quyền, duy trì không gian phát triển.
- ASEAN, ASEAN Outlook on the Indo-Pacific [Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương], 2019 — đặc biệt liên quan tới lập luận không giản lược Ấn Độ Dương–Thái Bình Dương thành bàn cờ lưỡng cực Mỹ–Trung, đồng thời giữ vai trò quan trọng của kết nối, hợp tác và ASEAN trong cấu trúc khu vực.
- Marty Natalegawa, Does ASEAN Matter? A View from Within [ASEAN có quan trọng không? Góc nhìn từ bên trong], ISEAS–Yusof Ishak Institute, 2018 — bổ sung góc nhìn Đông Nam Á về năng lực chủ thể của các quốc gia và khu vực, thay vì chỉ nhìn thế giới từ Washington hoặc Bắc Kinh.
- Henry Farrell và Abraham L. Newman, “Weaponized Interdependence: How Global Economic Networks Shape State Coercion” [Vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau: Các mạng lưới kinh tế toàn cầu định hình sức mạnh cưỡng ép của nhà nước như thế nào], International Security, 44(1), 2019, tr. 42–79. Một trong những nguồn trụ cột mới cho mục 19: mạng lưới bất đối xứng, trung tâm kết nối, điểm nghẽn và khả năng biến sự phụ thuộc lẫn nhau thành quyền lực.
- Henry Farrell và Abraham Newman, Underground Empire: How America Weaponized the World Economy [Đế chế ngầm: Hoa Kỳ đã vũ khí hóa nền kinh tế thế giới như thế nào], Henry Holt, 2023.
- Sebastian Contin Trillo-Figueroa, “The Reshaping of Global Trade as EU, China and US Shift to Enforcement” [Thương mại toàn cầu được tái định hình khi EU, Trung Quốc và Hoa Kỳ chuyển trọng tâm sang thực thi], Nikkei Asia, tháng 9/2026 — một nguồn mới đặc biệt có giá trị cho mục 19: sự phân nhánh ba, sự chồng lấn của ba không gian pháp lý–kinh tế và tính chất ngày càng mang tính cưỡng chế, địa kinh tế của thương mại quốc tế.
- Richard Baldwin, The Great Convergence: Information Technology and the New Globalization [Cuộc hội tụ lớn: Công nghệ thông tin và toàn cầu hóa mới], Harvard University Press, 2016 — về sự phân tách sản xuất xuyên biên giới, công nghệ thông tin và logic đang thay đổi của các chuỗi giá trị toàn cầu.
- Dani Rodrik, The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy [Nghịch lý toàn cầu hóa: Dân chủ và tương lai kinh tế thế giới], W. W. Norton, 2011 — đặc biệt liên quan tới câu hỏi xuyên suốt các mục 20–23: hội nhập có thể đi xa tới đâu trong khi vẫn giữ được không gian chính sách quốc gia và năng lực lựa chọn?
- Albert O. Hirschman, The Strategy of Economic Development [Chiến lược phát triển kinh tế], Yale University Press, 1958 — một nguồn kinh điển vẫn hữu ích cho việc suy nghĩ về các mối liên kết, điểm nghẽn, năng lực nội sinh và phát triển không cân đối, đặc biệt ở bước chuyển từ mục 19 sang mục 20.
- Ngân hàng Thế giới, Viet Nam 2045: Trading Up in a Changing World – Pathways to a High-Income Future [Việt Nam 2045: Nâng tầm thương mại trong một thế giới thay đổi — Những con đường hướng tới tương lai thu nhập cao], 2024 — nguồn thực chứng quan trọng cho mục 20: Việt Nam cần chuyển sang các hoạt động có giá trị cao hơn thông qua công nghệ, kỹ năng và đổi mới, thay vì bằng lòng với vị trí hiện tại trong các chuỗi cung ứng toàn cầu.
- Ngân hàng Thế giới, Viet Nam 2045: Breaking Through – Institutions for a High-Income Future [Việt Nam 2045: Bứt phá — Thể chế cho một tương lai thu nhập cao], 2025 — tập trung vào thể chế thay vì chuỗi giá trị. Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh cải cách thể chế sâu hơn, môi trường pháp lý và quản lý, cùng hiệu quả đầu tư công.
- Stephen M. Walt, “Top Signs You’re Heading for a Quagmire” [Những dấu hiệu chủ yếu cho thấy bạn đang tiến vào một vũng lầy], Foreign Policy, tháng 9/2026: liên quan tới các mục 20 và 22: thiếu hiểu biết → tư vấn sai → tư duy bầy đàn → tự tin thái quá → uy tín đã đặt cược. Đối với TĐV, vấn đề cốt yếu không phải bản thân “vũng lầy”, mà là khả năng phát hiện sai lầm, cắt giảm tổn thất và tự sửa sai.
- Parag Khanna, Connectography: Mapping the Future of Global Civilization [Địa lý kết nối: Vẽ bản đồ tương lai của văn minh toàn cầu], Random House, 2016 — được giữ lại cho mục 19, đặc biệt cho bước chuyển từ địa lý lãnh thổ sang kết nối, nhưng không biến “địa lý kết nối” thành lý thuyết trung tâm của TĐV.
- Tô Văn Trường, “AI: Nỗi lo của thế giới giàu, cơ hội của Việt Nam?”, 2026. Một bài bình luận/trường hợp nghiên cứu của Việt Nam cho các mục 20 và 23: “đi nhanh, nhưng không đi mù”, từ sử dụng AI tới năng lực làm chủ công nghệ và cuối cùng là câu hỏi về năng lực phán đoán của con người. Những nhận định cụ thể về chính sách trong bài cần được đối chiếu với văn bản chính thức.
- Chính phủ Việt Nam, Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, 2026 — nguồn sơ cấp cho phần thảo luận về AI. Văn bản chính sách chính thức được ưu tiên hơn việc bổ sung một nguồn báo chí thứ hai về AI.
- Joseph S. Nye Jr., The Future of Power [Tương lai của quyền lực], PublicAffairs, 2011 — cung cấp khung rộng hơn để hiểu sự thay đổi bản chất quyền lực trong một thế giới mà quyền lực không còn có thể được đồng nhất chỉ với lãnh thổ và năng lực quân sự.



